VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
DƯƠNG SƠN TÙNG
THI HÀNH ÁN TREO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS. Phạm Mạnh
Hùng. Các nội dung nghiên cứu, số liệu, kết quả và các trích
dẫn trong luận văn đảm bảo tin cậy, chính xác, trung thực và
chưa từng được công bố. Nếu phát hiện có bất kì gian lận
nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng.
Hà Nội, ngày
Bảng 2.1: Số lượng các bị cáo được hưởng án treo trên địa bàn
tỉnh Hưng Yên từ năm 2011 đến năm 2016……………………..………
3
34
Biểu đồ 2.2: So sánh tình hình áp dụng án treo giữa các năm từ
năm 2011 đến năm 2016…………………………………………………
3
35
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
ĐKTT
: Điều kiện thử thách
HĐXX
: Hội đồng xét xử
LTHAHS : Luật thi hành án hình sự
UBND
pháp luật và các quy tắc của chủ nghĩa xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có
nghĩa là hoàn trả cho xã hội con người đã trở lên vô hại, không còn nguy cơ tái
phạm. Trong một số trường hợp, sẽ có hiệu quả cao hơn mà không cần bắt người
phạm tội phải chấp hành hình phạt. Tuy nhiên, để vận hành tốt chế định án treo,
ngày 17/6/2010, Quốc Hội khóa XII đã thông qua Luật thi hành án hình sự mới và
có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2011 [17]. Đây là một bước tiến lớn trong
công tác thi hành án hình sự nói chung và thi hành án treo nói riêng, đã đạt được
nhiều thành tích đáng kể cũng như phát huy được hiệu quả trong thực tiễn áp
dụng.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án treo đối với người phạm tội chưa đạt
được kết quả mong muốn. Tại địa bàn tỉnh Hưng Yên, việc thi hành án treo đã đạt
được nhiều hiệu quả tích cực. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và gặp
1
những khó khăn, vướng mắc. Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
ngày càng tăng, cùng với đó việc cho người phạm tội được hưởng án treo cũng
tăng theo. Hiện nay số người phạm tội được hưởng án treo là tương đối lớn. Tuy
nhiên việc thi hành, giám sát, giáo dục đối với người được hưởng án treo ở một số
nơi còn chưa chặt chẽ. Việc phối hợp giữa Tòa án với cơ quan thực hiện giám sát,
giáo dục và gia đình người được hưởng án treo nhiều nơi còn lỏng lẻo, mang tính
hình thức, chưa thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình theo pháp luật,
dẫn tới việc quản lý, giám sát, giáo dục chưa hiệu quả, làm cho việc thi hành án
treo không đạt được mục đích.
Chính vì thế, việc nghiên cứu một cách sâu rộng và toàn diện về việc thi
hành án treo tại địa bàn tỉnh Hưng Yên là cần thiết, góp phần nâng cao, hoàn thiện
để việc thi hành án treo đạt được hiệu quả cao. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài:
“Thi hành án treo từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” làm luận văn thạc sĩ luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
03/2005 của tác giả Lê Văn Luật.
- Án treo và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân số 7/2007 của tác
giả Đỗ Văn Chỉnh.
- Điều kiện thử thách của án treo và hậu quả pháp lý của việc vi phạm
điều kiện thử thách của án treo theo luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số
2/1999, của tác giả Phạm Thị Học.
- Chế định án treo và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt nam,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 02/2005, của tác giả Lê Cảm.
- Một số vấn đề về tổng hợp hình phạt tù với án treo, Tạp chí Tòa án nhân
dân tối cao, số 2/2012 của tác giả Đinh Văn Quế.
