NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG PHỤC VỤ XỬ LÝ NƯỚC CẤP VÀ NƯỚC THẢI NUÔI TÔM VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ - Pdf 42

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
“NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ
VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG PHỤC VỤ XỬ LÝ NƯỚC CẤP VÀ NƯỚC THẢI
NUÔI TÔM VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ”

Người thực hiện chuyên đề: TS. Bùi Thị Lan Hương - Viện Môi trường Nông
Nghiệp

Hà Nội – 2014


MỤC LỤC
I.ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................................3
II. MỤC TIÊU.............................................................................................................................3
III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................4
3.1. Nội dung nghiên cứu....................................................................................................4
3.2. Địa điểm nghiên cứu....................................................................................................4
3.3. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................4
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN..............................................................................................4
4.1. Tổng quan về các giải pháp xử lý nước cấp và nước thải trong hệ thống nuôi trồng
thủy sản trên thế giới...........................................................................................................4
4.2. Các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước nuôi tôm ở Việt Nam.......................14
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ..................................................................................................22
5.1. Kết luận......................................................................................................................22
5. 2. Đề nghị......................................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................23


I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hoạt động nuôi tôm, phần lớn chất thải tích tụ dưới đáy ao sẽ gây
tổn hại đến sức khỏe tôm, làm ảnh hưởng hiệu quả của nghề nuôi. Lớp bùn ở

cấp, nước thải trong hệ thống nuôi trồng thủy sản trong nước và trên thế giới.
- Tổng hợp được các ứng dụng các công nghệ đang áp dụng trong xử lý
nước cấp, nước thải trong nuôi tôm ở các vùng ven biển Bắc Bộ.
3.2. Địa điểm nghiên cứu
+ Tại Nam Định: nghiên cứu được tiến hành ở 2 huyện Hải Hậu và Giao
Thủy, 4 xã gồm: Hải Lý, Hải Chính (Hải Hậu), Giao Phong và Quất Lâm (Giao
Thủy)
+ Tại Quảng Ninh: Nghiên cứu được tiến hành ở 2 huyện: Móng Cái và
Quảng Yên, 4 xã: Vạn Ninh, Bình Ngọc (Móng Cái), Hà An, Tân An (Quảng
Yên)
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
- Thu thập số liệu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu, ứng dụng trong nước
và trên thế giới về công nghệ áp dụng, phân tích đánh giá thực trạng và các biện
pháp đã áp dụng.
- Điều tra thực địa: tiến hành khảo sát thực địa để khái quát hiện trạng nuôi
tôm của vùng nghiên cứu. Đánh giá và phân tích hiện trạng công nghệ xử lý
nước trong quy hoạch các vùng NTTS.
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tổng quan về các giải pháp xử lý nước cấp và nước thải trong hệ thống
nuôi trồng thủy sản trên thế giới
(i) Phương pháp sử dụng các vật liệu lọc, khoáng hấp phụ
Nhiều loại vật liệu có khả năng hấp phụ chất ô nhiễm được nghiên cứu và
tiềm năng của chúng cũng đã được công bố. Các loại vật liệu hấp phụ phổ biến
đó là: nhôm họat tính, than họat tính, sắt hoặc mangan bọc cát, cao lanh đất sét,


Bentonite, Zeolit, hydroxit sắt, silic oxit, apatít, nhựa trao đổi ion, và rất nhiều
vật liệu có trong tự nhiên như xơ dừa, hoặc nhân tạo khác...
Khoa Hóa, Đại học kỹ thuật Athen, Hy Lạp đã sử dụng zeolite tự nhiên để
xử lý KLN có trong bùn sau xử lý nước thải đạt hiệu quả cao đối với Cd, Cr, Cu,

