ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ
Ở CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lƣu trữ
Hà Nội, 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ
Ở CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Lƣu trữ
Mã số: 60 32 03 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS Vũ Thị Phụng
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Trong luận văn có sử dụng một số thông tin trong các văn bản của Nhà nước,
của giáo trình, từ điển; tham khảo các Báo cáo của Cục Văn thư và Lưu trữ
nhà nước, Báo cáo công tác của các tỉnh nhưng đã được chú thích. Công trình
này chưa được tác giả nào công bố./.
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thùy Dung
4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................... 7
1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................................... 7
2. Tình hình nghiên cứu ......................................................................................................... 9
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................... 11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................................... 11
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 12
6. Bố cục của đề tài .............................................................................................................. 13
7. Các nguồn tài liệu tham khảo .......................................................................................... 14
8. Đóng góp của đề tài ......................................................................................................... 15
Chƣơng 1 ............................................................................................................................ 17
KHÁI QUÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM VỀ ........................... 17
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ............................................................................. 17
1.1. Các khái niệm ............................................................................................................... 17
1.1.1. Hành chính ......................................................................................................... 17
1.1.2. Vi phạm hành chính ........................................................................................... 18
2.4.2. Vi phạm trong công tác xác định giá trị tài liệu lưu trữ .... Error! Bookmark not
defined.
2.4.3. Vi phạm trong công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ............. Error! Bookmark not
defined.
5
2.4.4. Vi phạm trong công tác tiêu hủy tài liệu lưu trữ Error! Bookmark not defined.
2.4.5. Vi phạm trong công tác khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ..... Error! Bookmark
not defined.
2.4.6. Vi phạm trong hoạt động dịch vụ lưu trữ .......... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3 ................................................................................ Error! Bookmark not defined.
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT . Error! Bookmark not defined.
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮError! Bookmark not
defined.
3.1. Sự cần thiết nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công
tác lưu trữ ............................................................................. Error! Bookmark not defined.
3.2. Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ .........Error!
Bookmark not defined.
3.2.1. Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ đối
với cán bộ, công chức và viên chức ............................. Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ đối
với cá nhân, tổ chức khác............................................. Error! Bookmark not defined.
3.3. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ Error! Bookmark not
defined.
3.3.1. Thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, công chức và viên chức .... Error! Bookmark
not defined.
3.3.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các cá nhân, tổ chức khác
..................................................................................... Error! Bookmark not defined.
3.3.2.1. Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
quả của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính. Sau khi Luật xử lý vi phạm
7
hành chính có hiệu lực, các ngành, lĩnh vực đều đã chủ động ban hành Nghị
định xử phạt vi phạm hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực của mình
theo thẩm quyền được giao.
Đối với ngành lưu trữ, trước khi Luật Lưu trữ có hiệu lực, việc xử phạt
những vi phạm trong công tác lưu trữ cũng đã được đề cập tại Điều 29 Pháp
lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001 và tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định số
111/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia.
Đến năm 2011, khi Luật Lưu trữ được ban hành, tại Điều 8 của Luật
Lưu trữ cũng chỉ quy định một số hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: chiếm
đoạt, làm hỏng, làm mất tài liệu lưu trữ; làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội
dung tài liệu lưu trữ; mua bán, chuyển giao, hủy trái phép tài liệu lưu trữ; sử
dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và mang tài liệu lưu trữ ra
nước ngoài trái phép.
Đến nay, sau 04 năm kể từ ngày Luật Lưu trữ và sau 03 năm kể từ ngày
Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực, chưa có văn bản nào của nhà nước
quy định cụ thể về các hành vi vi phạm pháp luật, biện pháp xử phạt đối với
từng đối tượng, từng hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ.
Từ thực trạng công tác lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức nói chung và các
quan, tổ chức nhà nước cấp tỉnh nói riêng cho thấy, các hành vi vi phạm trong
công tác lưu trữ ít nhiều đều xuất hiện trong hoạt động các cơ quan, tổ chức.
Qua khảo sát, thanh tra, kiểm tra thực tế tại các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, Bộ
Nội vụ, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã chỉ rõ những sai phạm trong quá
trình thực hiện công tác lưu trữ như: không giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ
cơ quan đúng thời hạn; tự ý tiêu hủy tài liệu trái phép, không theo đúng quy
các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lƣu trữ ở các
cơ quan nhà nƣớc cấp tỉnh” làm đề tài luận văn cao học của mình. Trên cơ
sở pháp lý hiện có và từ thực tế công tác lưu trữ từ các cơ quan, tổ chức cấp
tỉnh, chúng tôi xác định các hành vi vi phạm và đề xuất việc áp dụng các biện
pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ nói chung.
