A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để phát huy tính tích cực, chủ động của người học - một trong những nguyên tắc
quan trọng của giáo dục, nhất là đối với yêu cầu của giáo dục hiện nay. Tại điều 5 Luật
giáo dục đã xác định về phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học như sau:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của
người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Tại điều 28
của Luật giáo dục cũng đã quy định: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh”.
Từ thực tế nhiều năm trở lại đây việc dạy và học bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông
không còn “mặn mà” như trước đây. Người dạy ít có cảm xúc, niềm say mê; người học ít
có khả năng sáng tạo và hứng khởi trong quá trình tiếp nhận.
Ở trường phổ thông, mỗi môn học đều có những phương pháp và phương tiện dạy học
riêng, phù hợp với đặc trưng yêu cầu của bộ môn. Trong đó, Ngữ văn là môn học có nhiều
ưu thế trong việc góp phần đào tạo ra những công dân tích cực mà mục tiêu giáo dục đã đề
ra. Vai trò của môn Ngữ văn thể hiện ở chỗ nó có khả năng bồi dưỡng cho học sinh những
tri thức phong phú về thế giới nội tâm đầy biến động, phức tạp; mọi hiện tượng đang diễn
ra trước mắt và những kĩ năng, kĩ xảo hết sức cần thiết trong cuộc sống. Để tích cực hóa
hoạt động nhận thức của học sinh và nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông, có thể sử dụng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, trong đó việc sử dụng hệ
thống câu hỏi đọc hiểu là một biện pháp khá quan trọng và rất cần được quan tâm sử dụng.
Sở dĩ là vì việc sử dụng hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong dạy học có thể phát huy được
những ưu điểm của phương pháp dạy học hiện đại là làm cho học sinh phải tự nỗ lực hoạt
động để tìm tòi, khám phá những tri thức mới qua văn bản (sau đây gọi chung là ngữ liệu)
dưới sự hướng dẫn của giáo viên, qua đó hình thành cho học sinh kĩ năng Ngữ văn và thái
độ tích cực đối với bộ môn này.
Hơn nữa, đối với học sinh lớp 12, các em đang đứng trước kì thi quan trọng nhất của
cuộc đời học sinh – kì thi THPT Quốc gia. Ở lứa tuổi này, các em đã phát triển tương đối
khả thi cao.
3. Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi và giá trị sử dụng của
đề tài
3.1. Mục đích, đối tượng :
a. Mục đích :
- Hướng dẫn giáo viên trong quá trình giảng dạy cần bám sát ngữ liệu cũng như nội
dung đổi mới và học sinh trong quá trình tiếp thu bài học, định hướng cách giải quyết ngữ
liệu, kiểm tra kiến thức...
2
- Góp phần nâng cao kết quả dạy học của giáo viên; kết quả học tập của học sinh,
nhất là kết quả các bài kiểm tra, đánh giá.
b. Đối tượng nghiên cứu :
- Giáo viên trong việc giảng dạy.
- Học sinh trong việc học tập.
3.2. Nhiệm vụ :
- Nghiên cứu việc sử dụng hệ thống ngữ liệu phần đọc hiểu giúp học sinh ôn thi tốt
kỳ thi THPT Quốc gia.
- Đưa ra hệ thống ngữ liệu và giải quyết các câu hỏi phần đọc hiểu qua thực tế kiểm
nghiệm của bản thân trong quá trình thực hiện đổi mới dạy học.
- Định hướng giải quyết một số câu hỏi đã nêu ra đối với mỗi ngữ liệu trong đề tài.
3.3. Phạm vi của đề tài:
- Ngữ liệu được đưa ra là các trích đoạn trong các tác phẩm ở chương trình Ngữ
văn12, học kỳ I (Ban cơ bản).
- Giới hạn trong hệ thống câu hỏi đọc hiểu.
