SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP.HCM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
GIÁO ÁN GIẢNG DẠY
BÀI: CHÍ KHÍ ANH HÙNG
( Trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du)
Người soạn: Ngô Thị Hồng Ngọc
Khoa: Ngữ Văn
I.
Mục tiêu bài học:
Giúp học sinh:
1. Kiến thức:
- Hiểu được chí khí anh hùng của Từ Hải dưới ngòi bút sáng tạo
của Nguyễn Du.
- Thấy được tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ trong việc diễn
tả chí khí anh hùng, khát vọng tự do của nhân vật.
2. Kĩ năng:
- Đọc hiểu một đoạn thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.
3.
Thái độ:
- Có ý thức tạo dựng cho bản thân mình những khát vọng sống cao
đẹp.
-Có tinh thần tự tin, quyết đoán trong mọi việc và sống có trách
nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội.
hiện mơ ước công lí “báo oán trả ân” phân minh. Trong Kim Vân Kiều
truyện, Thanh Tâm Tài Nhân giới thiệu Từ Hải có hiệu là Minh Sơn, vốn
người đất Việt, là một tay hảo hán, tâm tính khoáng đạt, độ lượng lớn lao,
anh hùng, rất mực tinh thông thao lược nhưng lại xuất thân từ một nho sinh
thi hỏng, bỏ đi làm nghề buôn bán... có vẻ tầm thường. Trong Truyện Kiều,
Nguyễn Du đã lược bỏ những chi tiết tầm thường ấy, sử dụng bút pháp lãng
mạn với những hình ảnh tượng trưng ước lệ để xây dựng nhân vật Từ Hải
vừa là 1 bậc đại trượng phu anh hùng cái thế, 1 tráng sĩ tung hoành thiên hạ
vừa là 1 người có tấm lòng độ lượng. Từ Hải chính là nhân vật thể hiện giấc
mơ anh hùng, tự do và công lí của Nguyễn Du. Khi tả cảnh chia tay của Từ
Hải với Thúy Kiều, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ nói trong một câu (Vợ chồng
đoàn tụ chừng nửa năm, Từ Hải liền từ biệt Thúy Kiều ra đi) nhưng
Nguyễn Du lại miêu tả cuộc chia tay đầy lưu luyến ấy bằng 18 câu lục bát .
Bài học hôm nay của chúng ta sẽ đi tìm lời giải đáp cho hình tượng người
anh hùng với tên gọi đoạn trích “Chí khí anh hùng”
HOẠT ĐỘNG CỦA GV- HS
YÊU CẦU CẦN ĐẠT
Hoạt động 1: Tìm hiểu chung
I.TÌM HIỂU CHUNG
GV tóm tắt cốt truyện từ đầu đến đoạn trích
1. Tác giả: ( SGK)
này:
Hạnh lừa bán nàng vào lầu xanh lần thứ hai. Ở
đây, Kiều gặp Từ Hải - người anh hùng khao
khát tự do, chống lại triều đình. Kiều được Từ
Hải chuộc ra. Sau “nửa năm hương lửa đương
nồng”, Từ Hải lại ra đi theo giấc mộng anh
hùng. Đoạn trích hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm
hiều sẽ là cuộc chia tay của Từ Hải và Thuý
Kiều
GV nêu vị trí đoạn trích
Đoạn trích này gồm 18 câu thơ lục bát trích từ
câu 2213-2230 thuộc phần gia biến và lưu lạc
trong Truyện Kiều. Trong KVKT không có cảnh
tiễn biệt, Thanh Tâm Tài Nhân không nói Từ
Hải ra đi như thế nào, không nói Kiều ở nhà
mong nhớ ra sao. Như vậy, đoạn trích này là
sáng tạo riêng của Nguyễn Du.
?Đầu tiên, trước khi đọc đoạn trích thì em có
b. Ý nghĩa nhan đề: “chí khí anh hùng”:
ấn tượng gì về nhan đề của nó?
Chí là ý muốn bền bỉ nhằm theo đuổi 1 mục
=>Chí khí anh hùng: lòng quyết tâm, lí
đích, một điều tốt đẹp nào đó. Còn Khí có nghĩa
tưởng và khí phách của con người phi
vẫy chốn “dặm khơi” (Từ Hải dứt áo ra đi).
