MỤC LỤC
Tạp chí:
KHOA HäC
& C¤NG NGHÖ L¢M NGHIÖP
ISSN: 1859 - 3828
NĂM THỨ TƯ
SỐ THỨ 14
XUẤT BẢN 3 THÁNG 1 KỲ
Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Thủy. Tuyển chọn vi
khuẩn Azotobacter có khả năng cố định nitơ và sinh tổng hợp IAA
Hoàng Vũ Thơ. Nghiên cứu đặc điểm hình thái lá, quả, hạt và
sự nảy mầm của hạt Đinh đũa (Sterrospermum colais)
Mai Hải Châu. Ảnh hưởng của giống và mật độ trồng đến
sinh trưởng và năng suất lá Chùm ngây (Moringa oleifera L.)
làm rau
Đặng Văn Hà. Đặc điểm phân bố và hình thái loài Đỗ quyên
hoa trắng hồng (Rhododendron cavaleriei H. Lév.) tại Vườn Quốc
gia Tam Đảo
Trang
3-9
10-20
21-31
32-41
Bùi Việt Hải, Trương Thanh Hào. Ảnh hưởng của phân bón
đến sinh trưởng của cây con Trai Nam Bộ (Fagraea
đá Đông Bắc, Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông
73-80
TÒA SOẠN – TRỊ SỰ
Thư viện – Đại học Lâm nghiệp
Xuân Mai – Chương Mỹ – Hà Nội
ĐT: 0433.840.822
Email:
Giấy phép số:
1948/GP – BTTTT
Bộ Thông tin – Truyền thông
cấp ngày 23 tháng 10
năm 2012
In tại cơ sở in Bùi Văn Chiểu
Khu Miếu Môn - Xã Trần Phú
Chương Mỹ - Hà Nội
Giấy phép số: 01W8000678
Hoàng Thị Hồng Nghiệp, Nguyễn Thế Nhã. Kết quả nghiên
cứu bước đầu giá trị dinh dưỡng của sâu tre (Omphisa
fuscidentalis Hampson) (Lepidoptera: Crambidae)
Cao Quốc An, Triệu Văn Hải, Vũ Mạnh Tường, Lê Văn
Tung. Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ ép đùn đến chất
lượng composite nhựa – vỏ cây
Nguyễn Văn Diễn, Lê Xuân Phương. Ảnh hưởng của xử lí
thủy – nhiệt đến một số tính chất công nghệ của gỗ Bạch Đàn
(Eucalyptus urophylla S.T. Blake)
142-150
CONTENTS
FORESTRY SCIENCE AND
TECHNOLOGY JOURNAL
ISSN: 1859 - 3828
THE FOURTH YEAR
No. 4 – 2015
Editor–in–Chief:
Prof.Dr. Pham Van Chuong
Tel: 0433.725.779
Head – office
Library – Vietnam Forestry University
Chuong My – Ha Noi – Viet Nam
Tel: 0433.840.822
Email:
Nguyen Thi Thu Hang, Nguyen Thi Thuy. Screening of
azotobacter strains with the ability of nitrogen fixing and
synthesis of indole acetic acid (IAA)
Hoang Vu Tho. Rsearch on morphological characteristics of
leaves, fruits and seeds as well as seed germination of yellow
snake tree (Sterrospermum colais)
Cao Quoc An, Trieu Van Hai, Vu Manh Tuong, Le Van
Tung. Study on effect of extruding technology to quanlity of
WPC from bark
Nguyen Van Dien, Le Xuan Phuong. Effect of the hydro thermal treatment on technological properties of Eucalyptus
urophylla S.T. Blake wood
Trieu Van Hai, Cao Quoc An, Pham Thi Anh Hong. Study
on the influence of some technology factors in production
composite materials from bark and polyethylene
Ta Thi Phuong Hoa. The moisture content at fibre saturation
point of Canarium album wood
Hoang Xuan Nien, Nguyen Minh Hung. Research on wood
drying experiment equipment system using solar energy
combined with oil tank
Duong Thi Thanh Mai. Export performance assessment of
Vietnam period 2010 - 2014
Printed in Bui Van Chieu
Printing House
Chuong My – Ha Noi
License No: 01W8000678
Mai Quyen. The opportunities and challenges of Vietnam
when joining the Asean economic community
Nguyen Thi Xuyen, Le Thi Tuyet Anh. The women’s roles
in Nam Dinh province with development of local political system
in the reform rural construction
Page
3-9
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
TUYỂN CHỌN VI KHUẨN AZOTOBACTER CÓ KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH
NITƠ VÀ SINH TỔNG HỢP IAA
Nguyễn Thị Thu Hằng1, Nguyễn Thị Thủy2
1,2
ThS. Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Azotobacter sp. là vi khuẩn đất, gram âm, di động, hô hấp hiếu khí, có khả năng cố định nitơ tự do. Vi khuẩn
Azotobacter được quan tâm không chỉ bởi khả năng cung cấp dinh dưỡng nitơ mà còn có khả năng kích thích
nảy mầm, sinh chất kích thích sinh trưởng thực vật. Trong đất, Azotobacter tập trung ở vùng đất xung quanh rễ
cây. Các chủng vi khuẩn Azotobacter phân bố trong 20 mẫu đất trồng lúa ngoài tự nhiên đã được phân lập, trên
cơ sở đó đã tuyển chọn được 2 chủng Azotobacter, kí hiệu AZT1 và AZT7, vừa có khả năng cố định nitơ phân
tử trong không khí thành nitơ dạng ammonium (NH4+), vừa có khả năng sinh Indole acetic acid (IAA) với hàm
lượng cao. Trong môi trường Ashby lỏng bổ sung 2% glucose, pH 7, nuôi cấy ở 30oC trong 72 giờ, chủng
AZT1 và AZT7 có khả năng cố định nitơ tương ứng là 3,36 mg/l và 3,32 mg/l, sinh tổng hợp IAA với hàm
lượng tương ứng 10,11 µg/ml và 12,87 µg/ml. Ngoài khả năng cố định nitơ và sinh IAA, hai chủng AZT1 và
AZT7 còn có hoạt tính phosphatase, cellulase.