3.4. Giá trị sử dụng của đề tài:
- Đề tài dùng ứng dụng trực tiếp cho công việc dạy học của giáo viên Ngữ văn nói
chung, Ngữ văn 12 nói riêng trong hệ thống giáo dục phổ thông và đặc biệt dùng làm tài
liệu tham khảo trong việc học tập của học sinh lớp 12 ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng –
2.1 Nguyên tắc xây dựng ngữ liệu phần đọc hiểu Ngữ văn 12 kỳ thi THPT Quốc
gia
- Xây dựng câu hỏi tái hiện kiến thức phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài
học
Câu hỏi tái hiện kiến thức phải được xây dựng dựa trên mục tiêu bài học về kiến thức,
kĩ năng, thái độ. Câu hỏi tái hiện kiến thức là một biện pháp để học sinh thực hiện nhằm
đạt được mục tiêu đó. Việc xây dựng câu hỏi tái hiện kiến thức phải giúp học sinh đạt
được mục tiêu này thì nó mới có giá trị thực tiễn.
Nội dung của câu hỏi tái hiện kiến thức phải được xây dựng trên nội dung bài học.
Câu hỏi tái hiện kiến thức phải giúp học sinh khai thác và nắm bắt được những nội dung
cơ bản của tác phẩm. Cần chọn những chi tiết, sự việc tiêu biểu cũng như những hình ảnh
nổi bật để xây dựng câu hỏi tái hiện kiến thức . Những nội dung này phải được học sinh tự
khám phá, nhận thức và nắm bắt để có thể chuyển tải nội dung của cả bài hay một phần
của bài học.
4
- Xây dựng câu hỏi tái hiện kiến thức phải phù hợp với trình độ của học sinh
Xây dựng hệ thống câu hỏi tái hiện kiến thức cần phải xuất phát từ đặc điểm tâm lí,
trình độ nhận thức của học sinh để đưa ra những yêu cầu phù hợp. Các câu hỏi yêu cầu
phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh phải làm cho học sinh sử dụng các thao tác tư
duy như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp,...để thực hiện mệnh lệnh. Tuy nhiên, các
yêu cầu đó cũng phải vừa đảm bảo tính vừa sức, vừa đảm bảo tính phát triển tư duy của
học sinh, các công việc không quá khó làm cho học sinh không thể tự làm được, gây chán
nản mà cũng không quá dễ làm học sinh cảm thấy nhàm chán và coi thường nhiệm vụ.
Xây dựng hệ thống câu hỏi tái hiện kiến thức phải đảm bảo đa số học sinh trong lớp đều
làm được.
- Xây dựng câu hỏi tái hiện kiến thức phải đảm bảo tính khoa học, tính chính
xác và tính thẩm mĩ
Tính khoa học đòi hỏi các thông tin trong câu hỏi phải mang nội dung khoa học, các
2. Xác định biện pháp tu từ và ý nghĩa biện pháp tu từ đó trong văn bản trên.
3. Các từ ngữ: nổi dậy giành chính quyền lập nên nước, lấy lại nước có hiệu quả
nghệ thuật như thế nào?
Trả lời:
1. Ý chính của văn bản: Hồ Chí Minh đưa ra hai “sự thật” lịch sử để khẳng định
nước ta là thuộc địa của Nhật từ năm 1940, đồng thời dân ta đã lấy lại nước từ tay Nhật
chứ không phải từ tay Pháp.
2. Biện pháp tu từ trong văn bản là phép điệp cú pháp “Sự thật là…” hai lần. Ý
nghĩa: Nhấn mạnh 2 sự thật lịch sử nhắm bác bỏ luận điệu xảo quyệt của bọn thực dân
.Vào thời gian nước ta tuyên bố độc lập, nhà cầm quyền Pháp đã tuyên bố: Đông Dương là
thuộc địa của Pháp, bị quân Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương
nhiên phải thuộc quyền "bảo hộ"của người Pháp.
3. Các từ ngữ: nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước, lấy lại nước có hiệu quả
nghệ thuật : Ca ngợi nhân dân ta anh hùng. Hàng loạt động từ mạnh, liên tiếp diễn tả sức
mạnh như vũ bão của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu để giành lại độc
lập, tự do.