(ii)Công nghệ thẩm thấu ngược RO
Công nghệ thẩm thấu ngược RO nhờ phong điện với mô hình pilot được
thử nghiệm trên đảo Coconut – Hawaii (Mỹ). Nguyên lý của công nghệ là sử
dụng năng lượng gió chuyển thành thủy năng để dòng nước đi qua màng RO.
Phần nước sạch qua màng được tái sử dụng cho ao nuôi. Phần nước ô nhiễm
đậm đặc được thu gom để xử lý phù hợp hoặc tái sử dụng cho mục đích nuôi
trồng khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tùy vào tốc độ gió, nước sạch được tạo
ra liên tục và tuần hoàn khoảng từ 228 – 366lít/giờ và nồng độ Nitơ được loại bỏ
từ 90 – 97%.
Một nghiên cứu khác cũng được tiến hành bằng phương pháp sử dụng công
nghệ màng vi sinh tầng chuyển động - MBBR (moving bed biofilm reactors) với
ưu điểm vận hành nó đơn giản và không cần thiết phải có thêm công đoạn lắng.
Công nghệ MBBR có tốc độ nitrat hóa cao nhờ khả năng tập trung mật độ lớn
của vi sinh vật trong chất mang (độ xốp của chất mang là 98%, diện tích bề mặt
6000 – 8000 m2/m3) vào sự chuyển động của chất mang trong nước. Lượng khí
cấp cho quá trình nitrat hóa đủ duy trì sự chuyển động của chất mang trong nước
do chất mang nhẹ (xấp xỉ khối lượng riêng của nước). Kích thước chất mang khá
thô (cỡ cm) nên không cần tới bể lắng mà chỉ cần tấm lưới chắn là đủ. Sử dụng
công nghệ trên có thể mang lại hiệu quả tốt trong kiểm soát ô nhiễm môi trường
do nước nuôi trồng thủy sản và phát triển bền vững cho ngành sản xuất.
Công nghệ màng Polyethersulfone (PES) không đối xứng áp suất thấp được
các nhà khoa học Malaysia nghiên cứu ứng dụng xử lý nước thải nuôi tôm.
Màng PES được ứng dụng trên nguyên lý sự đảo ngược giữa pha khô/ướt, qua
đó xác định hiệu quả xử lý đối với nguồn nước bị ô nhiễm. Hệ thống xử lý bao
gồm một bể lọc cát thô để tách cặn thô trong nước. Với mục tiêu tập trung vào
xử lý các chất ô nhiễm dinh dưỡng (tổng Nitơ, tổng Phốt pho), màng PES được
xác định có khả năng loại bỏ tổng N lên tới 85,7% và tổng P là 96,49% với áp
suất chênh lệch yêu thấp cầu từ 4 – 8 bar.




- Phân hủy hợp chất cácbon tự nhiên thành đường đơn thông qua phân
huỷ hoàn toàn
- Phân hủy mỡ thành đường đơn và axit béo
- Phân hủy Protein thành amôn hoặc nitrat
Xử lý nước bằng phương pháp sinh học là việc sử dụng các vi sinh vật để
phân hủy các chất thải trong nước, chủ yếu là các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy. Xử
lý nước thải bằng vi sinh vật được sử dụng lần đầu tiên ở Anh vào năm 1918.
Khoảng 13 năm sau đó, phương pháp này được thực hiện tại Horidome và Atsuta
của Nagoga. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quy trình xử lý sinh học khác nhau
được áp dụng và không ngừng được cải tiến. Xử lý sinh học được chia thành các
loại:
- Xử lý hiếu khí: là oxy hóa hay khử bằng các vi sinh vật hiếu khí, như
trong quy trình bể hiếu khí có bùn hoạt tính (bể aeroten), màng lọc sinh học, đĩa
quay sinh học,…
- Xử lý kỵ khí: là xử lý bằng các vi sinh vật kỵ khí, như trong các bể
biogas
- Xử lý bằng phương pháp sinh học trong điều kiện tự nhiên, khi đó thực
vật sẽ trở thành giá thể cho vi sinh vật hoạt động
Hiện nay, trên thế giới đã ứng dụng thành công quá trình lọc sinh học nhờ
vi khuẩn để xử lý nước trong nuôi trồng thuỷ sản. Công nghệ này chủ yếu dựa
trên việc duy trì một tỉ lệ hợp lý Carbon : Nitrogen để thúc đẩy quá trình phân
hủy dị dưỡng. Một loạt thí nghiệm đã được tiến hành để nghiên cứu hiệu quả
của công nghệ bio-floc khi sử dụng kết hợp với hệ thống nuôi nước chảy, cụ thể
là được sử dụng như một bộ phận xử lý rời phía ngoài của hệ thống tuần hoàn
nước.
Chuntapa Benjamas và ctv đã tiến hành thả vi khuẩn lam Spirulina
platensis trong bể nuôi tôm hùm để kiểm soát chất lượng nước. Kết quả cho thấy
hàm lượng Nitơ vô cơ (NH4, NO2, NO3) được xử lý khá hiệu quả. Khi số lượng
vi khuẩn này tăng đến mức có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước sẽ được vớt ra

