Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng ngô thuần Vi ệt Nam tại Viện nghiên cứu ngô - Đan Phượng - Hà Nội - Pdf 42

Header Page 1 of 133.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngô (Zea mays.L) là cây lương thực quan trọng đối với con người có
tiềm năng năng suất cao được trồng phổ biến ở nhiều nước. Trên thế giới, ngô
xếp thứ ba về diện tích và thứ nhất về năng suất, sản lượng các cây lấy hạt và
sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay, 49% sản lượng ngô được
sử dụng làm thức ăn gia cầm,12% làm thức ăn động vật, 25% làm lương thực
thực phẩm cho con người, 13% trong tinh bột và các ngành khác, 1% là làm
hạt giống. Ước tính đến năm 2020 sản lượng ngô trên thế giới sẽ tăng từ
820,7 triệu tấn lên 837 triệu tấn so với năm 2010.
Trong nền nông nghiệp Việt Nam, ngô là cây màu quan trọng nhất, đứng
vị trí thứ hai sau lúa, được trồng nhiều ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa
dạng về mùa vụ và hình thức canh tác. Kể từ thập niên 90 đến nay, cuộc cách
mạng ngô lai đã làm thay đổi căn bản nghề trồng ngô ở nước ta, đưa nước
Việt Nam đứng trong hàng ngũ các nước trồng ngô tiên tiến trong khu vực
Châu Á (Trần Hồng Uy,1997)[1]
Những năm gần đây, sản xuất ngô của nước ta đã có sự phát triển mạnh
mẽ về diện tích, năng suất và sản lượng. Tỷ lệ tăng trưởng bình quân trong 20
năm qua về diện tích là 7,5%, năng suất là 6,7% và sản lượng là 24,5%
(TS.Bùi Mạnh Cường, 2007)[2]. Đặc biệt việc khai thác tiềm năng năng suất
thông qua ưu thế lai và đưa nhanh các giống ngô lai vào sản xuất trên quy mô
rộng lớn là một trong những đóng góp quan trọng làm tăng sản lượng lương
thực cả nước.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ sinh học
(CNSH) đã tạo ra những thay đổi kì diệu trong nhiều lĩnh vực. Trong nông
nghiệp CNSH được coi là phương tiện giải quyết các vấn đề khó khăn mà

Footer Page 1 of 133.


Footer Page 2 of 133.

2


Header Page 3 of 133.

 Ý nghĩa thực tiễn
Rút ngắn thời gian đánh giá dòng, giảm bớt khối lượng công việc lai tạo
trên đồng ruộng, kết hợp các phương pháp đánh giá đồng ruộng sẽ nhanh
chóng xác định, chọn lọc tổ hợp lai cho năng suất cao.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: 20 dòng ngô thuần Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá độ thuần di truyền, khoảng cách di truyền
giữa các dòng, phân nhóm và dự đoán ưu thế lai nhờ sử dụng chỉ thị SSR
- Địa điểm nghiên cứu: Bộ môn Công nghệ Sinh học - Viện nghiên cứu
Ngô - Đan Phượng - Hà Nội.
- Thời gian từ 23/02/2011 đến 22/05/2011

Footer Page 3 of 133.

3


Header Page 4 of 133.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
Cây ngô (Zea mays.L) thuộc chi Zea, phân họ ngô (Maydeae), họ phụ
hòa thảo (Panicoideae), họ hòa thảo (Grmaineae), bộ hòa thảo (Grmainale),
lớp một lá mầm (Cosmobionia) và có bộ nhiễm sắc thể 2n=20. Cây ngô là cây

1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trong và ngoài nước
1.2.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới
Nhờ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mà cây ngô ngày càng được
quan tâm và phát triển. Ngô là một trong ba cây lương thực lấy hạt quan trọng
nhất trong nền nông toàn cầu và được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế
giới đem lại năng suất và sản lượng cao nhất trong các loại ngũ cốc. Thực vậy,
năm 2009 theo số liệu của tổ chức Nông nghiệp và lương thực LHQ (FAO) về
sản xuất ngô: Diện tích toàn thế giới là 159,53 triệu ha, Năng suất trung bình
là 5,18 tấn/ha, Tổng sản lượng 817,1 triệu tấn. Năm 2009, phần lớn sản lượng
ngô thế giới tập trung ở các nước Mỹ, Trung Quốc, Braxin, Mehicô, Pháp và
Ấn Độ, chiếm trên 75% (FAOSTAT, 2009).
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất ngô ở một số nước dẫn đầu trên thế giới năm
từ 2004 - 2010
Chỉ tiêu Nước
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Thế giới
145,3 145,5 149,6 160,5 158,2 156,3 160,6
Diện tích Mỹ