Câu 2:
Người đứng trên đài, lặng phút giây
Trông đàn con đó, vẫy hai tay
Cao cao vầng trán... Ngời đôi mắt
Độc lập bây giờ mới thấy đây!
( Trích Theo chân Bác - Tố Hữu)
1. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn thơ?
2. Nội dung chính của đoạn thơ là gì?
3. Khi đọc “Tuyên ngôn Độc lập”, Hồ Chí Minh đã “lặng phút giây”. Anh/chị hãy
viết một đoạn văn ngắn lý giải vì sao Bác có cảm xúc đó.
Trả lời:
1. Phương thức biểu đạt của đoạn thơ là miêu tả và biểu cảm
2. Nội dung chính của đoạn thơ : Nhà thơ Tố Hữu đã viết về giây phút xúc động
thiêng liêng khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”.
Nguyễn Đình Chiểu
2. -Ánh sáng khác thường: Nguyễn Đình Chiểu là một hiện tượng độc đáo, thơ văn
Nguyễn Đình Chiểu có vẻ đẹp riêng không dễ nhận ra.
- Phải chăm chú nhìn thì mới thấy: phải cố gắng tìm hiểu và tìm hiểu kĩ, phải kiên
trì nghiên cứu thì mới cảm nhận được vẻ đẹp riêng của nó.
- Càng nhìn càng thấy sáng: càng nghiên cứu, càng tìm hiểu kĩ ta sẽ càng thấy
được cái hay của nó và càng khám phá ra được những vẻ đẹp mới
3. Đoạn văn cần trình bảy các ý sau:
7
-Trong cuộc sống có nhiều người có số phận bất hạnh biết vươn lên để học tập và
cống hiến cho xã hội.
- Những người có số phận bất hạnh là những người kém may mắn trong cuộc sống
nhưng lại biết vươn lên để sống có ích, có ý nghĩa.
- Biểu hiện:
+ Những người sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn: mồ côi cha mẹ, gia đình nghèo
khó hoặc bố mẹ bị bệnh tật, bản thân phải lăn lóc, mưu sinh kiếm sống ngay từ bé…
nhưng họ đã biết khắc phục hoàn cảnh bằng cách tự lao động, mưu sinh, vừa học, vừa
làm, tự mở cho mình con đường đến tương lai tốt đẹp.
+ Những người bị bệnh tật hiểm nghèo hoặc bị khiếm khuyết trên thân thể: cố gắng
tự chăm sóc cho bản thân, cố gắng tập luyện, làm những việc có ích (thầy giáo Nguyễn
Ngọc Kí, các vận động viên Para Games).
-Ý nghĩa, tác dụng: Thay đổi được hoàn cảnh số phận, cuộc sống có ích, có ý nghĩa.
Là tấm gương về ý chí, nghị lực vượt lên số phận.
-Phê phán: Những người có điều kiện đầy đủ nhưng không chịu học tập, sống buông
thả, không nghĩ đến tương lai. Những người khi gặp khó khăn là buông xuôi, nản chí, phó
mặc cho số phận.
- Cần phải rèn luyện ý chí, nghị lực, luôn biết vươn lên, vượt qua những khó khăn
trong cuộc sống. Biết chấp nhận những khó khăn, thử thách, xem khó khăn thử thách là
2. Từ láy “ chơi vơi” gợi nỗi nhớ mênh mông, không định hình, không theo trình tự
thời gian và không gian, cứ dâng trào theo cảm xúc của nhà thơ.
3. Câu thơ : Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi được phối toàn thanh bằng. Hiệu quả
nghệ thuật : tạo cảm giác được những mệt mỏi, căng thẳng đã được trút hết và những con
người đã chiếm lĩnh được đỉnh cao, đã phóng tầm mắt ra bốn phương nhẹ nhõm, sảng
khoái ngắm nhìn trong không gian bao la, mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp
thoáng những ngôi nhà của người dân tộc như đang bồng bềnh trôi giữa màn mưa rừng.