(vi) Sử dụng thực vật thủy sinh:
Trên thế giới, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tìm ra có ít nhất 400 loài
thực vật thuộc 45 họ có khả năng hấp thụ kim loại. Các loài này là các loài thực


vật thân thảo hoặc thân gỗ, có khả năng tích luỹ và không có biểu hiện về mặt
hình thái khi nồng độ kim loại trong thân cao hơn hàng trăm lần so với các loài
bình thường khác.
Nhiều loài thực vật như Cỏ nến Typha sp., Sậy Phragmites sp,...đã được
biết đến như các loài có khả năng vận chuyển khí từ lá xuống rễ và oxy được
giải phóng vào nước ở vùng rễ, được vi sinh vật sử dụng cho quá trình phân hủy
hiếu khí. Gần đây, ở nhiều nước như Đức, Anh, Hungari, Thái Lan, Ấn Độ,…,
công nghệ sử dụng cánh đồng lọc bằng lau sậy đã được ứng dụng để xử lý nước
thải và hiệu quả xử lý nước thải của công nghệ vùng rễ gần với tự nhiên này có
thể sánh được với công nghệ xử lý hiếu khí bằng bùn hoạt tính thông thường.
Phương pháp dùng lau sậy xử lý nước thải do giáo sư Kathe Seidel người
Đức đưa ra từ những năm 60 của thế kỷ trước. Khi nghiên cứu khả năng phân
huỷ các chất hữu cơ của cây, ông nhận thấy ưu thế của phương pháp này chính
là tác dụng đồng thời giữa rễ, cây và các vi sinh vật ở vùng rễ. Trong đó, loại
cây có nhiều ưu điểm nhất là lau sậy. Ôxy được vận chuyển từ lá xuống rễ, rồi
được rễ thải vào khu vực xung quanh và được vi sinh vật sử dụng cho quá trình
phân huỷ hiếu khí. Số lượng vi khuẩn trong đất quanh rễ loại cây này có thể
nhiều như số vi khuẩn trong các bể hiếu khí kỹ thuật (aeroten), đồng thời phong
phú hơn về chủng loại từ 10 đến 100 lần. Chính vì vậy, các cánh đồng lau sậy có
thể xử lý được nhiều loại nước thải có chất độc hại khác nhau và nồng độ ô
nhiễm lớn.
Đáng chú ý, trong các phương pháp xử lý sinh học ở điều kiện tự nhiên,
người ta đang ngày càng hướng tới sử dụng nhiều các loài thực vật thủy sinh.
Các loài này có khả năng làm sạch môi trường nước bằng cách cung cấp oxy từ
hệ rễ hoặc từ quá trình quang hợp vào nước cho các vi sinh vật hiếu khí hoạt

tại 2 tỉnh Chanthaburi và Songkhal cho thấy lượng amoni và BOD bị hấp thu bởi
rong biển là 100% và 39% sau 24 giờ. Thái Lan cũng đã sử dụng biện pháp xử
lý nước thải sau nuôi tôm bằng các đối tượng sinh học là sò Crassostrea sp.,
rong câu Gracillaria sp. sau đó qua lọc cát và cấp lại cho ao nuôi.
Ở Trung Quốc, để xử lý nước thải nuôi tôm công nghiệp, Xiongfei (2005)
cùng các cộng sự đã nghiên cứu sử dụng nhuyễn thể hai mảnh vỏ để xử lý nước