29,8

30,4

28,6

35,0

31,8

32,2


12,9

12,8

Thế giới

4,9

4,8

4,8

4,9

50

5,2

5,1

Mỹ

10,1

9,3

9,4

9,5


4,0

3,6

4,3

4,0

Thế giới

715,5 699,4 713,5 793,6 797,8 812,4 820,7

Năng suất
(tấn/ha)

Sản lượng Mỹ

299,9 282,3 267,5 331,2 307,1 333,0 318,5

(triệu tấn) Trung Quốc

130,3 139,4 151,6 152,3 165,9 158,0 168,0

Braxin

35,0

41,7


đặc biệt là khai thác và sử dụng ưu thế lai ở ngô trong quá trình chọn giống.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô ở Việt Nam
Trong nền nông nghiệp Việt Nam, cây ngô là cây màu quan trọng, cây
lương thực thứ hai sau lúa nước. Ngô được đưa vào Việt Nam cách đây
khoảng 300 năm, mặc dù cây lương thực đứng thứ hai nhưng do truyền
thống trồng lúa nước nên ngô vẫn chưa được chú trọng, không phát huy
được tiềm năng của nó (Ngô Hữu Tình, 2009)[9]. Ngày nay, sản xuất ngô đã
được phổ biến rộng khắp cả nước từ vùng núi cao đến đồng bằng, trung du.
Năm 2009, diện tích ngô cả nước là 1086.8 nghìn ha, năng suất đạt 40,8
tạ/ha và sản lượng ngô là 4431,8 nghìn tấn. Nhưng 9 tháng đầu năm 2009,
Việt Nam đã phải nhập hơn 0,8 triệu tấn ngô, do nhu cầu dùng ngô làm thức
ăn chăn nuôi tăng mạnh.
Hiện nay thị phần giống ngô lai của Việt Nam chiếm khoảng trên 60%,
chủ yếu là giống lai đơn được áp dụng vào sản xuất ở tất cả các vùng sinh thái
trong cả nước.Trong những năm gần đây Viện Nghiên cứu Ngô đã liên kết với
các Viện thành viên trong VAAS và các công ty trong nước và đã nâng cao

Footer Page 6 of 133.

6


Header Page 7 of 133.

hiệu quả trong nghiên cứu và chuyển giao nhanh các kết quả nghiên cứu phục
vụ sản xuất, như các giống ngô LVN4, LVN9, LVN14. LVN99…
Bảng1.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam từ 2005 – 2009
Năm
Diện tích
Năng suất

4573,1

2009

1086,8

40,8

4431,8

Nguồn: tổng cục thống kê 2009 [12]
Tiến độ gieo trồng năm 2010 nhanh hơn so với năm 2009, tính đến trung
tuần tháng 2/2010 các địa phương trên cả nước gieo trồng được 2632,7 nghìn
ha ngô bằng 106,1% cùng kì năm trước. Đến trung tuần tháng 9/2010 cả nước
đã gieo trồng được 953,8 nghìn ha ngô tăng 1,4% so với cùng kì năm 2009.
Và đến ngày 15/3/2011 cả nước ta đă gieo trồng được 353,7 nghìn ha bằng
95,8% cùng kì năm trước (Tổng cục thống kê 2010, 2011)[13].
Chiến lược nghiên cứu và phát triển cây ngô của Việt Nam đến năm 2020
xác định:
-Đẩy mạnh nghiên cứu về cây ngô góp phần đưa diện tích ngô của cả
nước đến năm 2015, phấn đấu đạt 1,3 triệu ha ngô; năng suất đạt trên 50 tạ/ha;
sản lượng đạt 6,5 triệu tấn, đến năm 2020 đạt 1.500.000 ha với năng suất bình
quân 60 tạ/ha và sản lượng 9,0 triệu tấn, nhầm đảm bảo cung cấp nguyên liệu
cho chế biến thức ăn chăn nuôi và các nhu cầu khác trong nước, từng bước
tham gia xuất khẩu.

Footer Page 7 of 133.

