Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 20102012 - Pdf 42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
BHXH
BHYT
NLĐ
NSDLĐ
ĐVSDLĐ
DNNN
DN FDI
DNNQD
HCSN
HTX
UBND
CNTT

Tên đầy đu
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Người lao động
Người sử dụng lao động
Đơn vị sử dụng lao động
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Hành chính sự nghiệp
Hợp tác xã
Ủy ban nhân dân
Công nghệ thông tin


LỜI MỞ ĐẦU

- Thời gian: từ năm 2010 đến năm 2012


4. Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phân tích thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh
5. Nội dung: Kết cấu chuyên đề của em gồm 3 chương:
Lời mở đầu
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại
Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2010-2012.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm
xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Tường.


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
Khi tham gia BHXH, các đối tượng đều phải tuân thủ những quy định của
Nhà nước về mức đóng, thời gian đóng và điều kiện được hưởng các chế độ
BHXH. Thu BHXH luôn gắn với quyền lực của Nhà nước bằng hệ thống pháp
luật. Vì vậy ta có thể hiểu:
“Thu BHXH là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối
tượng tham gia phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép những
đối tượng tự nguyện tham gia được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng
phù hợp với thu nhập của mình.Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập

điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ.
Từ quá trình quản lý đã định hướng công tác thu BHXH trên cơ sở xác định
mục tiêu chung của quản lý hoạt động thu BHXH đó là: thu đúng, thu đủ, không
để thất thu từ đó hướng mọi nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó.
- Hoạt động thu BHXH được điều hòa, phối hợp nhịp nhàng.
Nhờ thực hiện nhiệm vụ chỉ huy của người quản lý mà quy trình thu BHXH
được tổ chức, phối hợp và hướng dẫn nhịp nhàng giữa các cá nhân, từ đó tăng
cường tính ổn định trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu quản lý thu BHXH.
- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức.
Từ công tác đánh giá, khen thưởng những cá nhân, tổ chức thu BHXH tốt,
đạt hiệu quả cao; uốn nắn những lệch lạc, sai sót của cá nhân trong tổ chức có
biểu hiện làm thất thoát số thu hoặc số thu đạt hiệu quả thấp so với tiềm năng
hiện có sẽ góp phần đảm bảo hoạt động thu BHXH ổn định, bền vững, hiệu quả.
1.2.3. Kiểm tra, đánh giá hoạt động thu bảo hiểm xã hội.
Thu BHXH là một trong những nội dung của tài chính BHXH, mà thông
thường bất kỳ một hoạt động nào liên quan đến hoạt động tài chính đều rất dễ
mắc tình trạng gây thất thoát, vô ý hoặc cố ý làm sai. Vì vậy, nhiệm vụ mà
người quản lý phải đảm nhiệm là: Kiểm tra hoạt động thu BHXH để đánh giá
một cách kịp thời và toàn diện những việc đã làm được và những việc chưa làm
được, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm về Luật BHXH. Nếu hoạt
động quản lý được hoạt động thường xuyên, sát sao thì công tác kiểm tra, đánh
giá sẽ thuận tiện hơn, kết quả đánh giá sẽ sát với thực tiễn diễn ra tại các đơn vị.
1.3. NỘI DUNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.3.1. Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
1.3.1.1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.


Theo quy định tại Điều 2 – Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006
và Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007, NLĐ tham gia
BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

Hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân.


1.3.1.2. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
+ Các công ty Nhà nước thành lập theo luật Doanh nghiệp nhà nước đang
trong thời gian chuyển đổi thành công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty Cổ
phần theo Luật Doanh nghiệp.
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác.
+ Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật.
+ HTX, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
+ Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho NLĐ.
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh
thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước
quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định khác.
* NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân,
người làm công tác cơ yếu, bao gồm:
Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính
phủ;
Cơ quan, tổ chức khác sử dụng người làm công tác cơ yếu;
Doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ.
1.3.2. Quản lý tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
NLĐ thuộc đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy
định: tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH là tiền lương theo ngạch bậc, cấp
bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung,

