BỘ Y TẾ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÙI VĂN KHÁNH
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA XÉT NGHIỆM KÍCH
THÍCH TRONG CHẨN ĐOÁN DỊ ỨNG VỚI NSAIDs
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2014
1
BỘ Y TẾ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÙI VĂN KHÁNH
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA XÉT NGHIỆM KÍCH THÍCH
TRONG CHẨN ĐOÁN DỊ ỨNG VỚI NSAIDs
Chuyên ngành:
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
này.
Hà Nội, ngày tháng năm
Người cam đoan ký và ghi rõ họ tên
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ
17
Chương 1 - TỔNG QUAN
20
1.1.
1.2.
1.3.
TÌNH HÌNH DỊ ỨNG THUỐC NSAIDs
20
31
1.3.4. Tính an toàn khi thực hiện test kích thích
33
1.3.5. Đánh giá kết quả
33
1.3.6. Điều trị các phản ứng quá mẫn khi xét nghiệm kích
thích dương tính
1.3.7. Một số hạn chế của xét nghiệm kích thích
35
22
30
35
Chương II - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.
36
2.2.4. Các bước thu thập số liệu
37
2.2.5. Kỹ thuật tiến hành test kích thích
38
2.2.6. Biến số và chỉ số nghiên cứu
42
2.2.7. Làm sạch và xử lý số liệu
42
2.2.8. Đạo đức trong nghiên cứu
44
Chương III - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
45
3.1.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NHÓM BỆNH NHÂN
NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố theo giới
3.3.3. Đặc điểm xét nghiệm lẩy da
Error:
Referen
ce
source
not
found
Error:
Referen
ce
source
not
found
Error:
Referen
ce
source
not
found
Error:
Referen
ce
source
not
found
Error:
Referen
ce
source
Error:
Referen
ce
source
not
found
Error:
Referen
ce
source
not
found
Error:
Referen
ce
source
not
found
Error:
Referen
ce
3.3.3. Kết quả xét nghiệm kích thích theo từng thuốc
3.3.4. Liều thuốc cho kết quả xét nghiệm kích thích dương
tính
3.3.5. Thời gian xuất hiện phản ứng khi tiến hành xét
nghiệm kích thích
Error:
Referen
ce
source
not
found
55
58
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADR
AERD
Adverse Drug Reaction
(Phản ứng có hại của thuốc)
Asprin Exacerbation Respirator Disease
(Hen phế quản nhạy cảm với aspirin)
AGEP
Acute Generalised Exanthematous Pustulosis
(Ban mụn mủ cấp vô khuẩn toàn thân)
BAT
Basophil Activation Test
Stevens – Johnson Syndrome
(Hội chứng Stevens – Johnson)
TEN
Toxic Epidermal Necrolysis
(Hội chứng hoại tử thượng bì nhiễm độc)
WAO
World Allergy Organization
(Tổ chức Dị ứng Thế giới)
WHO
World Health Organization
(Tổ chức y tế Thế giới)
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Bảng 3.1
Phân bố theo giới
Bảng 3.2
Phân bố theo độ tuổi
Bảng 3.3
not
found
Bảng 3.5
Số lần bệnh nhân có tiền sử nghi ngờ dị ứng NSAIDs
Bảng 3.6
Tiền sử dị ứng
Bảng 3.7
Tiền sử bệnh dị ứng
Bảng 3.8
Thời gian từ khi bắt đầu dùng thuốc đến khi phản ứng
dị ứng xuất hiện
Bảng 3.9
Tiền sử biểu hiện lâm sàng dị ứng với NSAIDs
Bảng 3.10 Kết quả nội soi tai mũi họng
Error:
Refere
nce
Bảng 3.11 Kết quả X-Quang hệ xoang
Bảng 3.12 Xét nghiệm lẩy da với dị nguyên bọ nhà Dp/Df
Bảng 3.13 Nồng độ IgE toàn phần
Bảng 3.14 Nồng độ IgE đặc hiệu với Dp/Df
Bảng 3.15 Kết quả xét nghiệm kích thích
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
Refere
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 3.1
Biểu đồ 3.2
Biểu đồ 3.3
Biểu đồ 3.4
Biểu đồ 3.5
Biểu đồ 3.6
Biểu đồ 3.7
Biểu đồ 3.8
Biểu đồ 3.9
xét nghiệm này trong chẩn đoán và điều trị. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có
nghiên cứu nào đánh giá vai trò của xét nghiệm kích thích với NSAIDs trong
chẩn đoán bệnh nhân có tiền sử nghi ngờ dị ứng với NSAIDs. Với mong
muốn làm sáng tỏ bằng chứng khoa học có giá trị về tính hữu dụng của xét
nghiệm này trong chẩn đoán dị ứng thuốc tại Việt Nam và nhằm hiểu rõ hơn
về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, cũng như giá trị chẩn đoán xét nghiệm
kích thích với NSAIDs trên bệnh nhân có tiền sử nghi ngờ dị ứng với
NSAIDs, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giá trị của xét
nghiệm kích thích trong chẩn đoán dị ứng với NSAIDs” với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm bệnh nhân có tiền sử nghi
ngờ dị ứng NSAIDs.