7


6,5

2020

1500 000

60,0

7,8

Nguồn: Chiến lược pháp triển cây ngô đến năm 2020[14]
-Cải thiện thu nhập và đời sống cho người sản xuất ngô, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất, lao động và vốn đầu tư.
-Đẩy mạnh nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai đảm bảo đủ sức cạnh tranh
trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
-Đảm bảo cung cấp giống ngô lai Việt Nam chiếm 51-55% thị phần ngô
lai của cả nước nhằm chủ động hạt giống với giá bán phù hợp với khả năng
đầu tư của nông dân.
-Nghiên cứu các giải pháp về khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất ngô, tăng thu nhập cho người trồng ngô, bảo vệ môi trường sinh thái,
góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững.
1.3. Cơ sở khoa học
1.3.1. Ưu thế lai (ƯTL) - lịch sử nghiên cứu, ứng dụng trong chọn tạo
giống ngô
ƯTL là hiện tượng di truyền, trong đó con lai biểu hiện sức sống, các đặc
tính hình thái, sinh lý, khả năng thích nghi, khả năng chống chịu và năng suất
hơn hẳn bố mẹ (Nguyễn Lộc, 1997) [5]. Người đầu tiên quan sát thấy hiện
tượng ƯTL ở ngô là Charles Darwin, ông nhận thấy những cây giao phối phát
triển cao hơn những cây tự phối 20% trong tác phẩm “ Tác động của giao phối
và tự phối trong thế giới thực vật” xuất bản năm 1876.

phân nhóm cách biệt di truyền đã giảm bớt được khối lượng công việc lai tạo
trên đồng ruộng, rút ngắn thời gian đánh giá. Phương pháp này không phụ
thuộc vào môi trường và mùa vụ, do đó tiết kiệm được rất nhiều thời gian và
công sức cho các nhà tạo giống.

Footer Page 9 of 133.

9


Header Page 10 of 133.

1.3.2. Đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai theo phương pháp truyền
thống
1.3.2.1. Đa dạng di truyền của cây ngô:
Sự đa dạng di truyền của cây ngô được thể hiện ở tất cả các tính trạng của
cây, bông cờ và bắp. Các nghiên cứu cho thấy: Ngô có mức độ sai khác về di
truyền rất lớn trong cùng một quần thể hoặc các quần thể chéo nhau. Các
nghiên cứu ở mức độ phân tử cũng cho thấy mức độ đa dạng của ngô cao hơn
3-10 lần so với những loài thân thảo khác (Buckler và cs, 2001) [17]. Các nhà
chọn giống đã dựa vào sự đa dạng tự nhiên để lựa chọn các giống /loài tốt, từ
đó cải tiến nhằm nâng cao chỉ tiêu về số lượng và chất lượng và chất lượng
của giống, ở ngô, năng suất hiện tại cao gấp 55 lần so với năng suất của các
giống ngô tổ tiên (Buckler và cs,2001)[17].
1.3.2.2. Đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai theo phương pháp truyền
thống
Các nghiên cứu về hiện tượng ƯTL cho thấy sự khác biệt di truyền của
bố và mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới sự biểu hiện ƯTL của các tổ hợp lai đơn,
Shull G,H (1948) đã kết luận: ƯTL sinh lý của một cơ thể được biểu hiện qua
sự phát triển nhanh, qua chiều cao và ƯTL có mối tương quan thuận với độ

nào. Chính vì thế mà các nhà chọn tạo giống ngô mong muốn mô tả được sự
đa dạng di truyền của các nguồn vật liệu trong và giữa các nhóm ƯTL và mối
quan hệ di truyền giữa chúng (Messmer và cs, 1992) [20].
Đa dạng di truyền giữa các nguồn vật liệu có thể được đánh giá thông
qua việc xác định khoảng cách di truyền giữa chúng và dựa trên cơ sở dữ liệu
phả hệ, chỉ thị hình thái như kiểu nội nhũ, chỉ thị phân tử như: chỉ thị isozyme
và gần đây là chỉ thị DNA.
Các chỉ thị phân tử DNA có thể được chia làm hai nhóm chính sau: chỉ
thị phân tử dựa trên cơ sở lai DNA hay chỉ thị RFLP dựa vào các băng DNA
trên gel điện di có thể phát hiện các thể đồng hợp tử hoặc dị hợp tử (Becker và
cs, 1995) [16] và chỉ thị phân tử dựa trên cơ sở nhân bản DNA bằng kỹ thuật
PCR như: RAPD, AFLP, SSR, STS…Trong những năm gần đây, nhiều chỉ thị
thuộc nhóm này đã thành công trong nghiên cứu đa dạng di truyền.
* Chỉ thị RFLP (Restiction Fragment Lengh Polymorphism)

Footer Page 11 of 133.