4. Cụm từ bỏ quên đời thể hiện vẻ đẹp bi hùng của người lính Tây Tiến : Từ “bỏ”
khẳng định người coi cái chết nhẹ nhàng trong dãi dầu mưa nắng, lúc vượt qua núi đèo.
Nhà thơ đã sử dụng cách nói giảm nhưng vẫn gieo vào lòng người đọc sự xót xa thương
cảm về những gian nan, vất vả mà người lính Tây Tiến đã phải trải qua.
Câu 5:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.
1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả?
2. Các từ “xiêm áo”, “khèn”,“man điệu”, “e ấp” có vai trò gì trong việc thể hiện
những hình ảnh vẻ đẹp văn hoá miền núi và tâm trạng người lính Tây Tiến?
3. Câu thơ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa được sử dụng nghệ thuật gì? Nêu hiệu
quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
Trả lời:
9
1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng của tác giả : đó là nỗi nhớ những kỉ niệm về tình
quốc của tuổi trẻ ngày nay.
Trả lời
1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng nhớ vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính
Tây Tiến. Tác giả không dùng từ “đoàn quân” mà dùng từ “đoàn binh” vì từ “đoàn binh”
gợi số lượng đông và hùng mạnh của Tây Tiến.
10
2. “không mọc tóc” và” xanh màu lá” thể hiện chân dung người lính lính Tây Tiến
vừa thực, vừa lãng mạn. Đầu “không mọc tóc” chứ không phải là do tóc không mọc đựơc,
da “xanh màu lá” không phải vì sốt rét da xanh mà do tác động của sắc màu núi rừng .
Người lính không hề ở trong tư thế bị động mà trái lại chủ động hiên ngang đầy khí phách
“ dữ oai hùm”. Họ ốm mà không yếu, ngoại hình tiều tuỵ yếu đuối nhưng nội tâm mạnh
mẽ .
3. Vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến được thể hiện qua từ “mộng”, “mơ” : Đó
là giấc mộng trở thành người anh hùng ; giấc mơ về quê hương và người thân yêu. Người
lính Tây Tiến có vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, yêu đời, mang nét riêng của người lính trí thức
tiểu tư sản.
4. Ý nghĩa tu từ của từ “về đất” trong đoạn thơ : “về đất” là cách nói giảm, diễn tả
sự hi sinh của người lính. Tác giả sử dụng cách nói về đất thay cho từ chết là cách nói
giảm nhẹ làm vơi đi sự mất mát đau thương nhưng lại hàm chứa một ý nghĩa lớn lao. Về
đất là về với tổ tiên khi người ta làm tròn trách nhiệm với quê hương, đất nước; về đất còn
là sự hoà nhập, là sự hoá thân vào hồn thiêng sông núi để trở thành cái vĩnh viễn bất tử.
5. Đoạn văn đảm bảo các nội dung :
- Bảo vệ Tổ quốc là gì ?
- Tuổi trẻ nhận thức và hành động cụ thể như thế nào trong sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc hôm nay?
VIỆT BẮC – TỐ HỮU
Câu 7:
“Mình về mình có nhớ ta
giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến.
4. Cách ngắt nhịp của câu thơ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay lạ ở chỗ từ nghịp
bình thường 2/2/2/2, Tố Hữu chuyển sang nhịp 3/3/2. Hiệu quả nghệ thuật của cách ngắt
nhịp : gợi tâm trạng bịn rịn, xúc động đến nghẹn ngào không nói nên lời trong giây phút
chia tay của người cán bộ kháng chiến.
Câu 8:
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa.
1. Đoạn thơ trên là lời của ai ? Thiên nhiên Việt Bắc được thể hiện qua những từ
ngữ nào ?