thải sau nuôi. Tỷ lệ về diện tích tương ứng ao tôm: ao nhuyễn thể: khu vực chứa
nước dự trữ là 1: 0,8: 0,4. Nước thải từ ao nuôi tôm được bơm ra kênh dẫn đến
hệ thống các ao nuôi nhuyễn thể và nước cuối hệ thống ao nhuyễn thể sẽ được
lấy để cấp cho các ao nuôi. Hiệu quả của hệ thống này đạt được là 40 – 83,6%
P-PO4; 45 – 89% TSS; 22 – 24% N-NO3; 19 – 64% TAN và tiền lãi từ thu
nhuyễn thể cũng bằng tiền lãi từ thu hoạch tôm.
Xuất phát từ giá trị kinh tế (chi phí nuôi thấp vì không tốn thức ăn), xã hội
và môi trường, nên các đối tượng nhuyễn thể 2 mảnh vỏ có hình thức sống vùi
tại những bãi triều đáy cát hay đáy bùn như: nghêu, ngao, sò huyết, móng tay, tu
hài… đã được nghiên cứu và nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như
Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Philippine… (Lai và
Wang, 1980, dẫn theo Lê Minh Viễn, 2008). Theo Cole (1992), sò
Potamocorbula amurensis có thể lọc được từ 100 – 580 lít nước/gam trọng
lượng (tính theo trọng lượng khô) trong thời gian từ 2 – 28 giờ.
Theo Ryther và cộng sự (1995), sò có thể loại bỏ Nitrogen và cặn hiệu quả
cao hơn vẹm. Hiệu quả lọc bỏ Nitrogen và cặn lơ lửng của sò tương ứng là 94 và
48%.
Khi nghiên cứu sử dụng sò Crassostrea virginica để xử lý nước thải phát
sinh trong nuôi tôm, Jakob (1993) cho biết chất thải từ nuôi tôm có thể làm cho
sò tăng trưởng nhanh, mức tăng đạt được từ 0,04 g lên 55 g sau 4 tháng. Nghiên
cứu của tác giả khẳng định nước thải từ nuôi tôm công nghiệp hay bán công
nghiệp có thể cung cấp đủ nhu cầu tăng trưởng nhanh của sò. Do đó việc sử

cho đến nay chưa có đánh giá nào về chất lượng thủy sản nuôi trong vùng nước
bị ô nhiễm. Mặt khác việc sử dụng động vật thủy sinh để xử lý ô nhiễm cần một
diện tích ao nuôi và chi phí lớn, nó chỉ có thể thành công khi kết hợp với nghề
nuôi trồng thủy sản. Vì lý do đó, việc ứng dụng các loài nhuyễn thể trong xử lý
nguồn nước ô nhiễm mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ.
Tóm lại: Trên thế giới hiện nay có rất nhiều công nghệ xử lý nước bị ô
nhiễm, mỗi công nghệ có hiệu quả xử lý khác nhau. Xử lý nước bằng các
phương pháp sinh học là một trong những hướng được sử dụng phổ biến, do
hiệu quả xử lý bền vững, thân thiện với môi trường và vốn đầu tư thấp.


4.2. Các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước nuôi tôm ở Việt Nam
Nước dùng trong nuôi trồng thủy sản thường chứa nhiều loại tác nhân gây
bệnh. Trước khi sử dụng để nuôi trồng thủy sản, cần xử lý nước, tiêu diệt tác
nhân gây bệnh.
+ Xử lý nước thải và nước cấp bằng phương phương pháp cơ học:
Được thực hiện qua các ao lắng, lọc. Đây là biện pháp xử lý sơ bộ trước khi
áp dụng các biện pháp xử lý sinh học, hóa học để loại bỏ một phần những vật
chất lơ lửng trong nước.
Phương pháp này được sử dụng để xử lý nước cấp, nước thải từ các ao
nuôi và có thể áp dụng ngay trong các ao nuôi để giảm bớt một phần các chất ô
nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi và giảm bớt áp lực cho các hệ thống xử lý tiếp
theo.
Nhược điểm của phương pháp này là chiếm nhiều diện tích đất để xây dựng
các ao lắng chứa nước và các kênh trong hệ thống dẫn đến ao lắng, do đó
phương pháp này hiện nay ít được sử dụng.
+ Xử lý nước thải và nước cấp bằng phương pháp hoạt hóa nước:
Hiện nay, công nghệ hoạt hóa nước cũng đang được nghiên cứu ứng
dụng để xử lý nước cho một số ao, hồ trong thành phố và nước thải từ bãi
chôn lấp rác. Công nghệ này cũng được áp dụng để xử lý nước nguồn trước

