Thực trạng công tác quản lý thu quỹ bảo hiểm xã hội ở cơ quan bảo hiểm xã hội Quận Đống Đa - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với những vấn đề thiết yếu của cuộc sống con người là việc làm và
thu nhập, thì bảo hiểm xã hội (BHXH) trong bất kỳ một chế độ xã hội nào cũng là
một vấn đề luôn được xem xét, bởi vì rủi ro luôn là một vấn đề dễ xảy ra với mọi
người. Chính sách BHXH là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước ta, đã được thực hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX. Trải qua gần 40 năm
thực hiện với những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách
BHXH đã góp phần rất to lớn đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình
họ, đồng thời góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Đến nay, BHXH
đã được thực hiện cho công chức Nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động
trong các thành phần kinh tế ở những nơi có quan hệ lao động, có sử dụng từ 10
lao động trở lên... và sẽ còn tiếp tục mở rộng cho các đối tượng khác. BHXH đã
trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu
cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong
Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày
10/12/1948 đã nêu: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có
quyền hưởng BHXH". BHXH ở Việt Nam hoạt động ngày càng hiệu quả hơn,
đặc biệt là sau năm 1995 khi mà quỹ BHXH được hình thành độc lập nằm ngoài
Ngân sách Nhà nước. Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự
phòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay
cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và
phát triển.
Cơ quan BHXH Quận Đống Đa được thành lập và bắt đầu hoạt động từ
tháng 10/1995 cho đến nay đã thu được nhiều thành tự như: phí thu được ngày
càng nhiều, chi trả đúng đối tượng... Tuy nhiên trong quá trình hoạt động vẫn
còn nhiều tồn tại, hạn chế như: thu BHXH vẫn chưa đạt kết quả cao, nhiều đơn
vị vẫn còn lợi dụng kẽ hở pháp luật để trốn nộp BHXH, vẫn tồn tại trục lợi
BHXH... Điều này đã làm cho hiệu quả hoạt động của quỹ BHXH còn chưa cao
và còn phải nhờ vào Ngân sách Nhà nước. Như vậy, vấn đề thu quỹ BHXH có
1
một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của chế độ xã hội Việt Nam cũng như

trải những nhu cầu sinh sống cần thiết khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn, tuổi già
… Trong thực tế nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ
không phải chi ra một đồng tiền nào. Nhưng cũng có khi lại xảy ra dồn dập,
buộc người chủ nhiều lúc phải bỏ ra một khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì
thế, giới thợ phải liên kết với nhau buôc giới chủ buộc phải thực hiện những gì
đã cam kết. Dần dần trong cơ chế thị trường đã xuất hiện một bên thứ 3 đóng vai
trò trung gian giúp thực hiện cam kết giữa giới chủ và giới thợ bằng hoạt động
thích hợp của nó. Nhờ vậy, thay vì cho việc phải chi trực tiếp những khoản tiền
lớn khi lao động bị ốm đau, tai nạn, giới chủ chỉ phải trích ra những khoản tiền
nho nhỏ được tính toán chặt chẽ giựa trên những cơ sở xác suất những biến cố
3
của tập hợp những người lao động làm thuê. Số tiền này được giao cho bên thứ
3 tồn tích dần thành một quỹ tiền tệ. Làm như thế một mặt giới chủ đỡ bị thiệt
hại về kinh tế do không phải một lúc chi những khoản tiền lớn. Mặt khác người
lao động làm thuê được đảm bảo chắc chắn một phần thu nhập khi ốm đau, tai
nạn. Nhờ đó, mỗi ông chủ chỉ phải đóng một phần mà mình chịu được nhưng
vẫn phải đủ để giải quyết mọi phát sinh theo cam kết với tất cả giới thợ. Song
trên thực tế, vấn đề lợi ích luôn luôn vận động với tất cả những khía cạnh của
nó. Giới thợ luôn đòi hỏi được đảm bảo nhiều hơn trước tình hình kinh tế - xã
hội phát triển, còn giới chủ thì lại mong muốn phải chi ít hơn tức là phảI đảm
bảo cho giới thợ ít hơn nên tranh chấp chủ thơ lại tiếp diễn. Trước tình hình như
vậy, nhà nước đã phải can thiệp đIềuchỉnh. Sự can thiệp này, một mặt làm tăng
vai trò của nhà nước, giới chủ buộc phải đóng góp thêm, đồng thời giới thợ cũng
phải đóng góp một phần vào sự đẳm bảo cho chính mình, cả giới chủ và giới thợ
đều thấy mình có lợi và được bảo vệ. Mặt khác, Nhà nước phải tăng chi tiêu
ngân sách song chính là nhờ vào những mối quan hệ rằng buộc như vậy mà rủi
ro, bất lợi của người lao động được dàn trải theo nhiều chiều, một quỹ tiền tệ tập
chung trên phạm vi quốc gia nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi
bị ốm đau, tai nạn, tuổi già, tàn tật…. được thiết lập. Nhờ vậy đã tạo ra khả năng
giải quyết những phát sinh rủi ro, bất lợi lớn nhất với một tổng dự trữ nhỏ nhất,