11


Header Page 12 of 133.

Chỉ thị RFLP (đa hình chiều dài các phân đoạn cắt giới hạn) được sử
dụng rộng rãi trong đánh giá tính đa dạng di truyền, nghiên cứu quá trình tiến
hóa và phân loại các loài của nhiều nhóm thực vật và trong lập bản đồ di
truyền. Chỉ thị RFLP được sử dụng như là mẫu chuẩn để xác định sự có mặt
hay thiếu vắng các đoạn nhiễm sắc thể nhất định. Khả năng theo dõi quá trình
di truyền các đoạn nhiễm sắc thể cho phép sử dụng kĩ thuật RFLP trong chọn
tạo giống cây trồng (Lê Trần Bình và cs, 1997).
Khả năng phân biệt của chỉ thị RFLP đã được nghiên cứu rộng rãi ở ngô,

đoạn từ một vài nucleotide. Kỹ thuật AFLP cho phép phát hiện được đa hình
chiều dài các phân đoạn được nhân chọn lọc. Trên cây ngô chỉ thị AFLP được
các nhà khoa học ứng dụng trong đánh giá mối quan hệ giữa đa hình phân tử
với sự biểu hiện ở giống ngô lai (Ajmone-Marsan và cs,1998).
* Chỉ thị SSR (Simple Sequence Repeat)
SSR hay còn gọi là vi vệ tinh là sự lặp lại trình tự đoạn nucleotide đơn
giản cực ngắn (chỉ từ 1-6 cặp base). Các SSR xuất hiện phổ biến trong bộ gen
của sing vật nhân thực (Eukaryote). Tuy nhiên tùy từng loài mà số lượng
nucleotide trong mỗi đơn vị lặp lại có thể thay đổi từ một đến hàng chục và số
lượng đợn vị lặp lại có thể biến động từ hai đến hàng trăm ngàn lần và nhiều
hơn. Phương thức lặp lại cũng rất phức tạp và đa dạng, chủ yếu có ba dạng
sau: (1) lặp lại hoàn toàn; (2) lặp lại không hoàn toàn; (3) lặp lại phức tạp.
Kỹ thuật SSR cho phép chúng ta phát hiện được tính đa hình về độ dài
các trật tự nucleotide lặp lại đơn giản. Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc của
PCR và phương pháp điện di trên gel polyacrylamide. Do sự khác nhau về số
lượng các nucleotide trong mỗi đơn vị lặp lại và số lần lặp lại mà sự đa hình
về độ dài của SSR khuếch đại sẽ được phân tách trong quá trình điện di.
Trên đối tượng là cây ngô, các nhà khoa học cũng đã sử dụng chỉ thị SSR
trong nhiều nghiên cứu khác nhau, Senior và Heun (1993) đã công bố, do sự
biến đổi cao trong số đơn vị lặp lại nên chỉ thị SSR cung cấp mức độ đa hình
cao ở ngô. Kết quả dự đoán của chỉ thị SSR nhanh, đáng tin cậy và có khả
năng lặp lại, chuẩn xác và có hiệu quả hơn phân tích RFLP. Phân tích SSR sử

Footer Page 13 of 133.

13


Header Page 14 of 133.




Header Page 15 of 133.