9
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về chế tài xử phạt
trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ được quy định trong luật pháp các thời kỳ,
như:
- Các đề tài nghiên cứu luật pháp của các triều đại phong kiến về công
tác công văn giấy tờ: Hà Thị Thúy Hoàn, Luật pháp của triều Lê về công tác
công văn giấy tờ qua Quốc triều hình luật năm 2000; Nguyễn Hoài Thu,
Những quy định và chế tài về công tác công văn, giấy tờ trong Hoàng Việt
luật lệ, năm 2000; Nguyễn Thị Trang Nhung, Quốc triều hình luật và Hoàng
Việt luật lệ với công tác công văn giấy tờ, năm 2004 và Trương Thị Nga, Chế
tài về công tác công văn giấy tờ thời phong kiến Việt Nam - Bài học kinh
nghiệm, năm 2008. Các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu các quy định của nhà
nước phong kiến về công tác công văn giấy tờ, trong đó có quy định về xử
phạt nếu vi phạm. Ví dụ: Một số quy định trong Quốc triều hình luật:“Thảo
chiếu, chế mà quên nhầm hay viết chiếu, chế mà sai chữ thì xử phạt 60
trượng, thảo sai ý chỉ của nhà vua thì xử tội biếm hay tội đồ tùy theo trường
hợp nặng nhẹ”; “Các quan, sảnh viện làm công văn, giấy tờ về việc ban
thưởng chỉ dựa vào tờ khai của đương sự mà không xét rõ quan tước trong sổ
gốc của từng người thì xử phạt 20 trượng”.
- Các đề tài nghiên cứu về pháp luật thời kỳ hiện đại liên quan đến công
tác công văn, giấy tờ: Nguyễn Quốc Dũng, Tìm hiểu về chế định của Bộ luật
quy định cụ thể về chế tài xử phạt những vi phạm trong công tác văn thư, lưu
trữ nói chung và công tác lưu trữ nói riêng.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài của chúng tôi đặt ra và giải quyết 2 mục tiêu cơ bản:
+ Xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ;
+ Đề xuất các biện pháp để áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong công tác lưu trữ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu trên, chúng tôi phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính;
11
+ Hệ thống các quy định về công tác lưu trữ; các quy định về hành vi vi
phạm và xử phạt vi phạm trong công tác lưu trữ;
+ Tìm hiểu quy định của một số nước trên thế giới về hành vi vi phạm
hành chính trong công tác lưu trữ;
+ Nghiên cứu, xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công tác
lưu trữ
+ Nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong
công tác lưu trữ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi của Đề tài này, chúng tôi nghiên cứu các hành vi vi
phạm hành chính trong công tác lưu trữ của hai nhóm đối tượng:
- Thứ nhất: các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ của
cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ, công chức, viên chức làm
việc trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh nói riêng.
Cục Văn thư và Lưu trữ năm 2015 tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương: An Giang, Khánh Hòa, Bạc Liêu, tỉnh Hải Dương, Yên Bái, Cao Bằng,
Sơn La, Cần Thơ, Hưng Yên, Hà Nam.
- Phương pháp tổng hợp, hệ thống: áp dụng phương pháp này để tổng
hợp hiện nay tại Việt Nam đã có quy định nào về xử phạt vi phạm trong công
tác lưu trữ; tổng hợp các quy định về hành vi vi phạm hành chính trong công
tác lưu trữ của một số nước trên thế giới.
- Phương pháp phân tích, so sánh: áp dụng phương pháp này để so
sánh, đối chiếu mức xử phạt vi phạm hành chính giữa những hành vi tương tự
nhau của các ngành, lĩnh vực khác nhau. Trên cơ sở so sánh, đối chiếu, tác giả
đề xuất quy định chung về việc xử phạt vi phạm trong công tác lưu trữ.