Mô tả kết quả xét nghiệm kích thích trong chẩn
đoán bệnh nhân có tiền sử nghi ngờ dị ứng với
NSAIDs.
Chương I
TỔNG QUAN
1.1. TÌNH HÌNH DỊ ỨNG THUỐC NSAIDs
Dẫn xuất salicylate được phát hiện năm 1763, và là dẫn xuất giảm đau hạ sốt
đầu tiên được phát hiện. Các thuốc giảm đau hạ sốt khác nhau về cấu trúc, gồm các
dẫn xuất của salicylate, pyrazolon, anilin, indol và một số thuốc khác. Tất cả các
thuốc trên đều có tác dụng hạ sốt, giảm đau, riêng dẫn xuất anilin còn có tác dụng
chống viêm. Chính vì lý do đó các thuốc này được gọi với tên chung là thuốc
chống viêm không steroid (NSAIDs). Hàng ngày có tới trên 17 triệu người Mỹ sử
dụng các loại thuốc giảm đau, chống viêm không steroid (NSAIDs) khác nhau,
khiến cho nhóm thuốc này được xếp hạng là một trong những nhóm thuốc được sử
dụng nhiều nhất trên thế giới. Trung tâm kiểm soát bệnh tại Mỹ dự báo về tình
dụng xét nghiệm kích thích đánh giá tình trạng quá mẫn NSAIDs ở 63 trẻ em có
tiền sử quá mẫn với NSAIDs cho kết quả 68,2% được chẩn đoán xác định có quá
mẫn với NSAIDs không theo cơ chế miễn dịch, 41,9% quá mẫn type 1, trong tổng
số 119 xét nghiệm kích thích được thực hiện 73% xét nghiệm kích thích dương
tính (53,4% dương tính với Ibuprofen, 37% dương tính với paracetamol), phù
mạch gặp 86,3%, có thể có kết hợp với mày đay hoặc phù mạch đơn thuần. [2], [9],
[10], [11], [12], [13].
1.1.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam cho tới nay đã có nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng dị ứng
thuốc chung, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về tình trạng dị ứng
NSAIDs đơn độc, và các nghiên cứu có cỡ mẫu chưa đủ lớn và còn hạn chế về mặt
địa lý.
21
Tác giả Nguyễn Năng An là người đầu tiên công bố nghiên cứu dị ứng thuốc
tại Hà Nội từ năm 1970 - 1973, kết quả nghiên cứu cho thấy dị ứng thuốc giảm đau
hạ sốt chiếm tỷ lệ 7,3%, đứng thứ 2 sau dị ứng kháng sinh.
Năm 1993, tác giả Phạm Văn Thức nghiên cứu dị ứng thuốc tại Hải Phòng
cho kết quả dị ứng với thuốc giảm đau hạ sốt chiếm tỷ lệ 6,25%, tỷ lệ này cũng
đứng thứ hai sau dị ứng kháng sinh.