Từ khoá: Azotobacter sp., cố định nitơ, IAA, phân lập, vi khuẩn.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vi sinh vật cố định nitơ là các nhóm vi sinh
vật có khả năng chuyển hóa khí N2 dồi dào
trong không khí (79%) thành nitơ dạng
ammonium (NH4+) cung cấp cho thực vật.
Trong tự nhiên, các nhóm vi sinh vật cố định
nitơ có thể cung cấp cho hành tinh tới 240 x
106 tấn N/năm (gấp 6 lần lượng nitơ cả thế giới
2.2. Phân lập và nuôi cấy vi khuẩn
Azotobacter có khả năng cố định nitơ tự do
Hòa tan 10 g đất trong 90 ml nước cất tiệt
trùng, để ổn định ở 30oC trong 15 phút, pha
loãng mẫu (đến nồng độ 10-6), cấy trải dịch pha
loãng lên môi trường Ashby mannitol agar
(mannitol 20 g; K2HPO4 0,2 g; MgSO4.7H2O
0,2 g; NaCl 0,2g; K2SO4 0,1 g; CaCO3 5 g;
agar 15 g; nước cất 1000 ml; pH 7 - 7,2), ủ ở
30oC trong 72 giờ. Nhận dạng khuẩn lạc vi
khuẩn Azotobacter theo khóa phân loại của
Bergey (1989) dựa trên một số đặc điểm: Hình
thái khuẩn lạc, hình dạng tế bào vi khuẩn
(nhuộm Gram, quan sát dưới kính hiển vi), khả
năng di động, đặc tính sinh hóa (hoạt tính
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
3
Công nghệệ sinh học & Giống cây trồng
catalase, khả năng đồng hóa đư
ường mannitol,
glucose, fructose, lactose, sucrose).
sucrose
2.5. Xác định khảả năng phân giải phosph
phosphate
khó tan của các chủng đư
ảng 105 CFU/ml)
được cấy cùng tỉ lệ vào 15 ml môi trường
trư
Ashby
lỏng đựng trong các ống 50 ml, nuôi lắc
l 125
o
vòng/phút ở 30 C trong 72 giờ. Ly tâm thu
t dịch
+
trong và xác định nồng độ NH4 được cố định
bởi từng chủng Azotobacter trong dịch
d nuôi cấy
bằng phương pháp so màu với
ới thuốc thử Nessler,
Nessler
sử dụng đường chuẩn ammonium (hình 1).
NH4+ (mg/ml)
1
y = 0.011x + 0.003
R² = 0.996
0.5
0
0
50
lư
IAA
(Glickmann & Dessaux, 1995).
OD530nm
1
y = 0.011x + 0.003
R² = 0.996
0.5
0
0
20
40
60
80
Hình 2. Đồ
ồ thị chuẩn IAA
4
100
carbon: Nuôi cấy các
chủng Azotobacter trong
ong môi trường Ashby
lỏng bổ sung nguồn carbon khác nhau:
mannitol,
glucose,
sucrose,
maltose,
carboxymethyl cellulose (CMC)
(CMC). Điều chỉnh
môi trường đến pH thích hhợp, nuôi ở nhiệt độ
30ºC, lắc 125 vòng/phút. Sau 72 giờ, xác định
khả năng sinh trưởng,
ởng, cố định nit
nitơ và sinh tổng
hợp IAA của
ủa các chủng Azotobacter được
tuyển chọn.
Khả năng sinh trưởng,
ởng, phát triển của vi
khuẩn được
ợc đánh giá thông qua llượng sinh
TẠP
ẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ
V CÔNG NGHỆ
Ệ LÂM NGHIỆP SỐ 44-2015
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
trên môi trường Ashby mannitol agar ở 30oC
Kí
hiệu
chủng
AZT1
Hình thái
khuẩn lạc
Hình
dạng tế
bào
Gram
Khả
năng
di
động
+
Catalas
e
+
Tròn, trắng, bề Hình cầu
mặt bóng, nhầy
AZT2
Tròn, vàng sáng, Hình cầu
+
Bảng 2. Khả năng cố định nitơ của các chủng
Azotobacter sau 72 giờ nuôi lắc 125 vòng/phút, 30oC
Ký hiệu
Hàm lượng NH4+
chủng
(mg/ml)
AZT1
3,24
AZT2
2,50
AZT3
2,65
AZT4
3,05
AZT5
1,81
AZT6
3,09
AZT7
3,18
Kết quả nhận được (bảng 2) cho thấy cả 7
chủng Azotobacter đều có khả năng cố định
Khả năng đồng hóa
các loại đường
Hoạt tính enzyme
Oxidase
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
nitơ (phù hợp với lý thuyết vì để các chủng này
sinh trưởng được trên môi trường Ashby agar
không chứa nitơ thì chúng phải có khả năng cố
định N2 thành NH4+). Tuy nhiên, khả năng cố
định nitơ của 7 chủng Azotobacter là khác
nhau: 4 chủng có khả năng cố định nitơ mạnh,
sinh NH4+ với hàm lượng trên 3 mg/ml, gồm
các chủng AZT1, AZT4, AZT6, AZT7; trong
đó, chủng AZT1 có khả năng cố định nitơ
mạnh nhất (3,24 mg/ml), sau đó đến chủng
AZT7 (3,18 mg/ml), AZT6 (3,09 mg/ml),
AZT4 (3,05 mg/ml).