Các cuốn giáo trình, các công trình nghiên cứu và các bài viết nêu trên đã
phần nào làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn án treo trong luật hình sự Việt
Nam. Một số công trình nghiên cứu đã phân tích rõ những kết quả đạt được và
hạn chế trong quá trình vận hành pháp luật thi hành án đối với người được hưởng
án treo tại một số địa phương. Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
dưới góc độ chuyên sâu lý giải những kết quả đạt được và nguyên nhân ảnh
hưởng đến chất lượng thực hiện pháp luật đối với người được hưởng án treo trên
địa bàn tỉnh Hưng Yên.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn “Thi hành án treo từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên”
nhằm làm sáng tỏ hơn cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn của việc thi hành án treo,
đánh giá thực trạng thi hành án treo tại tỉnh Hưng Yên, những kết quả và hạn chế
của việc thi hành án treo. Qua đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả
thi hành án treo, đảm bảo phát huy hiệu quả việc thi hành án treo trong thực tiễn
tại địa bàn tỉnh Hưng Yên.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
tỉnh Hưng Yên. Trên cơ sở đó thực hiện phân tích, tổng hợp và so sánh để làm rõ
thực tiễn thi hành án treo tại Hưng Yên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là đề tài đầu tiên tại địa bàn tỉnh Hưng Yên đề cập đến vấn đề thi
hành án treo. Luận văn sẽ là một tư liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng
pháp luật Việt Nam, tìm ra giải pháp để khắc phục những khiếm khuyết trong
thực tiễn thi hành án treo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, từ đó góp phần vào công
cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì Luận văn
gồm 03 chương là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp về án treo và thi
hành án treo
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thi hành án
treo và thực tiễn thi hành án treo tại tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật và các giải pháp khác
nâng cao hiệu quả thi hành án treo.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP
VỀ ÁN TREO VÀ THI HÀNH ÁN TREO
1.1. Khái niệm án treo và thi hành án treo
1.1.1. Khái niệm án treo
Án treo là một chế định ra đời từ rất sớm. Trên thế giới mỗi quốc gia đều
có những quy định khác nhau về chế định này. Ví dụ như ở Pháp, Bỉ và một số
nước khác coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt.
Từ các quy định pháp luật về án treo của các Bộ luật hình sự của nước ta
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 60
BLHS về án treo quy định [23]: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá
3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét
thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù.”
Như vậy, quan điểm thống nhất hiện nay đều coi án treo là biện
pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều kiện đó là người được
hưởng án treo chỉ được miễn chấp hành hình phạt nếu trong thời gian thử thách,
người bị kết án không phạm tội mới. Nếu vi phạm điều kiện trên, người bị kết án
sẽ phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo nữa.
Việc cho người phạm tội được hưởng án treo không chỉ thể hiện tính nhân
đạo, khoan hồng trong chính sách pháp luật hình sự của nước ta mà án treo còn
thể hiện được tính công bằng, tính giáo dục, phòng ngừa cao. Nó thể hiện rõ
phương châm trừng trị kết hợp với cải tạo giáo dục trong chính sách pháp luật
hình sự của nước ta. Việc thi hành án nhưng cho người phạm tội được tự do của
chế định án treo giúp giảm thiểu các yếu tố như chi phí, nhân lực, cơ sở vật chất
so với tội phạm bị giam giữ. Tuy nhiên nếu Tòa án áp dụng án treo quá linh hoạt
hoặc quá lạm dụng thì nó không phát huy được tính giáo dục, phòng ngừa tội
phạm.
7
Người phạm tội được hưởng án treo không phải chấp hành hình phạt tù
trong trại giam, họ vẫn được làm ăn sinh sống trong cộng đồng xã hội tuy nhiên
trong thời gian thử thách, người phạm tội bị hạn chế một phần quyền tự do của
mình đã được quy định cụ thể trong luật định. Cụ thể, người đó phải chịu sự giám
sát, quản lý của cơ quan nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi
người đó thường trú, nếu như người phạm tội vi phạm điệu kiện đã được ấn định
trong thời gian thử thách thì họ phải chịu hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên trong
nhưng các giai đoạn đó lại có sự liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất
và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, Quyết định
của Tòa án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng. Sau đó
để thực hiện các phán quyết của Tòa án trên thực tế, cơ quan thi hành án phải phối
hợp với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương để thực hiện đưa bản án,
quyết định của Tòa án ra thi hành. Như vậy có thể coi thi hành án là hoạt động
hành chính – tư pháp.
Theo tác giả, để có thể xác định chính xác nhất về khái niệm thi hành án
thì cần phải tìm hiểu những đặc trưng cơ bản nhất của thi hành án để từ đó đưa ra
những nhận định chính xác nhất về thi hành án. Thi hành án có những đặc trưng
cơ bản sau đây:
- Thi hành án là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án. Không
có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động thi hành án cho nên
thi hành án dựa trên kết quả xét xử của Tòa án.
- Thi hành án là hoạt động có tính chấp hành. Thi hành án phải hoạt động
trong khuôn khổ của pháp luật, phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ do pháp
luật quy định.
- Trong thi hành án, cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền áp
dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục phải kết hợp với phương pháp mệnh
lệnh, bắt buộc. Điều này có ý nghĩa tác động trực tiếp đến đối tượng thi hành án
để họ tự giác thi hành hoặc dùng các biện pháp buộc họ phải thực hiện những
nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án.
9
Từ những nhận định trên, có thể hiểu: Thi hành án là việc của cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định của Tòa án đưa bản
án, quyết định của Tòa án ra thi hành trên thực tế nhằm bảo đảm hiệu lực của bản
án, quyết định đó.