Hoạt động 2: Tìm hiểu nội dung
II. ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN
1. Bốn câu thơ đầu:
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã có một sự
“Nửa năm hương lửa đương nồng
thông báo về khoảng thời gian hạnh phúc ấm
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn
êm của Từ Hải và Thuý Kiều. Đó là: Nửa năm
phương”
hương lửa đương nồng. “Hương lửa đương
-Thành ngữ “Hương lửa đương nồng”:
nồng” là một cách nói ước lệ về cuộc sống vợ
cuộc sống vợ chồng đang hạnh phúc
chồng đang hạnh phúc đang viên mãn, mặn
ấm hương lửa đương nồng, Từ mới thực sự là
Từ. Thế nên kẻ trượng phu ấy “thoắt đã động
-Hình ảnh ước lệ: “động lòng bốn phương”:
lòng bốn phương”
chí nguyện lập công danh, thỏa chí nam nhi.
? Theo em, “trượng phu” có nghĩa là gì?
=> lí tưởng anh hùng trung đại, quyết tâm
Đó là một danh từ Hán Việt dùng để chỉ người
thay đổi thiên hạ.
đàn ông tài giỏi, có chí khí. Qua cách dùng từ ta
có thể thấy được sự trân trọng, cảm phục mà
=>Tính cách, khí phách anh hùng và hoài
Nguyễn Du đã dành cho nhân vật này, bởi vì
bão lớn lao của Từ Hải.
hơn ba ngàn câu thơ, tác giả chỉ dùng từ một
lần duy nhất hai tiếng trượng phu mà đã dành
nó cho Từ Hải.
rong”
- “Trông vời” => cái nhìn của một người
?Em hiểu “trông vời” là như thế nào?
anh hùng biết suy xét.
Đó là một cái nhìn xa xăm.Cụm từ “Trời bể
-Cụm từ “Trời bể mênh mang”: không gian
mênh mang”chỉ không gian rộng lớn, bao la.
rộng lớn, bao la.
Tầm nhìn của Từ Hải lập tức phóng xa về một
không gian cao rộng như vô tận, một tâm trạng
đầy suy tư nghĩ ngợi của người có chí lớn. Đây
là một chi tiết thể hiện sự tính toán suy xét,
nhìn xa trông rộng của người anh hùng Từ Hải.
Đi kèm với vẻ suy nghĩ sâu xa ấy là hành động
rất dứt khoát, mạnh mẽ: Thanh gươm yên
ngựa lên đường thẳng rong.
Hai câu thơ đã vẽ ra một bức tranh đẹp về tư
thế và tầm vóc của Từ Hải: Trên một nền cảnh
xa rộng, nổi bật lên là hình ảnh người nam nhi
với một thanh gươm, một mình một ngựa
hướng thẳng về phía trước.
GV: so sánh với cảnh chia tay của Kiều và Thúc
Sinh:
Cảnh chia tay của Kiều và Từ Hải khác hẳn với
cảnh chia tay của Kiều và Thúc Sinh:
“Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san”
Qua hai câu thơ trên, ta cảm nhận được sự bịn
rịn, lưu luyến, nỗi lo lắng bất an của Kiều vì
Thúc Sinh ra đi lần này lành ít dữ nhiều. Thiên
nhiên cảnh vật vào thu đượm một màu buồn, nó
lại càng làm cảnh tiễn biệt thêm phần lâm li.
Từ và Kiều chia tay lại là cuộc chia tay của một
người anh hùng với vợ mình, không hề bịn rịn,
sướt mướt. Từ đã lên ngựa sẵn sàng ra đi rồi
mới nói lời chia tay thể hiện sự mạnh mẽ, dứt
khoát của người anh hùng xuất chúng. Như vậy
ta có thể thấy sự tài tình của Nguyễn Du là làm
bật chí khí anh hùng của nhân vật ở mọi khía
cạnh.
Sau lời của nhà thơ viết về tâm trạng và quyết
định của “trượng phu” là lời đối thoại của đôi
vợ chồng. Đối với Thúy Kiều, Từ Hải không chỉ
như một người chồng mà còn như một vị ân
nhân có ơn vô cùng lớn đã cứu Kiều thoát khỏi
chốn lầu xanh ô nhục. Vì vậy, trước quyết tâm
ra đi vì nghiệp lớn của chồng mình, Thúy Kiều
đã xin đi theo để là người chăm sóc, nâng khăn
Từ Hải.