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi: áp dụng phương pháp này trong
những lần kiểm tra thực tế công tác lưu trữ tại các địa phương, trong các buổi
Hội thảo, Hội nghị về ngành, lĩnh vực lưu trữ. Tác giả đã có cơ hội trao đổi
với lãnh đạo Chi cục Văn thư - Lưu trữ các tỉnh, công chức, viên chức là
những người trực tiếp làm công tác lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức để thấy
được sự thấu hiểu, quan tâm của các lãnh đạo đối với công tác lưu trữ, thực
trạng công tác lưu trữ hiện nay, việc thực hiện các quy định của nhà nước về
13
lưu trữ còn nhiều vấn đề bất cập, trách nhiệm của các cán bộ, công chức, viên
chức và các cá nhân, tổ chức có liên quan đối với công tác lưu trữ và sự cần
thiết phải có một văn bản quy định về chế tài xử phạt những hành vi vi phạm
trong công tác lưu trữ.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 phần:
Chƣơng 1: Khái quát các quy định của nhà nƣớc Việt Nam về xử
phạt vi phạm hành chính
Nội dung Chương 1 tác giả làm rõ một số vấn đề về vi phạm hành
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi đã tham khảo
các nguồn tư liệu sau:
- Các giáo trình về lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ, giáo trình Luật
Hành chính.
- Tạp chí Văn thư - Lưu trữ Việt Nam.
- Tài liệu dịch hiện đang được bảo quản tại Thư viện của Trung tâm
Khoa học và Công nghệ văn thư, lưu trữ - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.
- Các văn bản của Nhà nước quy định về xử phạt vi phạm hành chính
nói chung, xử phạt vi phạm hành chính các ngành, lĩnh vực khác và các văn
bản quy định về công tác lưu trữ;
- Báo cáo về công tác lưu trữ của các tỉnh; Báo cáo thống kê cơ sở công
tác lưu trữ của các tỉnh; Báo cáo tại các cuộc Hội nghị, Hội thảo của Cục Văn
thư và Lưu trữ nhà nước.
- Website:
/>8. Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của Đề tài nếu được thực hiện tốt sẽ có những đóng
góp sau:
- Giúp Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước nhìn nhận, đánh giá đúng thực
trạng vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ hiện nay tại các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
- Là cơ sở cho các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý ngành lưu trữ tham
mưu và giúp cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
15
về xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức,
viên chức có hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng nhận được sự đồng
tình ủng hộ và giúp đỡ của các lãnh đạo, công chức của Cục Văn thư và Lưu
nghĩa như những biện pháp tổ chức và điều hành của các tổ chức, các nhóm,
các đoàn thể hợp tác trong hoạt động của mình để đạt được mục tiêu chung.
Vì quản lý liên quan tới nhiều thể thức hoạt động hợp tác vì vậy tất cả những
ai tham gia vào hoạt động hợp tác đều có nghĩa là tham gia vào một dạng hoạt
động của quản lý - đó là công việc hành chính. Tất cả các cơ quan, tổ chức,
17
các hiệp hội, trường học và cả gia đình đều cần đến hành chính để đạt được
mục tiêu chung.
Như vậy, với nghĩa rộng nhất, có thể định nghĩa hành chính như là loại
hoạt động quản lý chung nhất của các nhóm người hợp tác với nhau để hoàn
thành các mục đích chung.
Theo nghĩa hẹp, Hành chính được nhiều học giả xem là hoạt động quản
lý các công việc của Nhà nước, xuất hiện cùng với Nhà nước. Ở Trung Quốc,
thuật ngữ hành chính có một lịch sử lâu dài. Trong bộ “Tả truyện” viết cách
đây hơn 2000 năm đã có ghi “hành kỳ chính sự”, “hành kỳ chính mệnh” để
chỉ những hoạt động có liên quan đến nhà nước và quyền lực nhà nước. Theo
nghĩa này hành chính thường đi kèm với khái niệm hành chính công [15; tr 6].
Trong từ điển Pháp - Việt, Pháp luật và hành chính có định nghĩa hành
chính công như sau: “...là tổng thể các tổ chức và quy chế hoạt động của bộ
máy hành pháp có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước do
các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng những văn bản
dưới luật để giữ gìn trật tự công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu
hàng ngày của công dân” [41; tr26]
- Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "Hành chính" được hiểu như sau:
+ Thuộc phạm vi chỉ đạo quản lý việc chấp hành luật pháp, chính sách
của Nhà nước, cơ quan hành chính các cấp.