gồm nhiều chủng vi sinh, tập hợp các thành phần men ngoại bào của quá trình
sinh trưởng vi sinh, các enzyme ngoại bào tổng hợp, các chất dinh dưỡng sinh
học và khoáng chất kích hoạt sinh trưởng ban đầu và xúc tác hoạt tính. Chúng có
khả năng tiêu thụ các chất hữu cơ phát sinh trong quá trình sinh trưởng và phát
triển của vật nuôi trong ao hồ. Hay nói cách khác, chúng có tác dụng phân giải
chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan từ phân tôm, các thức ăn thức ăn thừa tích
tụ đáy ao nuôi, tạo được sự ổn định, duy trì chất lượng nước và cả màu nước
trong ao hồ. Mặt khác chế phẩm này còn giúp giảm thiểu được các vi sinh vật
gây bệnh như Vibrio, Aeromonas, E.coli…, làm tăng thêm lượng oxy hòa tan
trong môi trường nước ao nuôi và giảm thiểu lượng amoniac.
Đỗ Thị Tố Uyên và Cs, (2003) đã đưa ra 2 mô hình nghiên cứu xử lí nước
thải từ chế biến tinh bột gạo bằng vi khuẩn quang hợp. Mô hình 1 sử dụng bao
nilon trong suốt, mô hình 2 là bể phản ứng có nắp đậy bằng thủy tinh hữu cơ


trong để ánh sáng có thể xuyên qua, kết hợp với bổ sung vi khuẩn quang hợp.
Kết quả đã loại được 77% BOD5 và 100% Amon nước thải.
Phòng vi sinh vật môi trường - Viện Công nghệ Môi trường (Viện KHCN Việt Nam) đã tiến hành phân lập và tuyển chọn được 30 chủng xạ khuẩn và
20 chủng vi khuẩn ưa nhiệt, có ưu điểm là có tác dụng phân hủy mạnh các chất
hữu cơ trong nước thải. Chế phẩm đã được sử dụng kết hợp với thực vật thủy
sinh (bèo Nhật Bản) để loại bỏ nitơ và photpho trong nước, phân hủy các chất
hữu cơ. Lê Thị Thúy Ái (2004) đã phân lập từ nhiều thủy vực ở Việt Nam được
31 chủng vi khuẩn quang hợp thuộc 10 thủy vực ở nước ta và phối trộn 5 chủng
có vai trò quan trọng trong xử lý nước thải. Các chủng vi khuẩn này có khả năng
hấp thụ ánh sáng ở mức độ thấp và thực hiện lên men trong môi trường yếm khí
hơi tối.
Nguyễn Việt Anh (2005) đã nghiên cứu xử lý nước thải sinh hoạt bằng bãi
lọc ngầm trồng cây. Kết quả cho thấy, với sơ đồ xử lý 1 bậc, chất lượng nước
đầu ra sau bể lọc trồng cây cho phép đạt được tiêu chuẩn cột B, đối với các chỉ
tiêu COD, SS, TP. Với sơ đồ xử lý 2 bậc nối tiếp, chất lượng nước đầu ra sau bể

sinh ra từ quá trình xử lí bệnh trên thủy sản, vật liệu xử lí đáy ao nuôi, và các phụ
gia trong thức ăn…. Để xử lí các độc tố này, việc sử dụng các vật liệu hấp thu có
nguồn gốc khoáng và tự nhiên đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
Các vật liệu khoáng như Bentonite, Zeolite cũng được nghiên cứu nhiều
trong xử lý nước thải nhờ đặc tính hấp phụ trao đổi ion lớn và thành phần ion
linh động,cấu trúc tinh thể xốp tổ ong.
Với lỗ rỗng chiếm tới 50%, zeolite có khả năng hấp thu ion kim loại nặng và
cố định KLN (trao đổi ion) có trong bùn thải cũng như chất hữu cơ độc hại, dùng
để loại NH3 trong nước thải, làm chất nuôi trồng thủy sản. Với hàm ẩm hỗn hợp
bùn – zeolite khoảng 85%, hiệu quả xử lý Crom có thể đạt tới hơn 61%. (Lê
Đức trung và cộng sự - 2006)
Bentonite được sử dụng như một chất mang trong vật liệu NC-F20, là một
vật liệu mới hứa hẹn năng lực cao trong xử lý Asen. Do Viện hóa học (Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã phát triển một kỹ thuật chế tạo vật liệu
gốm xốp tổ hợp nanocomposite bao gồm Fe 3O4 kích thước 10-12 nm trên chất