- Nguyên tắc đóng BHXH:
Hàng tháng chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, NSDLĐ đóng BHXH,
trên quỹ tiền lương, tiền công của những NLĐ tham gia, đồng thời trích từ tiền
lương, tiền công tháng của từng NLĐ theo mức quy định đóng cùng lúc vào tài
khoản chuyên thu của cơ quan BHXH tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.
Hàng tháng NSDLĐ được giữ lại 2% số phải nộp vào quỹ ốm đau, thai sản
để chi trả kịp thời 2 chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ. Hàng quý thực hiện
quyết toán với cơ quan BHXH, trường hợp tổng số tiền quyết toán nhỏ hơn số
tiền giữ lại thì NSDLĐ phải nộp số chênh lệch này vào tháng đầu quý sau.
NSDLĐ đóng BHXH bằng hình thức chuyển khoản. Nếu NSDLĐ và NLĐ
đóng BHXH bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải hướng dẫn thủ tục nộp tiền
vào tài khoản chuyên thu của mình. Nếu NSDLĐ hoặc NLĐ nộp tiền mặt trực


tiếp tại cơ quan BHXH thì chậm nhất sau ba ngày làm việc, cơ quan BHXH phải
nộp tiền vào tài khoản chuyên thu mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước.
NLĐ được cử đi học, thực tập, công tác, nghiên cứu đi điều dưỡng ở trong
và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc sinh hoạt phí ở đơn vị trước khi
được cử đi vẫn phải đóng BHXH; NLĐ có hợp đồng ở nhiều đơn vị tại một thời
điểm thì chỉ đăng ký đóng BHXH theo một HĐLĐ.
- Cơ quan BHXH Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ
đóng BHXH cho NLĐ, kể cả NLĐ làm việc theo HĐLĐ trong các doanh nghiệp
thuộc lực lượng vũ trang, trực tiếp vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH
mở tại Kho bạc Nhà nước Trung Ương.
- NSDLĐ là các doanh nghiệp sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp thực
hiện trả tiền lương, tiền công cho NLĐ theo mùa vụ hoặc chu kỳ có thể đóng
BHXH theo quý hoặc 6 tháng một lần nhưng phải xuất trình phương án sản xuất
và phương thức trả lương cho NLĐ để cơ quan BHXH có căn cứ giải quyết.
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, cá nhân có thuê mướn trả công cho
NLĐ, sử dụng dưới 10 lao động có thể đóng BHXH theo quý nhưng phải đăng

+ Căn cứ tình hình thực tế của địa phương để phân cấp quản lý thu BHXH
cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
+ Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu liên quan đến NLĐ tham gia BHXH trên
địa bàn tỉnh.
+ Xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện công tác cấp
sổ BHXH theo phân cấp quản lý và quyết toán số tiền thu BHXH đối với BHXH
huyện theo định kỳ quý, 6 tháng, năm và lập “Biên bản thẩm định số liệu thu
BHXH bắt buộc”
Bảo hiểm xã hội huyện: Tổ chức, hướng dẫn thực hiện thu BHXH, cấp sổ
BHXH với NSDLĐ theo phân cấp quản lý.
- Lập và giao kế hoạch thu hàng năm
Bảo hiểm xã hội huyện: Từ tình hình thực hiện năm trước và khả năng mở
rộng NLĐ tham gia BHXH trên địa bàn, lập 2 bản “Kế hoạch thu BHXH bắt
buộc” năm sau gửi 01 bản đến BHXH tỉnh trước ngày 05/11 hàng năm.
Bảo hiểm xã hội tỉnh: Lập 02 bản dự toán thu BHXH đối với NSDLĐ do
tỉnh quản lý, đồng thời tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản “Kế hoạch thu BHXH bắt
buộc” năm sau, gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày 15/11 hàng năm. Căn
cứ dự toán thu của BHXH Việt Nam, phân bổ dự toán thu BHXH cho các đơn vị
trực thuộc BHXH tỉnh và BHXH huyện trước ngày 20/01 hàng năm.


Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ:
Lập kế hoạch thu BHXH gửi BHXH Việt Nam trước ngày 15/11 hàng năm.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch năm trước
và khả năng phát triển đối tượng năm sau của các địa phương, tổng hợp, lập và
giao dự toán thu BHXH cho BHXH tỉnh và BHXH Bộ Quốc phòng, Bộ Công an
và Ban Cơ yếu Chính phủ trước ngày 10/01 hàng năm.
- Quản lý tiền thu
Bảo hiểm xã hội tỉnh và huyện không được sử dụng tiền thu BHXH bắt
buộc. Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch - Tài chính) và BHXH huyện có

không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đó,
trong đó quan trọng nhất là hệ thống chính sách về BHXH. Bên cạnh đó, tăng
trưởng kinh tế sẽ làm cho thu nhập của NLĐ tăng, nhờ đó NLĐ sẵn sằng tham
gia BHXH và đóng góp ở mức cao hơn, dẫn tới thu BHXH tăng.
Sự điều chỉnh về chính sách, pháp luật BHXH của Nhà nước: Khi Nhà
nước có những sửa đổi về chính sách, pháp luật BHXH đều có sự tác động tới
hoạt động thu- chi BHXH.
Nhận thức của xã hội về lĩnh vực BHXH: Khi NLĐ và NSDLĐ cũng như
toàn xã hội nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của chính sách BHXH thì
họ sẽ có ý thức tự giác trong việc tham gia BHXH, vì vậy đối tượng tham gia và
thụ hưởng chính sách sẽ tăng lên, theo đó sẽ có tác động tới quản lý thu BHXH.
Chính sách tiền lương của Chính phủ: Chính sách tiền lương là cơ sở cho
việc thực hiện chính sách BHXH. Khi Nhà nước tăng lương tối thiểu lên điều đó
cũng đồng nghĩa với việc nâng mức đóng BHXH do vậy số thu BHXH tăng lên.
Đội ngũ cán bộ BHXH: Để NSDLĐ và NLĐ hiểu về các chính sách
BHXH, trước hết cán bộ BHXH phải nắm chắc kiến thức chuyên môn, từ đó có
thể giải đáp thắc mắc kịp thời cho người tham gia. Mặt khác, cần xây dựng quy
trình thu có hiệu quả, giúp cho đối tượng tham gia BHXH không những hiểu mà
còn tham gia và đóng BHXH một cách tự giác, đầy đủ.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN VĨNH TƯỜNG
GIAI ĐOẠN 2010 – 2012
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI
HUYỆN VĨNH TƯỜNG.
2.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển.


BHXH huyện Vĩnh Tường thành lập theo Quyết định số 1328/QĐ-TCCB
ngày 25/10/2001 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam. BHXH huyện Vĩnh
Tường. Qua hơn 12 năm hoạt động, BHXH huyện ngày càng khẳng định được

cửa

Bộ
phận
cấp sổ,
thẻ

Bộ
phận kế
toán-tài
chính

Bộ
phận
giám
định

(Nguồn: BHXH huyện Vĩnh Tường)
Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban tại BHXH huyện được quy định cụ thể:
- Giám đốc: Là người đứng đầu cơ quan BHXH huyện, trực tiếp quản lý,
điều hành, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về công tác BHXH của huyện.


- Phó giám đốc: Trực tiếp quản lý, điều hành, phụ trách cơ quan khi giám
đốc vắng mặt. Được ủy quyền ký, giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền
của giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc về những việc đã ký và giải
quyết. BHXH huyện có một phó giám đốc phụ trách công tác chính sách; một
phó giám đốc phụ trách công tác BHXH tự nguyện, ba chế độ ngắn hạn, quản trị
hành chính cơ quan.
- Bộ phận thu: giúp giám đốc BHXH huyện quản lý và thực hiện nhiệm vụ