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
5
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
3.3. Tuyển chọn chủng có khả năng sinh
tổng hợp IAA
Kết quả xác định khả năng sinh tổng hợp
IAA của các chủng Azotobacter (bảng 3) cho
thấy cả 7 chủng vi khuẩn đều sinh tổng hợp
IAA, điều này cũng phù hợp với kết quả
nghiên cứu của Gomare và cộng sự (2013) đã
công bố khả năng sinh Indole là một trong các
đặc điểm đặc trưng của vi khuẩn Azotobacter.
Trong số 7 chủng vi khuẩn đã phân lập, có 2
chủng là AZT1 và AZT7 vừa có khả năng cố
định nitơ, vừa sinh IAA với hàm lượng cao:
Chủng AZT1 có khả năng cố định nitơ 3,24
mg/l, khả năng sinh IAA 10,72 µg/ml; chủng
AZT7 cố định nitơ 3,18 mg/l, sinh IAA 11,52
µg/ml. Hai chủng AZT1 và AZT7 được tuyển
chọn để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo.
3.4. Xác định khả năng phân giải phosphate
khó tan
Có nhiều bằng chứng khoa học trên thế giới
chứng minh vi khuẩn Azotobacter ngoài khả
năng cố định nitơ, sinh IAA, còn có thể phân
giải phosphate khó tan thành phosphate dễ tan.
Do vậy, nhiều loại phân bón sinh học cố định
nitơ còn có tác dụng tăng cường hiệu quả của
việc bón lân vô cơ cho cây trồng. Khả năng
phân giải phosphate khó tan thành phosphate
dễ tan của 2 chủng Azotobacter đã được tuyển
chọn về khả năng cố định nitơ và sinh IAA đã
được xác định. Kết quả (bảng 4) chỉ ra cả 2
chủng AZT1 và AZT7 đều có khả năng phân
giải phosphate khó tan. Hoạt tính phân giải
phosphate sau 72 giờ nuôi trên môi trường
Pykovskaya agar ở 30oC của chủng AZT1 là
D/d = 3,00, chủng AZT7 có D/d = 1,83.
Bảng 4. Khả năng phân giải phosohate của Azotobacter sp. sau 72 giờ trên môi trường Pykovskaya agar
Khả năng phân giải phosphate khó tan
hợp IAA của hai chủng AZT1 và AZT7 (bảng
5) cho thấy:
Hai chủng AZT1 và AZT7 có khả năng cố
định nitơ và sinh tổng hợp IAA trong môi
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
trường có pH từ 6 – 9, không cố định nitơ và
sinh tổng hợp IAA trong môi trường có pH 4
và pH 5. Khả năng cố định nitơ và sinh tổng
hợp IAA của hai chủng AZT1 và AZT7 là
mạnh nhất trong môi trường có pH 7 (hàm
lượng nitơ dạng ammonium được tạo ra bởi hai
chủng tương ứng là 3,24 mg/ml và 3,18
mg/ml), giảm nhẹ trong môi trường có pH 6 và
pH 8, giảm mạnh trong môi trường có pH 9.
Do vậy, pH môi trường nuôi cấy thích hợp cho
nuôi cấy AZT1 và AZT7 là pH 6 - 8, pH thích
hợp nhất là pH 7. Kết quả đạt được là phù hợp
với nhiều công bố khoa học trên thế giới về pH
thích hợp cho nuôi cấy Azotobacter là từ 7,2 8,2 (Aquilanti và cộng sự, 2004; Damir và
cộng sự, 2011).
Bảng 5. Ảnh hưởng của pH môi trường và nguồn carbon đến khả năng sinh trưởng, cố định nitơ và
sinh tổng hợp IAA của chủng AZT1 và AZT7
Khả năng sinh
0
0
5
-
-
0
0
0
0
6
++
++
2,97
3,051
8,30
9
+
+
0,78
1,17
2,21
5,06
Glucose
+++
+++
3,36
3,32
10,11
12,87
Sucrose
+
1,05
1,13
2,37
3,051
Mannitol
+++
+++
3,24
3,18
10,72
11,52
Điều kiện nuôi cấy
pH môi
trường
a
Bào nang
c
b
d
ĐC
AZT1
AZT2
AZT3
AZT4
ZT4
AZT5 AZT6
AZT7
e
Hình 3. Một
M số hình ảnh trong quá trình nghiên cứu
a,b: khuẩn lạc và
glucose, lactose, fructose,
se, sucrose.
- Đã tuyển chọn được 2 chủng
ủng Azotobacter
A
sp. kí hiệu AZT1 và AZT7 có khảả năng cố định
nitơ và sinh tổng
ổng hợp IAA với hàm
h
lượng cao.
Trong môi trường
ờng Ashby lỏng (glucose
(
20 g;
8
K2HPO4 0,2 g; MgSO4.7H2O 0,2 g; NaCl 0,2 g;
K2SO4 0,1 g; CaCO3 5 g; Agar 15 g; nước cất
1000 ml; pH = 7), nuôi ccấy ở 30oC trong 72
giờ, chủng AZT1 vàà AZT7 có kh
khả năng cố
định nitơ tương ứng là 3,36 mg/l và 3,32 mg/l,
sinh tổng hợp IAA với hàm
àm lư
lượng tương ứng
10,11 µg/ml và 12,87 µg/ml
- Ngoài khảả năng cố định nitơ và sinh tổng
hợp
ợp IAA, chủng AZT1 vvà AZT7 còn có hoạt
tính phosphatase
Kizilkaya (2009). Nitrogen fixation
capacity of azotobacter spp. strains isolated from soils
in different ecosystems and relationship between them
2. Ridvan
3. Glickman E, Dessaux Y (1995). A critical
examination of the specificity of the Salkowski reagent
for indolic compounds produced by phytopathogenic
bacteria. Appl Environ Microbiol 61: 793-795.