mang Bentonite (NC-F20). Vật liệu này có hiệu năng hấp thụ asen cao, có khả
năng hấp thụ hàng loạt các ion khác và rất thuận tiện trong sử dụng.
Hiệu suất hấp phụ Cu2+ trên bentonit chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và
đạt 99,86% ở điều kiện tối ưu: thời gian khuấy 80 phút, nồng độ bentonit 0,5
g/100 ml dung dịch, nồng độ Cu2+ 150 mg/l, pH = 5,0, nhiệt độ 30 oC ( Lê Tự
Hải)
Than hoạt tính ở liều lượng 5 g/lít nước thải chứa 5 mg/lít Pb và Cd, than
hoạt tính có thể hấp thu được 99,82% Pb, 82,40% Cd.
Laterite hấp thu As tối đa đạt 909,09 mg As/ 1g laterite.
Nước thải trong nuôi trồng thủy sản chứa nhiều chất hữu cơ và nhiều dinh
dưỡng là nguyên nhân gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa, làm suy giảm chất
lượng nước mặt. Sử dụng các vật liệu lọc truyền thống như cát, than gáo dừa, đá
sỏi… là một biện pháp nhiều triển vọng và được áp dụng ở nhiều quốc gia trên

việc tăng diện tích nuôi trồng một cách nhanh chóng cộng với phương pháp nuôi
trồng thủy sản lạc hậu đã gây những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường dẫn
đến việc tôm, cá chết hàng loạt tại các địa phương kéo theo đó là việc người dân
làm dụng các thuốc hóa học để trị bệnh cho tôm dẫn đến việc dư lượng kháng
sinh trong tôm, cá vượt quá mức cho phép làm ảnh hưởng đến việc xuất khẩu
sản phẩm cũng như sức khỏe người tiêu dùng.
+ Công nghệ ozone
Để khắc phục các nhược điểm trên rất nhiều nước trên thế giới đã ứng
dụng các công nghệ mới trong nuôi trồng thủy sản như công nghệ Vi Sinh, công
nghệ sử dụng khí Ozone… Việc sử dụng khí ozone trong nuôi trồng thủy sản
hầu như chưa được áp dụng tại Việt Nam nhưng đã được sử dụng hết sức phổ
biết tại Mỹ, Hàn Quốc và Ấn Độ.. nó đã mang lại nhưng lợi ích hết sức to lớn
cho người nông dân cũng như cải thiện môi trường. Ozone là chất khí có công
thức hóa học là O3 nó có khả năng oxi hóa cao gấp 3100 lần so với Clo nhưng
lại không bền vững, phân hủy rất nhanh trong không khí và nước để tạo thành
Oxi phân tử. dó đó việc sử dụng ozone mang lại những lợi ích sau:
+ Cung cấp đủ không khí xuống đáy ao nuôi giúp giảm lượng khí
ammoniac, giảm lượng khí H2S dưới đáy ao và gia tăng lượng khí oxy hòa tan.
+ Cung cấp lượng ozone + không khí bơm thẳng xuống đáy hồ. Làm tiêu hủy vi


rút gây bệnh, phân hủy thức ăn thối rữa, giúp tôm hấp thụ lượng thức ăn để phát
triển, và gia tăng mật độ tôm nuôi.
+ Cung cấp ozone + không khí với dòng nước đối lưu, giúp giảm thiểu
lượng vi rút gây bệnh và cung cấp đủ lượng oxy cho tôm, cá sinh sống dưới đáy
ao nuôi, không cần sử dụng hóa chất hay các chế phẩm khác.
Hiệu quả việc sử dụng của công nghệ ozone trong nuôi tôm, Công ty
Greenhouses Việt Nam đơn vị đã nghiên cứu và chế tạo thành công các loại
ozone dùng cho nuôi công nghiệp Công ty đã triển khai mô hình nuôi tôm càng
xanh thí điểm tại Giao Thủy – Nam Định theo hình thức đầu tư giống, thức ăn