03
02


Bộ phận một cửa
01
Bộ phận cấp sổ, thẻ
02
Bộ phận kế toán – tài chính
01
Bộ phận giám định
01
(Nguồn: BHXH huyện Vĩnh Tường)
Trình độ chuyên môn của cán bộ công chức tại BHXH huyện như sau:
- Đại học:
6 người; chiếm 46.2%;
- Cao đẳng:
4 người; chiếm 30.7%;
- Trung cấp:
2 người; chiếm 15.4%;
- Đang học đại học tại chức:
1 người; chiếm 7.7%;
Cán bộ công chức tại BHXH huyện có kinh nghiệm trong thực tiễn và trình
độ chuyên môn, có khả năng tiếp thu nhiệm vụ chuyên môn nhanh, ham học hỏi,
cầu tiến, có tinh thần trách nhiệm. Với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đầy
trách nhiệm, BHXH huyện Vĩnh Tường luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao và đạt được những kết quả nhất định trong hoạt động BHXH.
2.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị.
Được sự quan tâm của BHXH tỉnh cũng như của các cấp ủy Đảng, chính
quyền, đến nay BHXH huyện Vĩnh Tường đã xây dựng một tòa nhà 2 tầng với

2.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO
HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN VĨNH
TƯỜNG GIAI ĐOẠN 2010-2012
2.2.1. Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
2.2.1.1. Tình hình tham gia BHXH bắt buộc cua đơn vị sử dụng lao động.
Để thuận tiện cho việc quản lý cũng như để phù hợp với nét đặc thù của từng
khối đơn vị, số ĐVSDLĐ trên địa bàn huyện được phân chia thành 7 khối. Danh
sách và số lượng các đơn vị ở từng khối được BHXH huyện quản lý và cập nhật
một cách thường xuyên và khá đầy đủ thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.2: Tình hình tham gia BHXH bắt buộc của các đơn vị sử dụng
lao động trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2010 – 2012
Năm

Khối, đơn vị
DNNN
DNNQD
DN FDI

2010

2011

2012

Số đơn Số đơn Số đơn Số đơn Số đơn Số đơn
vị thuộc vị tham vị thuộc vị tham vị thuộc vị tham
diện
gia
diện
gia

23
19

16
14


HCSN
Ngoài công lập
HTX
Xã, phường
Tổng

55
55
55
55
2
2
2
2
3
2
3
3
7
7
7
7
108

gia đạt 10 doanh nghiệp, đến năm 2011 có 12 doanh nghiệp tham gia tăng 20%
so với năm trước. Năm 2012, số đơn vị tham gia BHXH lên tới 16 doanh
nghiệp, tăng 4 đơn vị tương ứng 33,3% so với năm 2011. Trong vòng 3 năm số
doanh nghiệp tham gia BHXH tăng thêm 6 đơn vị, tương ứng tăng 60%. Tuy
nhiên, trên thực tế, số đơn vị tham gia BHXH trên địa bàn huyện luôn ít hơn số
đơn vị thuộc diện phải tham gia. Năm 2010, số đơn vị thuộc diện phải tham gia
BHXH là 17 đơn vị song chỉ có 10 đơn vị tham gia. Đến năm 2012, trên địa bàn
huyện có 16 đơn vị trong tổng số 23 đơn vị thuộc diện tham gia BHXH, chiếm
69,5% tổng số đơn vị thuộc diện phải tham gia.
- Đối với khối DN FDI, số doanh nghiệp tham gia BHXH qua các năm cũng
tăng song mức độ tăng không đáng kể. Năm 2010, số doanh nghiệp tham gia
BHXH đạt 11 đơn vị. Năm 2012, số doanh nghiệp tham gia BHXH đạt 14 đơn


vị, tăng 3 đơn vị so với năm 2010 tương ứng tăng 21,4%. Giống như khối
DNNQD, ta thấy số đơn vị tham gia BHXH thực tế của khối DN FDI luôn đạt
mức thấp hơn so với số đơn vị thuộc diện tham gia của khối ngành này trên địa
bàn huyện trong giai đoạn 2010-2012. Năm 2010 khối này có 15 đơn vị thuộc
diện tham gia nhưng chỉ có 11 dơn vị tham gia BHXH cho NLĐ. Năm 2011
khối ngành này có 17 doanh nghiệp thuộc diện tham gia BHXH nhưng chỉ có 12
doanh nghiệp tham gia, đạt tỷ lệ 70,6%. Năm 2012, cũng chỉ có 14 doanh
nghiệp tham gia BHXH trong tổng số 19 doanh nghiệp thuộc diện phải tham gia
trên địa bàn.
- Khối HCSN là khối sử dụng nguồn ngân sách nhà nước. Từ bảng số liệu ta
thấy số đơn vị tham gia BHXH trong khối HCSN lớn nhất trong các khối ngành
và không đổi qua các năm, đạt 55 đơn vị. Đây cũng là khối ngành đạt tỷ lệ 100%
số đơn vị thuộc diện tham gia đã tham gia BHXH trên địa bàn huyện.
- Các khối ngành ngoài công lập, HTX, khối xã, phường có số đơn vị tham
gia BHXH qua các năm không có sự biến động nhiều. Trong đó số đơn vị tham
gia BHXH của khối ngoài công lập; xã, phường không thay đổi qua 3 năm.