R.I. (1948). Mobilization of
phosphorus in soil in connection with vital activities by
some microbial species. Microbiologia, 17, 362-367
4. Pikovskaya,
5. Bergey's Manual
of
Systematic
Bacteriology
(1989).
SCREENING OF AZOTOBACTER STRAINS WITH THE ABILITY OF
NITROGEN FIXING AND SYNTHESIS OF INDOLE ACETIC ACID (IAA)
Nguyen Thi Thu Hang, Nguyen Thi Thuy
SUMMARY
Azotobacter sp. are soil bacterium, Gram-negative, motile, aerobic respiration. They have capability of nitrogen
TÓM TẮT
Nghiên cứu đặc điểm hình thái lá, quả, hạt và sự nảy mầm của hạt Đinh đũa cho thấy, dạng kép lông chim một
lần lẻ, dài 50 - 60 cm, 13 - 15 lá chét, phiến lá chét hình bầu dục thuôn, dài 15,1 cm, rộng 6,5 cm, không có
lông và không có lá kèm, mép lá nguyên hoặc hơi gợn sóng. Cây thường rụng lá vào cuối Xuân, đầu Hè. Vỏ
thân cây màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt. Hoa lưỡng tính, mọc thành chùm, hình loa kèm, màu trắng, đường kính
7,9 cm, 4 nhị đính trên ống tràng, thụ phấn nhờ côn trùng. Cây ra hoa theo đợt rải rác từ tháng 5 đến tháng 11.
Quả nang dài 86,9 cm, chín tự nứt vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 của năm sau, chu kỳ sai quả thường là 3 năm.
Hạt nhỏ có cánh dài 3,0 cm, rộng 0,9 cm, không còn cánh dài 0,7 cm, rộng 0,5 cm, khối lượng 1000 hạt đạt
62,5 gram, thu hái xong nên gieo ươm ngay, để lâu có thể giảm sức nảy mầm. Tỷ lệ nảy mầm của hạt tươi mới
đạt 56,8%; 56,2% và 55,7% tương ứng với công thức NT; NN và HM. Hạt qua cất trữ một năm trong điều kiện
phòng chỉ nảy mầm khi xử lý GA3, 20 ppm, tỷ lệ chỉ đạt 3,4%. Thế nảy mầm của hạt tươi mới đạt 38,6%;
37,1% và 35,9% tương ứng với các nghiệm thức NT; NN và HM, của hạt cất trữ 1 năm là 2,5% (HM). Chỉ số
nảy mầm của hạt đạt 2192; 2085 và 2000 tương ứng với NT; NN và HM. Thành công của nghiên cứu này góp
phần cung cấp thông tin, cơ sở cho nhân giống Đinh đũa bằng hạt, tạo cây con cho trồng rừng tập trung hay
trồng cây phân tán trong các khuôn viên cơ quan, công sở.
Từ khóa: Đặc điểm hình thái lá, nảy mầm của hạt, nhân giống Đinh đũa, quả và hạt.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
II. VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đinh đũa (Stereospermum colais) hay Quao
xanh, một loài cây bản địa có phổ sinh thái
rộng, giá trị nhiều mặt, ngoài cung cấp gỗ lớn
có giá trị kinh tế, các bộ phận khác của cây có
thể dùng làm nguyên liệu dược liệu chữa bệnh
hữu hiệu trong các bài thuốc y học cổ truyền
và hiện đại.
2.1. Vật liệu
hoa, kích thước các bộ phận của hoa bằng
thước kẹp panme.
Quan sát mô tả hình thái, đo kích thước quả,
hạt bằng thước kẹp panme; xác định khối
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
lượng 1000 hạt bằng cân điện tử có độ chính
xác 10-4 gram cho từng mẫu riêng biệt, thí
nghiệm lặp lại 3 lần.
6 giờ. Số liệu thu thập được xử lý theo phương
pháp thống kê sinh học thường dùng trong lâm
nghiệp trên phần mềm ứng dụng Excel 5.0.
Xử lý hạt trước khi gieo theo 3 phương
pháp khác nhau: Ngâm hạt trong nước lã thông
thường ở nhiệt độ phòng (20 - 30oC), (kí hiệu
là NT); Ngâm hạt trong nước ở nhiệt độ 40 45oC, (kí hiệu là NN) và Ngân hạt trong
hormone (GA3, nồng độ 10 ppm, kí hiệu là
HM), sau đó hạt được rửa sạch dưới vòi nước
chảy. Thời gian xử lý cho cả 3 phương pháp là
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm hình thái lá, hoa, quả và hạt
của loài Đinh đũa
Lá của loài Đinh đũa dạng kép lông chim
một lần lẻ, kích thước khá lớn, số lượng lá chét
chiều dài và rộng là 55,0 và 29,0 cm tương
ứng. Trên mỗi lá kép mang từ 13 đến 17 lá
chét, không cuống, chiều dài và chiều rộng là
15,1 và 6,5 cm tương ứng, lớn hơn lá chét của
cây Lát hoa (12 và 5 cm tương ứng). Các lá
chét mọc đối nhau từng cặp, lá cuối to, dài, đầu
lá nhọn, mép lá nguyên hoặc hơi gợn sóng.
Tuy nhiên, quan sát thực tế cho thấy có sự
khác nhau về màu sắc lá của loài cây này trong
khu vực nghiên cứu. Theo đó, ngoài sự xuất
hiện những cá thể có lá màu vàng xanh, số
lượng lớn, còn phát hiện thấy nhiều cá thể khác
có lá màu xanh thẫm. Song nhìn chung số cá
thể có lá màu vàng xanh chiếm ưu thế hơn.
Tìm hiểu sâu hơn sự khác nhau về màu sắc
lá có thể là cần thiết, chẳng hạn nghiên cứu về
biến dị màu sắc lá, hay xác định nguồn giống
ban đầu đem trồng (tại rừng thực nghiệm núi
Luốt) được lấy ở một hay nhiều địa điểm,
hoặc có thể từ các xuất xứ khác nhau của cùng
một loài.