Hải Hậu, Nghĩa Hưng.
Quy trình kỹ thuật nuôi tôm tầng mặt có nhiều điểm khác biệt so với cách
nuôi trước đây: Phần đáy ao nuôi được đổ cát dày từ 0,5-1,0m thay vì 0,15-0,3m
như cũ; lắp mái che mặt ao để kiểm soát nhiệt độ ổn định, giúp tôm tăng trưởng
trong điều kiện nhiệt độ ngoài trời thay đổi; vệ sinh đáy ao theo phương pháp rút
nước, cày lật và đánh đống, phơi đáy đến khi khô kiệt sau đó xử lý hóa chất,
bơm cát mới và dùng chế phẩm sinh học để tiêu diệt mầm bệnh còn lại trước khi
gây màu nước và xuống giống. Ưu điểm của phương pháp này giúp phần đáy ao
thoáng khí, thúc đẩy nhanh quá trình oxy hóa loại bỏ khí độc và mầm bệnh do
tích tụ nhiều tạp chất từ vụ nuôi trước và ổn định nhiệt độ, tránh cho tôm bị
“sốc” do thay đổi thời tiết. Từ phương pháp nuôi mới, một số hộ dân ở xã Giao
Phong đã đổ cát đáy ao tối thiểu dày 0,5m, kè bờ bằng bê tông và xây bờ cao
hơn mặt đường 0,5m để hạn chế "địch hại" xâm nhập ao nuôi, làm mái che kết
hợp bố trí hợp lý điểm thoát nước mưa ở bờ, thoát nước mặt ở ao để ổn định
nhiệt độ và ngăn nước mưa chảy xuống ao nuôi. Ngoài ra, kỹ thuật này còn giúp
khâu thu hoạch nhanh, rút ngắn thời gian lưu bãi và vận chuyển khi đưa ra thị
trường.
+ Mô hình nuôi tôm ứng dụng chế phẩm vi sinh vật tại Quảng Ninh:
Mô hình ứng dụng chế phấm sinh học mới trong nuôi tôm tại các xã Đầm
Hà và Tân Bình tỉnh Quảng Ninh. Các chế phẩm sinh học mới trong nuôi trồng
thủy sản tại Đầm Hà là sản phẩm của Công ty cổ phần công nghệ sinh học


Biotech nghiên cứu, đã được cấp phép, đưa vào sản xuất và bán trên thị trường.
Công nghệ sử dụng chế phẩm sinh học này bao gồm: các chế phẩm xử lý nước
(BTS, BTS1), chế phẩm xử lý đáy ao nuôi (BIOF) gây màu nước (BIOF1), giảm
khí độc, thuốc phòng và trị bệnh (ATV)...Công nghệ này đã được áp dụng thành
công tại một số địa phương như Thái bình, Nam Định... góp phần tăng năng suất
và tăng hiệu quả kinh tế.
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5. Nguyễn Văn Hảo (2001). Một số vấn đề kỹ thuật trong nuôi tôm sú công
nghiệp.
6. Nguyễn Văn Kiệt (2000), Giáo trình kỹ thuật nuôi tôm cá nước lợ, Nhà xuất
bản nông nghiệp.
7. Nguyễn Trọng Nho,(1994), Tình hình nuôi tôm trên thế giới và Việt Nam
8. Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp(2006), Quản lý chất
lượng nước trong nuôi trồng thuỷ sản. Nhà xuất bản nông nghiệp Tp. HCM
9. Vũ Thế Trụ(2003). Cải tiến kỹ thuật nuôi tôm tại Việt Nam. Nhà xuất bản
Nông Nghiệp.
10. Nguyễn Đình Trung(2004). Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thuỷ
sản.
11. Nguyễn Thức Tuấn(2009). Kỹ thuật nuôi giáp xác. Khoa Nông Lâm Ngư,
Trường đại học Vinh.
12. Nguyễn Thị Thanh(2009), Bài giảng quản lý chất lượng nước, Trường đại
học Vinh
13. Trung tâm khuyến ngư huyện Yên Hưng, Quảng Ninh,(2008). Khí hậu và
lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status