Số lao
Số lao
Số lao
Số lao
Số lao
Số lao
động
động
động
động
động
động
thuộc
tham
thuộc
tham
thuộc
tham
diện
gia
diện
gia
diện
gia
tham gia (người) tham gia (người) tham gia (người)
(người)
(người)
(người)
641
334


1.209
1.724

61
59
134

54
59
134

61
64
134

54
64
134

56
66
137

49
66
137

Tổng


gia BHXH giảm nhẹ ở mức 1.007 người tham gia mặc dù có thêm 1 doanh
nghiệp tham gia BHXH trong năm này. Nguyên nhân là vì các doanh nghiệp cắt
giảm lao động do điều kiện sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn trong tình
hình kinh tế lạm phát tăng cao. Y thức tham gia BHXH cho NLĐ của nhiều
doanh nghiệp chưa cao. Năm 2012, số lao động tham gia BHXH ở khối này là
1.209 người, tăng 202 lao động tương ứng tăng 20,1% so với năm 2011, tương
ứng với số doanh nghiệp tham gia BHXH trong năm này tăng 2 đơn vị.
- Số người tham gia BHXH qua các năm ở khối HCSN lớn nhất trong các
khối ngành. Số đơn vị tham gia BHXH ở khối này không thay đổi qua các năm
tuy nhiên số người tham gia qua 3 năm lại tăng ở mức nhẹ.Năm 2010 số lao
động tham gia BHXH là 1.677 lao động. Năm 2011, số lao động tham gia
BHXH đạt 1.695 lao động, tăng 18 người so với năm 2010. Năm 2012, khối này
có 1.724 lao động tham gia, tăng 47 lao động gấp 1,03 lần so với năm 2010.
- Khối ngành ngoài công lập, HTX, xã, phường có số lao động tham gia
BHXH ít hơn so với các khối ngành khác do số đơn vị tham gia cũng như quy
mô hoạt động của các khối này nhỏ. Số người tham gia BHXH của 2 khối ngành
ngoài công lập; khối xã, phường năm 2010 và năm 2011 không có sự thay đổi ở
mức lần lượt là 61và 134 người. Tuy nhiên, trong năm 2012 trong khi số người
tham gia BHXH trong khối xã, phường tăng 3 người đạt 137 lao động, tương
ứng tăng 2,2% thì trong khối ngoài công lập lại giảm 5 người còn 56 người,
tương ứng giảm 9,3% so với năm 2011. Đó là do một số NLĐ đã chuyển công
tác đến nơi khác. Đối với khối HTX, số người tham gia qua các năm đều tăng
với mức tăng không đáng kể. Năm 2012, số lao động tham gia của khối này là
66 người, tăng 7 người tương ứng tăng 11,8% so với năm 2010.
Đồng thời ta thấy rằng trên địa bàn huyện các năm qua, số lao động thuộc
diện tham gia BHXH vẫn chưa tham gia hết. Năm 2012, trên địa bàn có 4.197
người tham gia, chiếm 87% tổng số người thuộc diện tham gia BHXH. Cụ thể:


Các khối đơn vị HCSN, HTX, xã, phường có số lao động tham gia BHXH

(triệu
đồng)
đồng/
người/
tháng)
12.284,5
1,67

2011
2012
Tổng
Lương Tổng quỹ
Lương
quỹ
bình
lương
bình
lương
quân
(triệu
quân
(triệu
(triệu
đồng)
(triệu
đồng)
đồng
đồng/
người/
người/