V,%
14,3
13,2
X
29,0
6,5
điểm phát tán hạt của chúng. Thông thường
phải chờ ít nhất 2 tháng sau rụng lá, tán cây với
nhiều chồi non mới bật ra và bung lá.
Song bù lại những chồi lá non mới xuất hiện
có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, không tới 3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
11
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
tuần lễ, toàn thân cây đã thay bằng một bộ tán
lá mới xanh mướt, cảm giác mát rượi.
chúng được điều tra, đo đếm từ các mẫu thu
thập tại hiện trường.
Trong chọn giống cây rừng, tìm hiểu đặc
điểm vật hậu của một loài cây nào đó là việc
làm bắt buộc. Trong nghiên cứu này, đặc điểm
hình thái hoa và kích thước các bộ phận của
Kết quả đo đến kích thước và mô tả đặc
hiểm hoa của Đinh đũa được tổng hợp trong
bảng 2.
Bảng 2. Đặc điểm hình thái và kích thước các bộ phận của hoa loài Đinh đũa
Nụ hoa
4,9
V,%
0,0
5,9
8,0
1,2
3,6
0,0
2,8
1,3
Đặc điểm hình thái
Hoa dạng chùm, mỗi
nhánh mang 3 nụ hoa,
nụ giữa lớn hơn 2 nụ
bên, tràng hoa dạng ống
hình loa, màu trắng
Phần gốc chỉ nhị đính
xung quanh ống tràng
Nhụy nhô cao hơn nhị
màu vàng đính xung quanh gốc ống tràng
hình loa kèn. Đinh đũa là loài cây cho hoa
đẹp, có giá trị cho trồng cây cảnh đường phố,
khuôn viên cơ quan, công sở, tạo dáng đẹp,
rợp mát và ưa nhìn.
Hình 1. Nụ hoa và quả non (trái), hoa nở rộ (phải) của loài Đinh đũa
thường dùng trong các bữa ăn gia đình, chính
đặc điểm này nên cây có tên gọi là Đinh đũa.
Mặc khác, do có phân bố rộng, cùng với tán lá
có màu xanh nên còn gọi là Quao xanh hay
Quao núi.
Trong nghiên cứu này, kết quả điều tra, thu
thập mẫu và đo đếm kích thước quả, hạt của
Đinh đũa được tổng hợp trong bảng 3.
Số liệu bảng 3 và hình 2 cho thấy, quả Đinh
đũa thường thẳng đến hay hơi xoắn vặn, kích
thước chiều dài quả đạt 86,9 cm hoặc hơn,
chiều rộng (bề dày) là 1,4 cm. Khi chín quả
buông thõng với kích thước dài, tạo cảm giác
ưa nhìn, khá thú vị. Cắt ngang quả chín cho
thấy, một trục hóa gỗ cứng chắc nằm chính
giữa quả, đặc điểm này giúp cho quả có khả
năng chịu đựng được sức nặng khi mang quả
và hạt của chúng trong suốt thời gian dài. Khi
chín quả tự nứt dọc theo chiều dài giúp gia tăng
khả năng phát hạt cùng một lúc hiệu quả hơn.
Bảng 3. Kích thước quả, hạt và khối lượng 1000 hạt của loài Đinh đũa
TT
1
2
3
4
Chi tiêu
1,4
0,9
0,5
13,4
21,7
15,1
Khối lượng 1000 hạt (gram)
X
V,%
62,5
-
4,4
-
0,9 cm tương ứng, trong khi dạng không còn
cánh chỉ tiêu trên chỉ đạt 0,7 và 0,5 cm. Tuy
nhiên, hạt khá mỏng, phần giữa hơi gồ cao hơn
xung quanh, tất cả hạt được xếp chồng lớp một
cách khéo léo dọc hai bên trục giữa hóa gỗ
cứng chắc của quả nang dài trên nửa mét có
thể là hơi xoắn vặn.
Hình 2. Hình thái quả (trên) và hạt (dưới) của loài Đinh đũa
Đướng kính tán: Dt (m)
Chiều cao dưới cành: Hdc (m)
Thể tích thân cây: V (dm3)
Số lượng vết nứt: số vết/dm2 vỏ
Chiều dài trung bình vết nứt vỏ
Nhưng mọi sự lo lắng của con người về vấn
đề nêu trên có thể không cần thiết. Vì như đã
mô tả ở phần trên, thời điểm quả chín và phát
tán hạt giống lại trùng vào thời điểm rụng lá
của cây, khi đó cây thưa thoáng chỉ có thân,
cành, rõ ràng thực vật cũng “khôn ngoan”, tự
biết rụng lá để hạt phát tán đi xa hơn thay vì
phải vận chuyển tương tự.
Kết quả xác định một số chỉ tiêu về hạt cho
thấy, khối lượng 1000 hạt đạt 62,5 gram, tương
đương 16.000 hạt/kg hạt, song tương đối ổn
định với hệ số biến động nhỏ (4,4%), trong khi
các chỉ tiêu về kích thước có hệ số biến động
cao hơn (15,1 - 21,7%).
Như vậy, từ những kết quả và phân tích
trên, có thể cho phép nghĩ rằng, đặc điểm hình
thái, cấu trúc hoa, kích thước, khối lượng hạt
và sự sắp xếp hạt trong mỗi quả của loài Đinh
đũa không ngoài mục đích giúp cho chúng có
X
V,%
chúng, nhất là trong các khu rừng tự nhiên.
Trong nghiên cứu này, đặc điểm hình thái vỏ
được điều tra, mô tả và tổng hợp trong bảng 4
và hình 3.