2. Nêu ý nghĩa phép điệp cấu trúc ( Hai từ đầu câu lục) trong đoạn thơ?
3. Nêu ý nghĩa từ “mình ” trong câu thơ “Mình đi, mình có nhớ mình ” ?
Trả lời:
1. Đoạn thơ trên là lời của người ở lại, gợi nhắc về những kỉ niệm, những ân tình –
mỗi câu hỏi gợi một cái gì thật tiêu biểu, thật ấn tượng về Việt Bắc. Thiên nhiên Việt Bắc
được thể hiện qua những từ ngữ Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù; Trám bùi để
rụng măng mai để già; Hắt hiu lau xám; núi non; mái đình cây đa.
12
khăn, thiếu thốn cùng người cách mạng: một củ sắn chia nhau bên bếp lửa đêm đông, một
bát cơm sẻ nửa và một chiếc chăn sui đắp chung. Đắng cay cùng hưởng, ngọt bùi cùng
chia. Tất cả những khoảnh khắc ấy cứ sáng mãi trong lòng người ra đi, sống trong tâm trí
người ở lại, ghi dấu ấn một thời không thể xoá nhoà. Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai
cấp.
Hình ảnh bà mẹ Việt Bắc hiện ra qua hình ảnh hoán dụ nắng cháy lưng, các động từ
địu, bẻ gợi cho người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của người
mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang cán bộ cách mạng. Đó còn là hình
13
ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong
kí ức của người về xuôi.
3/ Phép điệp cấu trúc “ Nhớ sao ” đạt hiệu quả nghệ thuật: nhấn mạnh nỗi nhớ đạt
dào trong tâm trí người cán bộ kháng chiến . Đó là nỗi nhớ về ảnh sắc thiên nhiên, cuộc
sống sinh hoạt, kỉ niệm kháng chiến lần lượt hiện hình rất chân thực.
Câu 10 :
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
1. Tại sao gọi đoạn thơ trên là “bức tranh tứ bình ”?
2. Nêu ý nghĩa nghệ thuật các từ “chuốt ”, “hái” trong đoạn thơ? Hình người lao
động Việt Bắc hiện ra như thế nào?
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng .”
1. Nêu những ý chính của đoạn thơ.
2. Nêu ý nghĩa nghệ thuật các từ láy“Đêm đêm rầm rập ”, “điệp điệp trùng trùng”
trong đoạn thơ? Hình ảnh quân ta trong chiến dịch Điện Biên hiện ra như thế nào?
3. Nêu hiệu quả nghệ thuật khoa trương trong đoạn thơ ?
Trả lời:
1. Những ý chính của đoạn thơ. :
- Nhớ cảnh tượng hào hùng, sôi động, đầy khí thế của cuộc kháng chiến toàn dân ở
chiến khu Việt Bắc. Cảnh tượng đó được nhà thơ đặc tả sinh động qua hình ảnh các con
đường Việt Bắc trong những đêm kháng chiến, nổi bật là sức mạnh và niềm lạc quan của
những lực lượng kháng chiến .
- Nhớ về những niềm vui chiến thắng trên khắp mọi miền của đất nước
2. Ý nghĩa nghệ thuật các từ láy“Đêm đêm rầm rập ”, “điệp điệp trùng trùng”, trong
đoạn thơ gợi hình ảnh hào hùng, khí thế mạnh mẽ của đội quân nhân dân trong cuộc chiến
đấu.
Hình ảnh quân ta trong chiến dịch Điện Biên hiện ra là đội quân chính nghĩa, có sức
mạnh tổng hợp nhờ sự gắn bó giữa các lực lượng quân đội, dân công. Đó là thắng lợi của
cuộc chiến tranh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
3. Hiệu quả nghệ thuật khoa trương trong đoạn thơ : diễn tả rất thành công khí thế
hào hùng, mạnh mẽ, không thế lực nào ngăn cản được của cuộc kháng chiến .
ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Câu 12:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa..." mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Không gian mệnh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng...