2. Sự cần thiết phải có hệ thống BHXH
Trong thực tế cuộc sống không phải người lao động nào cũng có đủ điều
kiện về sức khoẻ khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành
nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống
ấm no hạnh phúc. Ngược lại, không mấy ai tránh khỏi những rủi ro, bất hạnh
như ốm đau, tai nạn hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh
hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác
nhân xã hội khác.
Khi rơi vào các trường hợp đó, các nhu cầu thiết yếu không vì thế mà mất
đi. Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới. Bởi
vậy, muốn tồn tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra
nhiều cách giải quyết. Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn
5
cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục người lao động phải
được sự bảo trợ của cộng đồng tập thể của các tổ chức cơ quan Nhà nước và xã
hội. Sự bảo trợ này không thể bằng những nguồn vật chất cần thiết, nhằm phục
hồi nhanh chóng sức khoẻ, duy trì sức lao động xã hộ góp phần làm giảm bớt
những khó khăn của bản thân và gia đình người lao động khi có những hẫng hụt
về thu nhập trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, mất việc làm, hoặc khó khăn khi về già… Tất cả những cái đó đã
trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của người lao động, sự đối
mặt với cuộc sống thật nan giải. Tình cảnh này đưa đến những hành động tập thể
phát huy truyền thống tương thân, tương ái vốn có từ trong nhân dân, đồng thời
cũng đòi hỏi giới chủ, giới thợ và Nhà nước từng bước can thiệp để duy trì lực
lượng nhân công cần thiết cho xã hội.
Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa vấn đề của giới chủ và giới
thợ, cùng với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cùng
với trình độ chuyên môn và nhận biết về BHXH của người lao động ngày càng
được nâng cao, cách chủ động khác phục khi không may gặp những rủi ro xảy ra
ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những

BHXH thường là một số tổ chức (cơ quan, công ty …) do Nhà nước lập ra (ở
một số nước có thể do tư nhân lập ra) nhận sự đóng góp của người lao động,
người sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH. Bên BHXH có trách nhiệm thực
hiện chi trả nợ cấp cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho
quỹ BHXH phát triển.
- Bên được BHXH là người lao động tham gia BHXH và nhân thân của họ
theo quy định của pháp luật. Bên được BHXH được quyền nhận các loại trợ cấp
khi phát sinh những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại
rủi ro được bảo hiểm gây ra.
Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong kinh tế thị trường,
bên tham gia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH (người lao động chẳng
hạn). Đối với người lao động độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là
người được quyền hưởng BHXH vì đóng phí được BHXH để bảo hiểm cho
chính họ.
7
4. Bản chất của BHXH
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát triển
kinh tế của một quốc gia đặt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều
kiện ra đời phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển
của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm phát
triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững
mạnh được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ
BHXH ngày càng phong phú.
Thực chất BHXH là sự đền bù hậu quả của những “rủi ro xã hội”. Sự đền
bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH. Như vậy BHXH
cũng là quá trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vị toàn xã hội, BHXH là
một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát
sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tại nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,
già yếu, chết...