Số liệu bảng 4 và hình 3 cho thấy, Đinh đũa
là loài có thân vỏ màu vàng nhạt đến nâu nhạt,
với nhiều vết nứt vỏ khá đặc trưng. Đặc điểm
này giúp cho việc phân biệt và nhận diện
chúng trong các khu rừng một cách khá dễ
dàng, thuận tiện. Chính do vỏ thân cây có màu
vàng nhạt nên loài cây này còn có tên tiếng
Anh “Yellow snake tree” hay tạm dịch là “cây
con rắn vàng”.
Hình 3. Hình thái vỏ (trái) và dạng vết nứt (phải) của Đinh đũa tại khu vực núi Luốt
14
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
nhô cao trên mặt phẳng bông hoa.
Mặt khác, số liệu bảng 4 cũng cho thấy, tốc
độ sinh trưởng đường kính, chiều cao của Đinh
đũa là khá đến trung bình. Kết quả điều tra
cũng cho thấy, những cá thể có vỏ thân màu
nâu nhạt (có số vết nứt vỏ trung bình là 18,2
trên mỗi dm2, chiều dài vết nứt trung bình
các phương pháp xử lý khác nhau được tổng
hợp trong bảng 5.
Bảng 5. Tỷ lệ nảy mầm của hạt theo các phương pháp xử lý khác nhau
Tỷ lệ nảy mầm theo các phương pháp xử lý khác nhau (%)
NT
NN
HM
Nguồn hạt
Hạt tươi, mới
Hạt cất trữ 1 năm
X
V,%
X
V,%
X
V,%
56,8
0,0
54,0
0,0
56,2
55,7
50
40
30
20
10
3,4
0
0
0
NT
Hạt tươi mới
NN
HM
Nghiệm thức
Hạt cất trữ 1 năm
Hình 4. Tỷ lệ nảy mầm của hạt theo nguồn hạt và cách xử lý khác nhau
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
75,3
41,0
38,3
28,7
45,7
46,3
29,0
65,0
49,3
69,3
74,7
48,7
34,3
36,7
29,3
18,7
28,3
14,0
40,0
29,7
9,7
14,0
16,3
Cộng
318,0
314,7
20,0
10,0
0,0
1
2
NT
3
4
5
NN
6
7
8
Ngày
HM
Hình 5. Diễn biến nảy mầm của hạt theo thời gian với các cách xử lý
16
NT
Nguồn hạt
Hạt tươi, mới
Hạt cất trữ 1 năm
HM
X
V,%
X
V,%
X
V,%
38,6
0,0
26,9
0,0
37,1
0,0
51,8
60
56,2
55,7
50
40
38,6
37,1
35,9
30
20
10
Nghiệm thức
0
Thế NM
TL NM
Thế NM
NT
TL NM
chất lượng cây con, cùng với chất lượng di
truyền giúp nâng cao chất lượng rừng trồng.
Trong nghiên cứu này, chất lượng gieo ươm
của hạt được phản ánh qua tiêu chí tổng hợp,
đó là: chỉ số nảy mầm của hạt (tích số giữa thế
nảy mầm trung bình và tỷ lệ nảy mầm trung
bình), nghĩa là hạt có chỉ số nảy mầm cao cũng
phản ánh chất lượng hạt giống cao và ngược
lại, kết quả của nghiên cứu này được tổng hợp
trong bảng 8.
Bảng 8. Chỉ số nảy mầm của nguồn hạt theo nghiệm thức khác nhau
Nguồn hạt
Hạt tươi, mới
Hạt cất trữ
Thế nảy mầm (%)
NT
NN
HM
38,6 37,1 35,9
0
0
2,5
Tỷ lệ nảy mầm (%)
NT
NN
HM
Bảng 9. Sinh trưởng cây con 4 tháng tuổi theo các phương pháp xử lý hạt khác nhau
Nghiệm thức
NT
NN
HM
TB
18
Sinh trưởng của cây con Đinh đũa, 4 tháng tuổi ở giai đoạn vườn ươm
Doo (mm)
Hvn (cm)
X
V,%
TB/Tháng
X
V,%
TB/Tháng
4,1
3,1
3,0
44,2
giai đoạn 4 tháng tuổi, cây con ở nghiệm thức
NT có chỉ số nảy mầm cao thì cũng thu được
trị số cao về đường kính gốc 4,1 mm và chiều
cao 39,5 lớn hơn so với các nghiệm thức khác
trong cùng chỉ tiêu so sánh.
đơn giản, rẻ tiền và đạt hiệu quả.
Ngoài ra, trong nghiên cứu này thử nghiệm
gieo ươm trên nền cát và trực tiếp vào bầu đất
cũng đã được tiến hành, kết quả sơ bộ cho
thấy, hạt gieo trên nền cát sau đó cấy vào bầu
đất cho tỷ lệ cây sống cao và chất lượng tốt
hơn. Điều này rất có ý nghĩa trong gieo ươm
nhằm nâng cao tỷ lệ cây xuất vườn và đảm bảo
chất lượng cây con cho trồng rừng.
Như vậy, một lần nữa chứng tỏ, hạt Đinh
đũa nên gieo ươm ngay khi thu hái, và xử lý
hạt trước khi gieo ươm bằng nước thường, vừa
45,0
39,5
40,0
36,2
36,1
35,0
30,0
1) Đinh đũa là loài cây có lá kép lông chim
một lần lẻ, dài 50 - 60 cm, với 13 - 15 lá chét,
phiến lá chét hình bầu dục thuôn, dài 15,1 cm,
rộng 6,5 cm, nhọn thành đuôi ở đầu, không có
lông và không có lá kèm, mép lá nguyên hoặc
hơi gợn sóng. Cây thường rụng lá theo mùa
vào cuối Xuân, đầu Hè. Vỏ thân cây màu vàng
nhạt hoặc nâu nhạt, khoảng 18,2 vết nức dọc
trên mỗi dm2 vỏ thân, chiều dài vết nứt của vỏ
trung bình 6,8 cm.