đức học được đặt ra mang tính chất chuẩn mực
=> Vẻ đẹp nhân cách của Kiều
của người phụ nữ. Tòng tiếng Hán có nghĩa là
theo, Tam tòng gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá
tòng phu, phu tử tòng tử”. Kiều dựa vào lẽ đó
mà nói với Từ Hải cho đúng đạo nghĩa vợ
chồng. Trong lời thỉnh cầu ấy, không chỉ có ý
thức về bổn phận của người vợ đối với chồng
mà còn là mong muốn được chia sẻ, gánh vác
với chồng trước sóng gió cuộc đời.
? Lời nói như vậy thể hiện Thuý Kiều là người
vợ như thế nào?
Đây là một chi tiết điểm tô thêm nét đẹp nhân
cách của hình tượng nhân vật Thuý Kiều. Kiều
hiện lên là một người vợ có trách nhiệm, biết sẻ
chia cùng chồng, cư xử đúng đạo nghĩa phu thê,
tri âm tri kỉ của cuộc đời Từ Hải.
Kiều không chỉ là một người vợ mà còn là tri
kỉ của Từ Hải, là sự đồng cảm giữa hai con
người bị xã hội ruồng rẫy: một gái thanh lâu,
một tên giặc cỏ.Sau những năm tháng lang
thang, khổ ải và nhục nhã, đây là thời gian hạnh
phúc như trong mơ của nàng. Kiều không muốn
-Câu hỏi tu từ “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi
của Từ Hải đối với Thuý Kiều?
thường tình?”
Đây là một câu hỏi tu từ không dùng để hỏi mà
=>Cách nói rất khéo léo
là một cách nói rất khéo léo vừa động viên, vừa
=> Từ Hải là người anh hùng thông minh,
tin tưởng Kiều sẽ vượt qua sự yếu đuối của nữ
tinh tế.
nhi thường tình để xứng đáng là vợ của một
đấng anh hùng. Một người vợ của anh hùng
cũng phải khac những người vợ bình thường
?Qua câu hỏi ấy chứng tỏ Từ Hải là người
như thế nào?
Qua câu hỏi ấy chứng tỏ Từ Hải là người anh
hùng thông minh, tinh tế. Nó góp phần thể hiện
nét đẹp trí tuệ bên cạnh vẻ đẹp tầm vóc,hình thể
của anh hùng Từ Hải đã được Nguyễn Du miêu
đường”
=> Niềm tin, khát vọng xây dựng cơ
đồ, làm nên sự nghiệp lớn
Niềm tin, khát vọng xây dựng cơ đồ của Từ Hải
là để xứng đáng với một giai nhân tri kỉ như
Kiều. Từ Hải phải làm cho “ rõ mặt phi
thường”, tức là trở con người tài năng xuất
chúng, cho thiên hạ thấy được sự phi thường.
Lúc đó Từ Hải mới đường hoàng nghĩ đến việc
đưa Kiều lên vị trí một mệnh phụ phu nhân:
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
“Làm cho rõ mặt phi thường
?Em hiểu thế nào về câu “Bấy giờ ta sẽ rước
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”
nàng nghi gia”?
-Hình ảnh“ rõ mặt phi thường” => Con
“Nghi gia” trong Kinh thi có nghĩa là “nên cửa
người tài năng xuất chúng.
nên nhà”, là nghi thức đón người con gái về làm
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì”
Từ Hải bên cạnh việc vẽ ra trước mắt Kiều một
viễn cảnh đẹp đẽ thì giờ đây đã viện ra hoàn
cảnh thực tại để thêm phần thuyết phục người
“Bằng nay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận biết là đi đâu”
-Hoàn cảnh thực tại: “bốn bể không nhà,
theo càng thêm bận”=> sự nghiệp mới bắt
đầu, còn nhiều khó khăn.
thương. Hoàn cảnh thực tại: “bốn bể không nhà,
theo càng thêm bận”đã nhắc nhở Kiều rằng sự
nghiệp mới bắt đầu, còn nhiều khó khăn. Trong
hoàn cảnh như vậy, sự đi theo của phận nữ nhi
liễu yếu đào tơ chỉ làm người anh hùng thêm
bận lòng. Ta nghe như lời nói của Từ Hải dường
như có một chút ngậm ngùi, một chút vô tình
nhưng không làm cho người ta nhụt chí mà lại
tạo động lực cố gắng cho người anh hùng.