1.3.4. Tình hình nghiên cứu đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai cây
ngô ở Việt Nam
Những năm trước đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu đa dạng di truyền
của các dòng ngô thuần và dự đoán ƯTL chỉ dựa vào các đặc điểm hình thái
như chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, …
Mai Xuân Triệu (1998) [4] đã sử dụng phương pháp phân tích nhóm của
Mahalanobis để phân loại dòng thuần theo sự cách biệt về di truyền (phân loại
dưới loài) của 24 dòng ngô có nguồn gốc khác nhau của Viện nghiên cứu Ngô,
Kết quả 24 dòng đã được phân thành 4 nhóm.
Bùi Mạnh Cường và cs (2000) [1] đã sử dụng chỉ thị phân tử RAPD với
35 cặp mồi để nghiên cứu đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai của 7 dòng
ngô đường tại Viện nghiên cứu Ngô. Kết quả đã chia được 7 dòng ngô nghiên
cứu thành 2 nhóm cách biệt di truyền.
Ngô Thị Minh Tâm, Bùi Mạnh Cường (2007) [10] đã sử dụng 36 mồi
SSR để phân tích đa hình của 8 dòng ngô có nguồn gốc khác nhau trong tập
đoàn nguyên liệu của Viện nghiên cứu Ngô. Kết quả khảo sát đánh giá các tổ
hợp lai trên đồng ruộng và chỉ ra mối tương quan thuận giữa khoảng cách di
truyền với năng suất của con lai F1 ở 8 dòng ngô nghiên cứu…
Gần đây, việc sử dụng các chỉ thị phân tử trong nghiên cứu đa dạng di
truyền và dự đoán ưu thế lai ở các đối tượng cây trồng nói chung và ở cây ngô
nói riêng đang ngày càng phát triển.

Footer Page 15 of 133.

15



CP888

2

C24

Syngenta 70224

12

C208

C919 x AC24

3

C40

Dekalbgold

13

C329

C919 x AC24

4

C43


LVN10

7

C115

MB69

17

C245

LVN61

8

C128

LVN99

18

C275

HQ2000

9

C133

Footer Page 16 of 133.

16


Header Page 17 of 133.

Dụng cụ thí nghiệm: pipet, ống eppendof, đầu côn các loại, lược gel,
ống bơm gel, ….
- Hóa chất tách chiết DNA:
Bao gồm các loại hóa chất như EDTA,CTAB, chloroform, Isoamyl
alcohol, Isopropanol, Amino acetic.
Đệm tách chiết DNA của mẫu lá: CTAB 2%( Tris-HCl 10mM, pH 8,0,
EDTA 10mM, NaCl 100mM, beta-Mercatoethanol 0,5%,), TE( 10mM TrisHCl, 1mM EDTA, pH 8,0 )
- Hóa chất chạy phản ứng PCR:
+ Đệm PCR 1X( 10mM Tris-HCl, 1,5 mM MgCl2, 5mM KCl) hoặc đệm
PCR 1X của Quiagen.
+ MgCl2 của Fementas, Invitrogen.
+ dNTPs của Fementas, Invitrogen.
+ Mồi: hệ thống mồi SSR dùng trong nghiên cứu được cung cấp bởi
AMBIONET (bảng 2.2).
+ Marker 1kb
+ 2Tap polymerase của Fementas
+ H2O cất vô trùng
- Hóa chất chạy điện di và nhuộm gel: TEB 1X, TEB 5X, TEMED, APS 10%,
Acrylamide

4,5%,

formandehyde


Phi308707

AGG

1,10

2

Phi448880

AAG

9,05

3

Phi109188

AAAG

5,0

4

Phi84

GAA

10,04


9,04

9

Phi102228

AAGC

3,04-3,05

10

Phi374118

ACC

3,02

11

Phi029

AG/AGCG***

3,04

12

Phi72


Phi06

ACG

4,11

17

Phi1304

(TCGA)4

8,02

18

Umc1143

AAAAT

6,0

19

Phi87

ACC

5,06

Tách DNA tổng số
Mỗi dòng lấy 10 cây đại diện, lấy lá non lúc cây được 3 – 4 lá. Quy
trình tách triết theo phương pháp Saghai Maroof và cs (1984) [15].
Các bước tiến hành:
- Nghiền lá tươi thành thể nhuyễn, bổ sung 2-3ml đệm chiết CTAB,
chuyển sang ống eppendorf 1,5ml, đảo đều mẫu nhẹ nhàng.
- Ủ mẫu ở 65°C trong thời gian 45-60 phút, sau đó để nguội ở nhệt độ
phòng, đem ly tâm 13,000 vòng/phút trong 1 phút.
- Chiết DNA 2 lần với Chloroform/Isoamyl alcohol (24:1), đảo đều, ly
tâm ở 13,000 vòng/phút mỗi lần trong 5 phút. Sau đó chuyển dịch trong phía
trên ống eppendorf sang một ống mới.
- Kết tủa DNA với 600µl Isopropanol và 100µl Ammonium acetate,
đảo đều ở -20°C trong 30 phút, ly tâm thu tủa ở 13,000 vòng/phút trong thời
gian 10 phút.
- Rửa tủa DNA trong 1ml dung dịch rửa, ly tâm trong 5 phút.
- Làm khô DNA sau đó hòa tan DNA trong 100µl dung dịch TE và bảo
quản ở 20°C.