2) Hoa lưỡng tính, mọc thành cụm dạng
chùy, đường kính hoa 7,9 cm, nhị 4 đính trên
cành tràng hình loa kèm màu trắng, dài 4,0 cm,
vòi nhụy dài 4,9 cm, thụ phấn nhờ côn trùng.
Cây ra hoa theo đợt, rải rác từ tháng 5 đến
tháng 11. Quả nang, dài trung bình 86,9 cm,
đường kính 0,9 - 2,0 cm, hóa gỗ nhiều hay ít,
quả chín tự nứt vào cuối tháng 4, đầu tháng 5
của năm sau, chu kỳ sai quả thường là 3 năm.
3) Hạt nhỏ có cánh, vỏ và cánh đều mỏng
(gần giống hạt Lát hoa), hạt còn cánh dài trung
bình 3,0 cm, rộng trung bình 0,9 cm, hạt không
còn cánh dài trung bình 0,7 cm, rộng trung bình
0,5 cm, khối lượng 1000 hạt đạt 62,5 gram, thu
hái xong nên gieo ươm ngay, để lâu có thể
giảm sức nảy mầm;
4) Tỷ lệ nảy mầm của hạt Đinh đũa mới thu
hái đạt 56,8; 56,2 và 55,7% với công thức NT;
NN và HM tương ứng. Hạt qua cất trữ một
wound healing studies on different extracts of
Stereospermum colais leaf, Int.J.Res. Pharm. Sci.Vol-1,
Issue- 4, pp. 435- 439. Tamil Nadu, India.
www.ijrps.pharmascope.org
5. R. Vijaya Bharathi, B. Kumudha Veni, Jayashree,
L. Suseela and M. Thirumal (2010). Antioxidant and
wound healing studies on different extracts of
Stereospermum colais leaf, Int.J.Res. Pharm.Sci.Vol-1,
Issue-4,
pp.
435-439.
Tamil
Nadu,
India.
www.ijrps.pharmascope.org
RESEARCH ON MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF LEAVES,
FRUITS AND SEEDS AS WELL AS SEED GERMINATION OF YELLOW
SNAKE TREE (STERROSPERMUM COLAIS)
Hoang Vu Tho
SAMMARY
Studying on morphological characteristics of leaves, fruits and seeds as well as germination of Yellow snake
tree show that, it has compound lesf of single feather pattern, 50-60cm in length, consisting 13-15 leaflets long
oval-bladed, 6-15.1cm long, 3-6.5 wide, no fur, no stipule. It is bisexual tree. The flower has 4 staments,
attached on the white trumpet-like corolla. The flower are in cluster and insect-pollination; flowering time
scratters from May to Norvember. Capsule fruit is 86.9cm long or more, 0.9cm wide, more or less woody,
cracked in late April early May of the next year. The seed is small, thin skin, thin-membraned wing, 3.0cm long
and 0.9cm wide including the wing; 0.7cm long and 0.5 wide including no wing; 1,000-grain weight seeds
62.5grm, harvested seeds should be sown soon, so long times reduced capacity germination. The rate of
germination of fresh seed reached 56.8; 56.2 and 55.7% with NT; NN and HM formulas respectively.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định giống và khoảng cách trồng phù hợp sản xuất Chùm ngây làm rau
theo hướng hữu cơ tại tỉnh Đồng Nai. Thí nghiệm hai yếu tố được bố trí theo kiểu lô phụ, 3 lần lặp lại, trên nền
phân bò hoai mục với lượng 30 tấn/ha. Yếu tố lô chính (A) là 3 mật độ trồng (A1: 100 cây/m2; A2: 133 cây/m2 và
A3: 200 cây/m2) và yếu tố lô phụ (B) là 5 giống (B1: giống Chiatai nhập từ Thái Lan; B2: giống thu thập từ
Bình Thuận; B3: giống thu thập từ Ninh Thuận; B4: giống thu thập từ Đồng Nai; B5: giống thu thập từ Bà Rịa
– Vũng Tàu). Kết quả nghiên cứu cho thấy giống Chùm ngây Ninh Thuận có hàm lượng dinh dưỡng và
flavonoid đạt cao nhất; sinh trưởng tốt trong điều kiện sinh thái ở Đồng Nai; năng suất sinh khối đạt 171,7 và
198,7 tấn/ha; năng suất lá thực thu 36,6 và 36,9 tấn/ha tương ứng với hai điểm nghiên cứu Cẩm Mỹ và Trảng
Bom. Mật độ gieo trồng thích hợp nhất trồng Chùm ngây làm rau là 100 cây/m2. Tổ hợp giống Chùm ngây
Ninh Thuận và mật độ 100 cây/m2 cho năng suất lá thực thu đạt 30,53 tấn/ha, hiệu quả kinh tế cao nhất đạt 418
triệu đồng/ha.
Từ khóa: Dinh dưỡng, giống Chùm ngây, mật độ, năng suất, flavonoid.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chùm ngây (Moringa oleifera L.) là loài
cây bản địa thuộc chi Moringa và họ
Moringaceae, hiện được hơn 80 quốc gia trên
thế giới sử dụng rộng rãi trong công nghệ dược
phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát, dinh dưỡng và
thực phẩm chức năng. Các quốc gia đang phát
triển sử dụng Chùm ngây như dược liệu kỳ
diệu chữa bệnh hiểm nghèo (Fahey, 2005). Lá
Chùm ngây rất giàu dinh dưỡng, hiện được
WHO và FAO xem như là giải pháp ưu việt
cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh
dưỡng, và là giải pháp lương thực cho thế giới
thứ ba (Fuglie, 1999).