Chàng lại tỏ ra là một người rất gần gũi, am
hiểu tâm lí vợ mình khi khẳng định chắc nịch
rằng:
“Đành lòng chờ đó ít lâu
“Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
HS trả lời theo cách nghĩ riêng.
GV chốt: Như vậy đoạn hai là một màn đối
thoại, tác giả nhường hẳn lời cho nhân vật. Các
nhân vật bộc lộ phẩm chất của mình qua ngôn
ngữ đối thoại. Nếu như ở Thuý Kiều là lối nói
đúng mực của người đàn bà nên nếp, trọng bổn
phận đạo lí, nhưng cũng không thiếu phần kiên
tâm, thì ở Từ Hải là một lối nói sắt đá, quyết
đoán của một bậc trượng phu, song cũng không
thiếu tình cảm.
Cách chia tay của Từ Hải rất khác biệt ở chỗ
những lời chia tay được thay bằng những lời
hứa vào một chiến thắng không xa, sự quyến
luyến được thay bằng một quyết tâm vào tương
lai. Tác giả đã khép lại đoạn thơ hào hùng bằng
hai câu:
“Quyết lời dứt áo ra đi
3. Hai câu cuối:
“Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”
? Thái độ, cử chỉ của Từ Hải thể hiện như thế
-Thái độ, cử chỉ “Quyết lời dứt áo ra đi”
nào qua hai câu thơ trên?
ý nghĩa gì?
=> Từ Hải dứt khoát ra đi mang theo khát
GV bình: Chim bằng trong thơ văn tượng trưng vọng, hoài bão lớn lao vẫy vùng chốn “dặm
cho khát vọng của người anh hùng có bản lĩnh
khơi”
phi thường khao khát làm nên sự nghiệp lớn.
Tản Đà cũng từng có câu thơ: “Gió hỡi gió
phong trần ta đã chán/ Cánh chim bằng chín vạn
những chờ mong” để nói về khát vọng tự do.
Đem hình ảnh chim bằng so sánh với tư thế ra
đi của Từ Hải, Nguyễn Du muốn ví Từ Hải như
chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển
lớn. Từ đó tác giả muốn khẳng định Từ Hải
chính là bậc anh hùng có tầm vóc phi thường,
hoài bão lớn lao vẫy vùng chốn dặm khơi.
?Theo em Nguyễn Du đã gửi gắm điều gì qua
nhân vật Từ Hải?
Nhân vật Từ Hải là nhân vật được Nguyễn Du
dụng công ra sức tái tạo lại một cách lí tưởng từ
KVKT. Nhân vật này thể hiện ước mơ về người
anh hùng lí tưởng của Nguyễn Du : chân dung
kì vĩ, chí khí, tài năng, bản lĩnh phi thường, thực
hiện giấc mơ công lí.
? Em thích nhất nét tính cách nào của người
Ước mơ về người anh hùng lí tưởng
+ Chí khí phi thường, mưu cầu nghiệp lớn.
dung và nghệ thuật của đoạn trích như sau:
+ Tự tin, bản lĩnh.
Các em thân mến, vừa rồi chúng ta đã tìm hiểu
+ Dứt khoát, kiên quyết mà lại rất tâm lí, sâu
qua một đoạn trích thể hiện giấc mộng anh hùng sắc và gần gũi.
của Nguyễn Du. Trong vănhọc trung đại có
Qua nhân vật Từ Hải, thể hiện quan niệm về
không ít hình tượng người anh hùng, và thường
người anh hùng lí tưởng và gửi gắm ước mơ
thì theo lí tưởng quân tử theo quan điểm chính
công lí của tác giả.
thống của Nho gia, nghĩa là trung quân ái quốc.
b. Nghệ thuật
Thế nhưng Từ Hải - biểu tượng về người anh
-Bút pháp lí tưởng hoá khi xây dựng nhân
người anh hùng trong thời hiện đại mà trước hết
là học tập và rèn luyện tốt để trở thành những
công dân tốt.
V. Củng cố và dặn dò
1. Củng cố:
- Nắm được vẻ đẹp của nhận vật Từ Hải dưới ngòi bút sáng tạo của
Nguyễn Du và bút pháp tả nhân vật người anh hùng lí tưởng.
2. Dặn dò:
- Học thuộc đoạn trích
- Soạn bài : Thề nguyền ( Truyện Kiều)