Footer Page 19 of 133.

19


Header Page 20 of 133.

 Kiểm tra nồng độ và độ tinh sạch DNA tổng số
Độ tinh sạch và nồng độ của DNA tổng số được đo bằng máy đo quang phổ
( Ultrospec UV/Visible-65 spectrophotomrter)
Nồng độ DNA được tính theo công thức:
Nồng độ DNA (µg/µl) =( OD260 x 50 x 50 µg/ml)/1000

dNTP 10mM

0,25mM

1,0

Primer 5uM

0,25mM

0,5

Tap DNA polymerase

0,5U

0,1

5U/µl

10ng

1,0

Nước cất vô trùng

DNA khuôn 10ng/ µl
Tổng thể tích

10,0

720C trong 1 phút
Lặp lại từ bước 2, 29 lần
Kéo dài chuỗi cuối cùng
720C trong 1 phút
Bảo quản
40C, ∞

Biến tính sản phẩm PCR và marker DNA có khối lượng chuẩn ( thang
chuẩn ФX174 DNA/HinfI, 20ŋg /µl) được biến tính ở 20°C trong 5 phút, sau
đó ngay lập tức làm lạnh và giữ lạnh cho đến khi tra mẫu vào bản gel.
 Điện di sản phẩm PCR
Sản phẩm PCR và thang chuẩn sau khi biến tính và sốc nhiệt trong đá
lạnh được đưa vào chạy điện di trên gel polyacrylamide 4,5% và sau đó
nhuộm bạc để biểu hiện sản phẩm điện di.
Gel polyacrylamide gồm các thành phần:
+ Dung dịch acrylamide 4,5%: 60ml
+ Dung dịch APS 10%

: 60ml

+ Dung dịch TEMED

:60ml

Phương pháp nhuộm bạc:
- Chuẩn bị dung dịch nhuộm: hòa tan 1g AgNO3 trong 1lit nước cất hai lần
khử ion, bổ sung 1,5ml dung dịch fomaldehyde 37%, để lạnh sâu trước khi dùng
- Chuẩn bị dung dịch hiện: hòa tan 30g Na2CO3 trong 1 lit nước cất hai
lần khử ion, làm lạnh ở nhiệt độ -20°C. Trước khi dùng thì bổ sung 1,5ml
dung dịch fomaldehyde 37% + 200ml sodium thiosulfate 10mg/ml.

x 100
Tổng số mồi sử dụng – số mồi khuyết số liệu

 Tỷ lệ khuyết số liệu (M%) được tính cho từng dòng và từng mồi
Số mồi khuyết số liệu
M% dòng =
x 100
Tổng số mồi sử dụng
Số dòng khuyết số liệu
M% mồi =

x 100
Tổng số dòng nghiên cứu

Footer Page 22 of 133.

22


Header Page 23 of 133.

 Khoảng cách di truyền (GD)
GD = 1 – GS
Trong đó: GD là khoảng cách di truyền
GS là độ tương đồng di truyền được tính theo hệ số Jaccard(
Lanza và cs, 1997)
 Phân nhóm bằng phương pháp UPGMA (Unweighted Pair
Group Meyhod with Arithmetical Averages),

Footer Page 23 of 133.

12
13
14
15
16
17
18
19
20

C1
C24
C40
C43
C45
C84
C115
C128
C133
C143
C200
C208
C329
C369
C222
C236
C245
C275
C477
C738

2,96
2,90
3,09
3,00
2,83
2,64
2,80
3,20
3,10
2,96
2,86
3,20
3,12
2,74
2,78
2,90
2,86
2,53
2,46
2,90


Header Page 25 of 133.

Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy các mẫu DNA có giá trị OD260/OD280 biến thiên
từ 1,8 -2,0 nằm trong khoảng giới hạn cho phép của mức độ tinh sạch DNA.
Kết quả phù hợp với yêu cầu của sản phẩm tách chiết DNA tổng số do
AMBIONET-CIMMYT công bố.
Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành kiểm tra sản phẩm tách chiết DNA
bằng phương pháp điện di trên gel agarose 1%. Kết quả điện di được thể hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status