1,49
2,12
2,01
1,18

4.924,7
28.145,4
48.616,9
817,3

1,35
1,94
2,35
1,39


HTX
Xã, phường
Tổng

750,5
2.138,5
78.080,3

1,06
1,33
1,69

944,5
2.331,6

Khối xã, phường trong 3 năm 2010 – 2012 đạt mức lương bình quân cũng
khá cao và tương đối ổn định. Năm 2010, tổng quỹ lương làm căn cứ đóng
BHXH đạt 2.138,5 triệu đồng. Năm 2012, tổng quỹ lương tăng nhẹ ở mức 426,1
triệu đồng, đạt 2.564,6 triệu đồng so với năm 2010.
Khối HTX, ngoài công lập có tổng quỹ lương và mức lương bình quân tăng
qua các năm song mức lương bình quân này lại thấp hơn so với các khối, đơn vị
khác. Năm 2012, mức lương bình quân của khối HTX và ngoài công lập lần lượt
đạt ở mức 1,38; 1,39 triệu đồng. Điều này xuất phát từ nguồn thu chủ yếu của
NLĐ trên địa bàn là từ hoạt động nông nghiệp với quy mô nhỏ lẻ.
Riêng đối với hai khối doanh nghiệp bao gồm DNNQD và DN FDI lại có
mức tiền lương bình quân biến động trong các năm. Năm 2010, mức lương bình
quân của khối DN FDI đạt 1,89 triệu đồng/người. Năm 2011, mức lương này


tăng lên 2,12 triệu đồng/người nhưng đến năm 2012, con số này giảm xuống đạt
mức 1,94 triệu đồng/người trong khi tổng quỹ lương tăng 2.527,3 triệu đồng so
với năm trước. Nguyên nhân là do một số doanh nghiệp chỉ đăng ký tham gia
BHXH cho NLĐ với mức lương bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu mà Nhà
nước quy định, gây thiệt thòi cho NLĐ. Bên cạnh đó, có trường hợp
NSDLĐthỏa thuận với NLĐ ký riêng một hợp đồng khác để lấy mức lương đó
đóng BHXH làm mức lương bình quân của khối này trong năm 2012 giảm.

2.2.3. Quản lý phương thức đóng BHXH.
Từ tình hình thực tế của huyện cũng như đặc điểm hoạt động, sản xuất của
các đơn vị, BHXH huyện Vĩnh Tường đã thực hiện thu BHXH một cách phù
hợp, đảm bảo đúng quy định pháp luật về BHXH, cụ thể như sau:
- Đối với khối đơn vị HCSN, DNNN, DNNQD, ngoài công lập, khối xã,
phường, cơ quan BHXH huyện tổ chức thu hàng tháng. Do đặc điểm hoạt động
của các khối, đơn vị này khá ổn định, không có nhiều biến động nên có thể đóng
BHXH hàng tháng một cách thuận tiện.

thực hiện đúng tiến độ, quy trình, bám sát vào tình hình thực tế của địa phương
thể hiện qua bảng số liệu 2.5.
Bảng 2.5: Tình hình lập và giao kế hoạch thu BHXH tại BHXH
huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2010 – 2012.
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Số thu năm trước

2010

2011

2012

13.262,5

17.900,4

23.308,1

Kế hoạch lập
Kế hoạch giao

15.318,2
19.792,5
26.857,9
16.347,4
21.815,4
29.541,0

Tường. Các đơn vị có quy mô sản xuất nhỏ, số lao động ít, BHXH huyện tiến
hành thu BHXH theo phương thức hàng quý, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào tài
khoản chuyên thu của cơ quan. Ngoài ra, các đơn vị tham gia cũng có thể nộp
trực tiếp tiền mặt vào tài khoản chuyên thu của cơ quan mở tại ngân hàng hoặc
Kho bạc nhà nước.
Đối với BHXH huyện Vĩnh Tường, bộ phận kế toán có nhiệm vụ nhận
chứng từ báo cáo của các đơn vị chuyển tiền về tài khoản chuyên thu của BHXH
huyện. Chứng từ được đối chiếu với thông tin về số tiền phải nộp và nhập vào
cơ sở dữ liệu trong máy tính. Vào ngày 25 hàng tháng, BHXH huyện chuyển đủ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status