sau:
- Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động được
bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm theo
những điều kiện xác định.
Sở dĩ như vậy vì giữa người lao động với cơ quan BHXH có mối quan hệ
hết sức chặt chẽ. Quan hệ này phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và quan
hệ tài chính BHXH. Quan hệ đó diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia bảo hiểm,
bên nhận bảo hiểm và bên được bảo hiểm.
- Phân phối lại thu nhập.
Những người sử dụng lao động bắt buộc phải đóng góp vào quỹ BHXH là
để bảo hiểm nhưng không phải trực tiếp cho mình mà cho người lao động
do người sử dụng nên không được quyền hưởng trợ cấp, những người lao
động có đóng góp vào quỹ BHXH mới có quyền hưởng trợ cấp nhưng do
còn khoẻ mạnh, có việc làm và có thu nhập bình thường nên không được
hưởng trợ cấp bảo hiểm. Số lượng những người không được hưởng trợ cấp
9
nhu vậy thường chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số những người tham gia
đóng góp. Chỉ những người lao động bị giảm hoặc bị mất thu nhập trong
những trường hợp xác định và có đủ các điều kiện cần thiết mới được
hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH. Số lượng những người này thường chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp nêu trên. Như vậy
BHXH đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu
nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những người lao động có thu
nhập thấp hơn, giữa những người lao động khoẻ mạnh đang làm việc với
những người ốm yếu phải nghỉ việc và khái quát hơn là giữa số đông những
người đóng góp vào quỹ BHXH đều kỳ với số ít người hưởng trợ cấp theo
những chế độ xác định. Điều đó cũng góp phần vào việc thực hiện công
bằng xã hội.
- Góp phần kích thích, khuyến khích người lao động hăng hái tham gia sản xuất.
Người lao động có việc làm, khi khoẻ mạnh làm việc bình thường sẽ có

độ là nội dung cốt lõi nhất của BHXH, nó thể hiện được vai trò của BHXH đối
với người lao động khi tham gia BHXH.
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã nêu trong Công
ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:
(1) Chăm sóc y tế
(2) Trợ cấp ốm đau
(3) Trợ cấp thất nghiệp
(4) Trợ cấp tuổi già
(5) Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
(6) Trợ cấp gia đình
(7) Trợ cấp sinh đẻ
(8) Trợ cấp khi tàn phế
(9) Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng).
09 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tuỳ điều kiện
kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị
đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ. Trong đó, ít
nhất phải có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9).
11
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Các chế độ được xây dựng theo luật pháp mỗi nước.
- Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
- Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên
tham gia BHXH và quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và
an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
- Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
- Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán, Chi
trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
- Các chế độ BHXH thường được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay
đổi của điều kiện kinh tế - xã hội.
Theo điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta bao gồm 5 chế

nhất. Chế độ này đã giúp cho thân nhân người chết có được khoản trợ cấp bù
đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người lao động bị chế. Khi xây
dựng chế độ này đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm và
yếu tố xã hội giữa người sống và người chết, đặc biệt có tính đến yếu tố kế thừa
đối với thân nhân của người chết.
7. Vai trò của BHXH đối với người lao động và đối với xã hội
a. Đối với người lao động
Trong cuộc sống hàng ngày có những loại rủi ro như ốm đau, tai nạn lao
động bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu rồi chết… Tất cả những rủi ro này đều
có thể xảy ra đối với bất cứ người lao động nào, tại bất cứ thời điểm nào trong
cuộc sống hàng ngày của con người. Nhất là trong giai đoạn ngày nay, khi mà
đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì
những “rủi ro” này lại càng diễn ra một cách thường xuyên và có tính chất ngày
càng phổ biến hơn vì sự biến động về thị trường lao động và sản xuất kinh
doanh đa dạng hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra đối với những
người lao động thì sẽ gây cho họ những khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần,
gây ra mất hoặc giảm thu nhập từ đó gây ra những ảnh hưởng không tốt không
chỉ cho chính anh ta, gia đình anh ta mà còn cho cả cộng đồng xã hội loài người.
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước,
13
BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp phải rủi ro,
bất hạnh khắc phục những khó khăn bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập
thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi… giúp họ ổn định cuộc sống, yên
tâm trong công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai từ đó góp phần quan
trọng vào việc tăng năng xuất lao động cũng như chất lượng công việc cho xí
nghiệp, cơ quan họ đang làm nói riêng và cho toàn bộ xã hội nói chung.
b. Đối với xã hội
Trước tiên, cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động
dịch vụ, BHXH là một doanh nghiệp sản xuất ra những dịch vụ bảo hiểm cho
người lao động, một loại dịch vụ bất cứ ai cũng cần đến (không phải chỉ cán bộ

BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của người
giàu chia cho người nghèo một cách võ đoán. Ý nghĩa của BHXH là nhiễu điều
phủ lấy giá gương, là đoàn kết tương trợ phát huy tính tự thân, sống hoà nhập có
tình nghĩa giữa các nhóm, các giới hạn trong cùng cộng đồng với nhau mà vốn
là tiềm lực của dân tộc ta được lịch sử chứng minh.
II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1. Khái niệm và đặc điểm
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà
nước. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng
để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố
hoặc rủi ro. Chủ thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để
hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: Người lao động, người sử dụng
lao động và Nhà nước.
Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Quỹ ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc
sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm
hoặc mất thu nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh
doanh kiếm lời. Vì vậy, nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là: Cân bằng thu - chi.
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất
không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, người lao động là đối tượng
tham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp,
15
được chi trả từ quỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của
mỗi người sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp
phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của họ. Tính không
hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia và đóng góp BHXH, nhưng có người
được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng cũng có những
người được ít lần hơn, thậm chí không được hưởng. Chính từ đặc điểm này nên
một số đối tượng được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH thường lớn hơn nhiều so
với mức đóng góp của họ và ngược lại. Điều đó thể hiện tính chất xã hội của

nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì
thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể
thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức,
biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng
góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH mà còn trở thành chỗ dựa để đảm bảo cho
hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định.
Ở nước ta, sau khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, Chính phủ đã
ban hành Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban
hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995, trong các văn bản này đều
quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương của
những người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó, 10% để chi trả các chế độ
hưi trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp.
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng để chi các chế độ hưu
trí và tử tuất.
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối
với người lao động. Hàng tháng Bộ Tài chính trích từ ngân sách Nhà nước số
tiền xung vào quỹ BHXH đủ chi trả các khoản thuộc về BHXH như sau:
+ Chi trả các chế độ hưu trí, trợ cấp mức sức lao động, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, tử tuất cho các đối tượng thụ hưởng chế độ BHXH từ
17
trước ngày thi hành Điều lệ BHXH ban hành ngày 26/01/1995, kèm theo
Nghị định 12/CP của Chính phủ.
+ Hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH
đối với người lao động thuộc khu vực Nhà nước thụ hưởng chế độ sau ngày
ban hành Điều lệ BHXH.
+ Đóng toàn bộ BHYT cho các đối tượng đang thụ hưởng chế độ BHXH.
- Các nguồn khác, bao gồm các nguồn chủ yếu sau:

khoản chi ngày càng lớn bởi vì các chế độ BHXH ngày càng được mở rộng để
đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của người lao động, do đó đội ngũ cán bộ
phục vụ BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lương cán bộ ngày càng lớn. Mặt
khác, xã hội càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày càng tăng. Vì
vậy, chi phí cho việc xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang thiết bị văn
phòng ngày càng tăng lên.
Mục đích thứ ba của quỹ BHXH là chi đầu tư. Thực chất đây là quá trình
tích luỹ trong quá trình sử dụng quỹ BHXH. Định kỳ hàng tháng, quý, năm, cơ
quan BHXH tiến hành giữ lại một phần quỹ của mình để thành lập nên quỹ đầu
tư BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng trong trường hợp nhu cầu chi trả lớn dẫn
đến thâm hụt quỹ BHXH hoặc trong lúc đồng tiền mất giá.
Về nguyên tắc, có thu mới có chi, thu trước chi sau. Vì vậy, quỹ chỉ chi cho
các chế độ trong phạm vi có nguồn thu. Thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó.
4. Phân loại quỹ BHXH
Quỹ BHXH là một quỹ có quy mô và ảnh hưởng rất lớn tới nhiều đối tượng
khác nhau trong xã hội. Do vậy, để quản lý và sử dụng quỹ hiệu quả cần phải
phân loại quỹ BHXH. Đối với các nước khác nhau trên thế giới, việc phân loại
quỹ có thể khác nhau do tiêu thức phân loại khác nhau.
Thực tế quỹ BHXH có thể được phân loại như sau:
a. Phân loại theo tính chất sử dụng
- Quỹ ngắn hạn: là quỹ dùng để chi trả cho các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp. Nguồn quỹ này sẽ được cân đối từng năm, thậm chí
có thể được hình thành ngay trong từng doanh nghiệp để chi trả trực tiếp.
19
- Quỹ dài hạn: là quỹ dùng để chi trả các chế độ hưu trí, tử tuất. Nguồn quỹ
này phải được cân đối trong nhiều năm và dùng tài khoản cá nhân trong quá
trình chi trả là có hiệu quả nhất.
b. Phân loại theo các chế độ BHXH
- Quỹ hưu trí, tử tuất
- Quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

hành chính, sự nghiệp, co quan Đảng, đoàn thể.
- Người lao động là việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ thuộc
lực lượng vũ trang.
- Người giữ chức vụ dân cử, bầu cử, làm việc trong các cơ quan quản lí nhà
nước, Đảng, đoàn thể từ Trung ương đến cấp huyện.
18
- Công chức, viên chức Nhà nước làm việc trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp, người làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung ương đến
cấp huyện.
Các đối tượng trên đi học, thực tập, công tác điều dưỡng trong và ngoài
nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tượng thực
hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Các đối tượng quy định trên gọi chung là người lao động.
2. Căn cứ xác định mức đóng BHXH
Căn cứ xác định mức đóng BHXH chính là tiền lương. Tiền lương là cấp
bậc, chức vụ, hợp đồng và các khoản phụ cấp (phụ cấp chức vụ, phụ cấp khu
vực, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp thâm niên, phụ cấp tái cử, hệ số bảo lưu nếu có)
của từng người. Các khoản phụ cấp ngoài quy định trên không thuộc diện phải
đóng BHXH và cũng không được đóng để tính vào tiền lương hưởng BHXH.
Đối với đơn vị sản xuất kinh doanh đạt hiểu quả thấp, tiền lương tháng trả
cho người lao động không đủ mức lương cấp bậc, chức vụ của từng người để
đăng ký đóng BHXH thì được đóng BHXH theo mức tiền lương đơn vị thực trả
cho người lao động, nhưng mức đóng cho từng người không thấp hơn mức
lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
3. Cách xác định tổng quỹ tiền lương
Cộng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của từng người lại sẽ được tổng
quỹ tiền lương của đơn vị tham gia làm căn cứ đóng BHXH. Như vậy, muốn
biết tổng quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của cả đơn vị nhất thiết phải
lập danh sách lao động thuộc diện đóng BHXH, bao gồm các tiêu thức sau:
STT Họ và tên Năm