Ở Việt Nam, Chùm ngây là cây bản địa mọc
tự nhiên tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận,
Đồng Nai, Kiên Giang… Do cây Chùm ngây
Ấn Độ đã thành công trong việc phát triển và
chọn ra được hai giống Chùm ngây
Periyakulam 1(PKM-1) và Periyakulam2
(PKM-2).
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
21
Lâm sinh
Theo quan sát của tác giả, hiện nay ở Việt
Nam xuất hiện hai giống Chùm ngây đọt xanh
và tím, nguồn gốc cũng không rõ ràng. Để
đánh giá chắc chắn giống nào có năng suất,
hàm lượng dinh dưỡng, dược liệu cao đòi hỏi
phải có một công trình nghiên cứu một cách
bài bản về vấn đề này.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm
hiểu ảnh hưởng của giống và khoảng cách trồng
đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng lá
Chùm ngây trồng với mật độ dày, làm cơ sở cho
việc đề xuất quy trình canh tác cây Chùm ngây
làm rau theo hướng hữu cơ tại tỉnh Đồng Nai.
II. VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
5 giống Chùm ngây gồm 1 giống Chiatai có
nguồn gốc từ Thái Lan và 4 giống có nguồn
gốc từ các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng
Đồng Nai
5
BR
Bà Rịa – Vũng Tàu
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 5 –
12/2013 trên 2 địa điểm: (1) Đất xám phù sa cổ
thuộc Trung tâm Thực nghiệm và Phát triển
công nghệ, Trường Đại học Lâm nghiệp – Cơ
sở 2, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và (2)
Đất đỏ bazan thuộc Trung tâm Sinh học công
nghệ cao, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
* Nền thí nghiệm:
Các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc và
thu hoạch tại hai điểm thí nghiệm được thực
hiện theo quy trình như sau:
- Làm đất: Đất thí nghiệm được cày và bừa
bằng máy cày, sử dụng các công cụ làm đất để
làm sạch cỏ dại và thực bì sau đó lên luống,
phủ bạt nilon, đục lỗ trồng.
- Trồng: Hạt giống xử lý nảy mầm và được
gieo ở độ sâu 2 cm, gieo 2 hạt/hố. Ở 15 ngày
sau mọc mầm (NSMM) chỉ giữ lại 1 cây khoẻ
mạnh/hố.
Lâm sinh
- Chỉ tiêu năng suất: Các cây trong ô thí
nghiệm được cắt ở độ cao cách mặt đất 30 cm,
các lần sau cắt cao hơn lần cắt trước 20 cm, cắt
5 đợt/vụ.
Năng suất được phân thành: (1) Năng suất
sinh khối cá thể; (2) năng suất cuống lá (lá
kép); (3) năng suất lá lý thuyết và (4) năng suất
lá thực thu/12 m2.
+ Năng suất sinh khối cá thể (g/cây): Năng
suất sinh khối tươi (thu cách mặt đất 30 cm ở
lần thu thứ 1 và các lần thu tiếp cách vị trí cắt
trước 20 cm) của trung bình trên 5 cây ngẫu
nhiên trên mỗi ô thí nghiệm (g/cây)/3 lần lặp
lại. Năng suất sinh khối lý thuyết (tấn/ha) =
năng suất sinh khối cá thể x mật độ lý thuyết
(cây/ha) x hệ số quy đổi đơn vị.
+ Năng suất cuống lá lý thuyết (tấn/ha):
Năng suất tươi sau khi loại bỏ phần thân cây,
chỉ để lá kép (gồm cuống lá và lá) của trung bình
5 cây ngẫu nhiên trên mỗi ô thí nghiệm (g/cây) x
mật độ lý thuyết x hệ số qui đổi đơn vị.
+ Năng suất lá lý thuyết (tấn/ha/lần thu
hoạch): Năng suất ngọn non và lá tươi của
trung bình 5 cây ngẫu nhiên trên mỗi ô thí
nghiệm (g/cây) x mật độ lý thuyết x hệ số qui
đổi đơn vị.
+ Năng suất lá thực thu (kg/12 m2/lần thu
hoạch): Năng suất ngọn và lá tươi thực thu
hấp thụ dinh dưỡng từ đất tốt nên tốc độ sinh
trưởng chiều cao diễn ra mạnh. Chiều cao cây đạt
cao nhất là giống Ninh Thuận, thấp nhất là giống
Chiatai Thái Lan ở hai địa điểm nghiên cứu.
- Số lá trên cây: Chỉ tiêu số lá/cây đóng vai
trò quan trọng trong việc hình thành năng suất
lá. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác
nhau về chỉ tiêu số lá/cây từ lúc gieo đến cây
đạt 60 ngày tuổi (tuần thứ 8). Ở Trảng Bom, số
lá/cây giữa các giống tham gia thí nghiệm
không có sự khác biệt có ý nghĩa (P>0,05) ở
tuần tuổi thứ 1, 3, 5, 6, 7. Ngược lại ở Cẩm
Mỹ, số lá/cây giữa các giống tham gia thí
nghiệm có sự khác nhau một cách có ý nghĩa
(p
TL
BT
NT
ĐN
BR
CV%
P
55,08 d
61,11 b
63,60 a
57,86 c
56,91 c
7,70
kính thân
(mm)
5,91 c
6,57 b
7,04 a
6,38 b
6,39 b
6,96
58,77 b
Cá thể
(g/cây)
110,27 d
125,63 b
Cẩm Mỹ
Lý thuyết
(tấn/ha)
156,24 d
178,25 bc
NSCL
(tấn/ha)
53,38 d
60,46 bc
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 4-2015
Lâm sinh
NT
ĐN
BR
CV%
P
120,48 a
105,89 c
57,00 cd
6,16
NSTT
(tấn/ha)
(kg/12m2)
29,82 e
28,29 e
36,57 b
33,43 b
39,04 a
35,17 a
34,13 c
31,66 c
31,88 d
29,85 d
6,96