+ Thuộc về những công việc sự vụ như: văn hoá, tổ chức, kế toán...
quy định về vi phạm hành chính nhưng Khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh này đã
quy định gián tiếp như sau: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối
với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý
nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Tại Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính năm 2002
quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ
quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô
ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là
tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định
19
của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng quan điểm về vi phạm
hành chính trong các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất về dấu hiệu
bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Trên cơ sở những nội dung đã được
nêu ra trong các văn bản quy phạm pháp luật trên, có thể khái quát vi phạm
hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm, do cá nhân, tổ chức
thực hiện, với lỗi cố ý hoặc vô ý và theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt hành chính.
Như vậy, vi phạm hành chính có 4 dấu hiệu sau:
Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại hay tính nguy hiểm do
hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và
hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm
Thứ hai, hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ do một cá
nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện.
Thứ ba, hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ đã được
thực hiện. Hiện nay, việc vi phạm các quy định về nhà nước trong công tác
lưu trữ diễn ra khá phổ biến và đã gây ra những hậu quả nhất định như việc
không bảo quản tài liệu theo đúng quy định dẫn đến việc cháy kho tài liệu
hoặc mất tài liệu.
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận
thức được vi phạm của mình. Hiện nay, hầu hết các cá nhân, cơ quan, tổ chức
đều nhận thức được việc thực hiện không đúng các quy định của nhà nước về
công tác lưu trữ là không đúng. Tuy nhiên, vì các lí do khác nhau nên các cá
nhân, cơ quan, tổ chức không có biện pháp hoặc không tìm biện pháp để khắc
phục, xử lý các vi phạm đang diễn ra.
1.1.2.3. Đối tượng vi phạm hành chính
Căn cứ vào các dấu hiệu vi phạm hành chính trên, có thể xác định đối
tượng vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách
nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.
21
Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính được quy như sau:
- Đối với cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là người
không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng điều
khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành
chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, khi xác định
người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi
trong mặt chủ quan của họ vì thông thường người thực hiện hành vi với lỗi cố
lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước cụ thể là những cơ sở pháp lý quan
trọng để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính.
- Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật. Luật xử lý vi phạm pháp luật và các văn
bản pháp luật khác có quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định cụ
thể các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức độ
xử phạt hành chính mà họ được phép áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính.
- Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc,
trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết
định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt
áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Việc quyết định áp
dụng biện pháp xử phạt vi phạm đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của
Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Việc xử phạt vi
phạm hành chính còn hướng tới mục đích giáo dục cho mọi người ý thức tuân
thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung, ý thức tôn trọng
các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm pháp luật có thể
xảy ra.
1.1.3.2. Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính
Như đã đề cập ở trên, đối tượng vi phạm hành chính là các cá nhân, tổ
chức có hành vi vi phạm hành chính. Tuy nhiên, không phải cá nhân, tổ chức
nào vi phạm hành chính đều bị xử phạt theo quy định xử phạt vi phạm hành
23
chính. Theo Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều về biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm
hành chính có quy định: Đối với trường hợp cá nhân là các cán bộ, công
lệnh xử phạt vi phạm hành chính do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
ngày 28 tháng 11 năm 1987 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1990. Đây là văn
bản đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật Việt Nam về xử lý vi
phạm hành chính. Pháp luật xử lý vi phạm hành chính được nâng lên một tầm
mới với nhận thức về một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các văn bản thay thế, sửa đổi Pháp lệnh ngày 28/11/1987 bao gồm:
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 07/12/1989 thay thế Pháp lệnh
1987; Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 06/7/1995 thay thế cho
Pháp lệnh 1989; Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 02/7/2002 thay
thế cho Pháp lệnh năm 1995; Năm 2007, Pháp lệnh này được sửa đổi bằng
Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH sửa đổi một số điều Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh số 44/2008/PL-UBTVQH12 ngày
02/4/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính năm 2002.
Đến ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cô ̣ng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm
hành chính. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
Sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực, ngày 19
tháng 7 năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành
chính. Bên cạnh đó, các ngành, các cấp đều đã ban hành Nghị định xử phạt vi
phạm hành chính trong các ngành, lĩnh vực. Theo số liệu thống kê tính đến
tháng 6 năm 2015, có 51 Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính và
Nghị định sửa đổi bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính của 46
ngành, lĩnh vực, bao gồm: an ninh trật tự và an toàn xã hội, kế toán, thống kê,
quản lý tài sản nhà nước...đã được ban hành và có hiệu lực thi hành.
Đối với các cán bộ, công chức, viên chức vi phạm, thì việc xử lý kỷ
luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức. Cụ thể,
hệ thống các văn bản bao gồm: Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02
năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công