Tài chính quy định: Trường hợp các đơn vị sử dụng lao động chậm nộp BHXH
từ 30 ngày trở lên so với kỳ hạn phải nộp thì ngoài việc phải nộp phạt theo quy
định tại điểm 8 - điều 11 trong Nghị định số 38/CP ngày 25/6/1996 quy định xử
phạt hành chính về vi phạm pháp luật lao động còn phải nộp số tiền chậm nộp
theo mức lãi suất tiền vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại điểm
truy nộp, đồng thời BHXH các cấp được quyền yêu cầu Kho bực, Ngân hàng
trích tiền từ tài khoản của đơn vị sử dụng lao động để nộp BHXH và tiền phạt
chậm nộp BHXH mà không cần sự chấp nhận thanh toán của đơn vị sử dụng lao
động.
Hàng tháng, hàng quý các cơ quan đơn vị sử dụng lao động đóng, căn cứ
vào kế hoạch quỹ tiền lương để đăng ký mức đóng với cơ quan BHXH. Đồng
thời với việc trả lương, đơn vị sử dụng lao động trích nộp 20% tổng quỹ lương,
trong đó 15% tổng quỹ tiền lương do người sử dụng lao động đóng và 5% tiền
lương do người lao động đóng. Cuối mỗi quý, các cơ quan, đơn vị sử dụng lao
động cùng các cơ quan BHXH đối chiếu danh sách trả lương và quỹ tiền lương,
lập bảng xác nhận nộp BHXH. Nếu có chênh lệch giữa số đã nộp và số phải nộp
sẽ phải nộp tiếp trong quý sau hoặc coi như nộp trước cho quý sau và được
quyết toán trong năm.
Những đơn vị sử dụng lao động cố tình vi phạm thời hạn nộp BHXH thì cơ
quan BHXH các cấp có quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH đối với tất
20
cả những người lao động của đơn vị sử dụng lao động đó, đồng thời lập hồ sơ
chuyển sang cơ quan pháp luật đối với chủ sư dụng lao động.
Vì vậy, đóng BHXH là nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị
người sử dụng lao động và người lao động. Kết quả đóng BHXH là cơ sở để
thực hiện tốt các chế độ hưởng BHXH…
5. Tính đặc thù của công tác thu BHXH
Quá trình thu BHXH có những đặc thù sau:
- Việc quy định đóng BHXH đã thành mối quan hệ 3 bên: người lao động,
người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, giữa các bên có sự ràng buộc

cũng như gián đoạn, làm việc một nơi hay nhiều nơi ... Như vậy, quá trình theo
dõi ghi kết quả thu BHXH đòi hỏi liên tục trong nhiều năm, kể cả thời gian
ngừng đóng BHXH vẫn phải lưu giữ để đảm bảo khi người lao động tiếp tục
đóng hoặc yêu cầu giải quyết chế độ đều được thực hiện ngay. Hoạt động thu
của BHXH là hoạt động của cả đời người, có tính kế thừa, cho nên nghiệp vụ
quản lý thu, lưu giữ sổ biều là không có giới hạn và thời gian.
III. QUY TRÌNH QUẢN LÝ THU BHXH
Công tác quản lý thu BHXH thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch thu BHXH.
Lập kế hoạch thu BHXH là một khâu rất quan trọng, được thực hiện một
cách thường xuyên theo từng năm ở tất cả các đơn vị BHXH từ Trung ương đến
địa phương, bởi vì kế hoạch thu BHXH là cơ sở để tổ chức thực hiện và quản lý
công tác thu BHXH ở từng đơn vị nói riêng và trên phạm vi toàn bộ hệ thống
BHXH nói chung. Hơn nữa, kế hoạch thu BHXH còn là cơ sở để các cơ quan
BHXH tổ chức thực hiện và quản lý các mặt công tác khác của BHXH như
hoạch định phương hướng phát triển lâu dài, hoàn chỉnh hệ thống chế độ chính
sách, quản lý và bảo tồn phát triển quỹ BHXH, đảm bảo cân đối quỹ lâu dài.
Chính vì vậy, kế hoạch lập ra càng sát với thực tế, phù hợp với điều kiện chung
về kinh tế - xã hội từng địa bàn thì công tác tổ chức, thực hiện và điều hành
quản lý công tác thu BHXH càng chủ động và được hoàn thiện hơn.
Việc lập kế hoạch thu BHXH được thực hiện cụ thể như sau:
22

Trích đoạn MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Mở rộng nguồn thu Bảo toàn, tăng trưởng quỹ Về phía cơ quan BHXH Quận Đống Đa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status