1. Nêu ý chính của đoạn thơ.
2. Nêu ý nghĩa nghệ thuật chiết tự ( tách Đất Nước ) ở 2 câu đầu đoạn thơ đem lại
hiệu quả nghệ thuật như thế nào?
3. Chất liệu dân gian được thể hiện như thế nào trong đoạn thơ ?
Trả lời:
1. Ý chính của đoạn thơ : Tác giả cảm nhận về đất nước nhìn từ góc độ địa lý, không
gian, thời gian và lịch sử dân tộc.
16
2. Ý nghĩa nghệ thuật chiết tự ( tách Đất Nước ) ở 2 câu đầu đoạn thơ : nhà thơ giúp
ta hình dung ra được một cách cụ thể : Đất Nước là con đường, mái trường, dòng sông, bế
nước…gắn bó thân thuộc với đời sống học tập, sinh hoạt của con người.
3. Chất liệu dân gian được thể hiện trong đoạn thơ: gợi nhớ bài ca dao tình yêu:
“Khăn thương nhớ ai...”, cao dao Bình-Trị-Thiên, truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu
Cơ.
Câu 14:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên
Câu 15:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên.
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta...
1. Nêu ý chính của đoạn thơ?
2. Sự hoá thân của Nhân Dân vào dáng hình Đất Nước thể hiện qua những từ ngữ
nào? Nêu hiệu quả nghệ thuật của những từ ngữ đó.
3. Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về vai trò của Nhân Dân trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trả lời:
1. Ý chính của đoạn thơ : sự khẳng định của nhà thơ về vai trò của nhân dân
trong việc làm nên không gian địa lý - bức tranh văn hóa đất nước muôn màu muôn
vẻ
2. Sự hoá thân của Nhân Dân vào dáng hình Đất Nước thể hiện qua những từ ngữ :
núi Vọng Phunúi Vọng Phu, hòn Trống Mái, Gót ngựa của Thánh Gióng , Người học trò
nghèo, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm... Hiệu quả nghệ thuật của những từ ngữ
đó : Trong mỗi danh lam thắng cảnh ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân trong
mấy nghìn năm lịch sử : sự thuỷ chung ; tình nghĩa vợ chồng ; tinh thần yêu nước ; ý thức
hướng về tổ tông, cội nguồn ; tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó vươn lên ; tinh thần xả
thân vì cộng đồng, dân tộc.
3. Đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về vai trò của Nhân Dân trong công cuộc xây
- Mượn quy luật muôn đời của sóng, tác giả khẳng định khát vọng của tình yêu
thường trực trong trái tim tuổi trẻ.
2. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đối lập : dữ dội hoà quyện với dịu êm,
ồn ào đan xen với lặng lẽ, ngày xưa-ngày nay; nhân hoá : Sông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể ; ẩn dụ : sóng chính là em :
-Tình yêu tha thiết, chân thành không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, đơn
điệu, một chiều mà nó phải là sự hoà hợp, sự đan xen của nhiều yếu tố, thậm chí là những
yếu tố đối cực nhau: vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất, vừa xung đột, vừa hài hoà.
-Tình yêu của con người, luôn khao khát vươn tới sự lớn lao đích thực.
- Khẳng định một điều có tính quy luật về sự tồn tại bất diệt của khát vọng tình yêu
trong trái tim người con gái
3. Đoạn thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của nhà thơ Xuân Quỳnh :
– Yêu là tự nhận thức, là vươn tới cái cao rộng, lớn lao…
- Tình yêu mãi là khát vọng muôn đời của con người, nhất là đối với tuổi trẻ.
19
Câu 17:
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
- Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
1. Nêu ý chính của đoạn thơ.
2. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc “Em nghĩ ” trong đoạn thơ?
3. Tại sao khi nói đến tình yêu, Xuân Quỳnh lại trả hỏi về “sóng-gió” ?
Trả lời:
1. Ý chính của đoạn thơ : thể hiện niềm suy tư, trăn trở của người phụ nữ trong tình
Trả lời:
1. Ý chính của đoạn thơ : Nỗi nhớ thiết tha, sâu lắng và lòng thuỷ chung, son sắt
của người phụ nữ trong tình yêu.
2. Hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc “Con sóng ” trong đoạn thơ : Phép
điệp sử dụng 3 lần như một điệp khúc của bản tình ca với những giai điệu da diết, như một
ám ảnh thường trực về tình yêu và nỗi nhớ. Ba câu thơ gắn liền với hình ảnh sóng giống
như những đợt sóng gối lên nhau. Đó là một ẩn dụ nghệ thuật về những đợt sóng lòng
đang dâng trào trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.
3. Hành trình dẫu ngược...dẫu xuôi của con sóng trong đoạn thơ lạ ở chỗ bình
thường ta nói Xuôi Nam, ngược Bắc. Ở đây, Xuân Quỳnh diễn tả con sóng Xuôi Bắc,
ngược Nam.
Hiệu quả nghệ thuật của hành trình đó: gợi sự vất vả hành trình của con sóng khi
vào bờ. Cũng như em, em vượt qua mọi thử thách, cách trở của cuộc đời để thuỷ chung
với anh.
ĐÀN GHI-TA CỦA LOR-CA – THANH THẢO
Câu 19 :
những tiếng đàn bọt nước
Tây-ban-nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
Tây-ban-nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
21
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
22
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la…
1. Xác định thể thơ và nêu ý chính của đoạn thơ ?
2. Giữa câu thơ của Lor-ca: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghita ” với câu
thơ của Thanh Thảo: “không ai chôn cất tiếng đàn ” có mâu thuẫn không ? Vì sao?
3. Nêu hiệu quả nghệ thuật hình ảnh trong hai câu thơ: giọt nước mắt vầng trăng/
long lanh trong đáy giếng ?
Trả lời:
1. Thể thơ : tự do
Ý chính của đoạn thơ :
- Bốn câu thơ đầu là suy ngẫm của nhà thơ Thanh Thảo về cuộc đời và sự nghiệp
của Lor-ca,
- Những câu thơ còn lại tiếp tục là những suy tư của nhà thơ Thanh Thảo về cái
chết, cuộc giã từ của Lor-ca.
2. Giữa câu thơ của Lor-ca: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghita ” với câu
thơ của Thanh Thảo: “không ai chôn cất tiếng đàn ” không có mâu thuẫn . Vì:
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm tư tình cảm gì của tác giả?
2. Nêu ý nghĩa tu từ của từ láy “rì rầm” trong đoạn thơ.
3. Xác định các dạng phép điệp trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của
chúng.
Trả lời:
1. Đoạn thơ thể hiện niềm vui lớn về quyền làm chủ đất nước, niềm tự hào về tinh
thần bất khuất của con người Việt Nam
2. Ý nghĩa tu từ của từ láy “rì rầm”: vừa có tính tả thực vừa có tính tượng trưng, gợi
tiếng nói cha ông xưa luôn hiện diện cùng con cháu hôm nay, nhắc nhủ về truyền thống bất
khuất của giống nòi.
3. Các dạng của phép điệp và hiệu quả nghệ thuật trong đoạn thơ:
- Các dạng của phép điệp: điệp từ (của, những, nước, chúng ta,...); điệp ngữ (đây là
của chúng ta); điệp cấu trúc cú pháp (Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của
chúng ta; Những cánh đồng…/ Những ngả đường…/ Những dòng sông…).
24
- Hiệu quả nghệ thuật: góp phần tạo nên nhịp thơ dồn dập, âm hưởng hào hùng,
giọng điệu hùng biện; tạo sự xuất hiện liên tiếp của hình ảnh, mở ra bức tranh toàn cảnh
một giang sơn giàu đẹp; khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ và bộc lộ mãnh liệt niềm tự
hào của tác giả. Trả lời:
Câu 22:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà./.
1. Nêu ý chính của đoạn thơ trên ?