Năm 1996, tác giả Nguyễn Văn Đoàn nghiên cứu tình trạng dị ứng thuốc tại
khoa Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, bệnh viện Bạch Mai từ năm 1991 - 1995, báo
cáo tình trạng dị ứng thuốc giảm đau chống viêm cũng đứng thứ 2 sau dị ứng
kháng sinh, chiếm tỷ lệ 5,3% trong 532 thuốc gây dị ứng. Cùng tác giả này nghiên
cứu trên 30 bệnh nhân tại Trung tâm Dị ứng - MDLS Bệnh Viện Bạch Mai 1995 1999 cho thấy thuốc gây dị ứng nhiều nhất là paracetamol (29,03%), analgin
(22,58%), seda và decolgen (12,9%), với các triệu chứng lâm sàng hay gặp như
mày đay (33,3%), ban đỏ (73,3%). [14], [15].
Qua đó, có thể thấy dị ứng thuốc giảm đau, chống viêm, hạ sốt chiểm tỷ lệ
phát nhanh, tổn thương đồng thời nhiều cơ quan như da, hô hấp, tim mạch, tiêu hóa
và có thể gây tử vong sau một vài phút đến một vài giờ sau tiếp xúc với thuốc. Hầu
hết thuốc NSAIDs đã được báo cáo có phản ứng sốc phản vệ: ibuprofen, ketorolac,
indomethacin, sulindac, zomepirac, fenoprofen, meclofenamate, naproxen,
piroxicam, tolmetin, glafenine, acetaminophen, aspirin, diclofenac và celecoxib.
[12], [22].
1.2.1.2. Phản ứng quá mẫn chậm
Hồng ban nhiễm sắc cố định: được đặc trưng bởi các mảng tăng sắc tố trên
da tái đi tái lại cùng một vị trí khi sử dụng lại thuốc. Các thuốc gây hồng ban
23
nhiễm sắc cố định đã được báo cáo gồm có metamizole, piroxicam,
phenylbutazone, paracetamol, aspirin, mefenamic, diclofenac, indomethacin,
ibuprofen, diflunisal, naproxen, và nimesulide. [13], [23], [24].
Hội chứng Stevens-Johnson/TEN: là các phản ứng dị ứng xuất hiện muộn,
tuy nhiên đây là những phản ứng nghiêm trọng có thể đe dọa tính mạng bệnh nhân.
Ban đầu bệnh nhân xuất hiện các ban đỏ trên da, sau đó xuất hiện các chấm tím đỏ,
kèm theo đau, trong vòng 12-24 giờ xuất hiện bọng nước, bong da sau dùng thuốc
NSAIDs. Diện tích tổn thương da dưới 10% diện tích cơ thể kèm theo loét hai hốc
tự nhiên trở lên được chẩn đoán là SJS, diện tích này trên 30% được chẩn đoán là
TEN, khoảng 10-30 % được chẩn đoán sự chồng chéo giữa SJS và TEN. Trong số
thuốc NSAIDs, oxicams, phenylbutazone và phenbutazone được báo cáo gây ra
các phản ứng dị ứng nghiêm trọng trên. Một số báo cáo gần đây gặp SJS/TEN khi
dùng thuốc ức chế COX-2, đặc biệt là valdexoxib và celecoxib. [3], [25].
Ban đỏ mụn mủ cấp tính (AGEP) là một bệnh hiếm gặp do thuốc NSAIDs,
được đặc trưng bởi sự khởi phát hàng nghìn mụn mủ vô khuẩn trên nền da đỏ rất
nhanh, có thể kèm theo sốt, tăng bạch cầu trung tính sau dùng thuốc NSAIDs.
Thuốc NSAIDs hay gặp gây ban đỏ mụn mủ cấp tính là ibuprofen,
Viêm gan do NSAIDs cũng là bệnh lý hiếm gặp, trong số các NSAIDs thì
niflumic acid, tolfenamic acid, diclofenac, fenoprofen, ibuprofen, indomethacin,
naproxen, piroxicam, pirprofen và sulindac hay gây viêm gan. Herdeg và cộng sự
đã báo cáo trường hợp metamizole gây viêm gan dị ứng với đặc trưng bởi tăng
men gan, ban đỏ, bệnh nhân được chẩn đoán nhờ xét nghiệm chuyển dạng lympho
bào. [3], [26].
25