Tại Điều 10 sắc lệnh số 21/SL này quy định về án treo và thi hành án treo như
sau: “Khi phạt tù, Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những
lý do đáng khoan hồng, bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành nếu trong 5
năm bắt đầu từ ngày tuyên, tội nhân không bị Tòa án quân sự làm tội một lần
nữa về tội mới thì bản án đã tuyên sẽ bị hủy đi, coi như không có. Nếu trong 5
năm ấy tội nhân bị kết án một lần nữa trước một Tòa án quân sự thì bản án sẽ
đem thi hành” [14].
Sắc lệnh số 21/SL ban hành quy định về án treo có một số thay đổi về
nội dung và câu chữ so với Sắc lệnh số 33C. Tại Sắc lệnh số 33C quy định “Toà
án có thể cho tội nhân được hưởng án treo, nghĩa là bản án làm tội tuyên lên,
nhưng không thi hành”. Nhưng trong Sắc lệnh số 21/SL, pháp luật quy định “Khi
phạt tù, Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng
khoan hồng, bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành…”. Như vậy, thay đổi
này đã cho thấy sự rõ ràng hơn, nghĩa là bản án tuyên đối với người được hưởng
án treo không phải là “không khi hành” mà là “tạm đình chỉ việc thi hành”.
Ngoài ra, các nội dung trong quy định về án treo tại hai Sắc lệnh này đều tương
đối giống nhau.
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1999
Cùng với sự phát triển của xã hội, để đáp ứng những yêu cầu mới thì Luật
hình sự cũng được hoàn thiện. Đánh dấu sự hình thành và phát triển của hệ thống
pháp luật Việt Nam, ngày 01/01/1986 Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam
chính thức có hiệu lực. Theo quy định mới thì án treo và thi hành án treo được
quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1985. Cụ thể Điều 44 quy định như sau:
“1. Khi xử phạt tù không quá 05 năm, căn cứ vào thân nhân của người
phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình
11
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian
thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm
giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử
thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và
tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.”
Quy định về án treo tại Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn giữ được 05 khoản
như Bộ luật năm 1985 nhưng đã được sửa đổi và bổ sung cho chính xác hơn về
mặt ngữ nghĩa. Như thay đổi cụm từ “theo dõi” thành “giám sát”, “người bị án
treo” thành “người được hưởng án treo”, riêng Khoản 5 luật cũ được sửa đổi như
sau: Bãi bỏ cụm từ “người bị án treo phạm tội mới và bị phạt tù hoặc phạm tội
mới do cố ý” thành “đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong
thời gian thử thách”.
Sau đó ngày 01/10/2007, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
đã hướng dẫn thực hiện Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 về án treo tại Nghị
quyết số 01/2007/NQ-HĐTP. Nghị quyết này quy định cụ thể hơn về các điều
kiện cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo; hướng dẫn tính thời điểm bắt
đầu thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo; hướng dẫn ấn
định thời gian thử thách; quy định rõ hơn về các điều kiện rút ngắn thời gian thử
thách và mức rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hướng
dẫn xác định cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục người được
hưởng án treo; hướng dẫn giải quyết trường hợp người được hưởng án treo phạm
tội mới trong thời gian thử thách; ngoài ra Nghị quyết này đã bổ sung quy định
trong trường hợp người được hưởng án treo trước đó bị tạm giam, quy định như
sau: “Đối với người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì chỉ cho hưởng án treo khi
thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù”. Nghị quyết số 01/2007/NQHĐTP sau khi được ban hành đã giúp cho các cơ quan, tổ chức, người có thẩm
quyền thực hiện thi hành án treo đạt được hiệu quả cao hơn, giải quyết được
những vướng mắc gặp phải trước đó.
13
14
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì chế định về án treo quy định tại Điều
65 BLHS năm 2015 có nội dung đầy đủ, bao quát hơn.
Kết luận chương 1
Án treo là một chế định pháp lý, là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án. Chế định án treo ra đời và
phát triển cùng với sự phát triển của luật hình sự Việt Nam từ những ngày đầu
thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân. Trải qua quá trình sửa đổi, bổ sung, chế
định án treo được quy định mới nhất và cụ thể nhất hiện nay tại Điều 65 Bộ luật
hình sự năm 2015 và Điều 61 đến Điều 70 của Luật thi hành án hình sự năm 2010.
Hoạt động thực hiện pháp luật là quá trình đưa pháp luật vào đời sống, áp dụng
những quy định trong văn bản vào hiện thực, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh
của những bản án mà Tòa án tuyên. Thực hiện tốt pháp luật thi hành án nói chung
và thi hành án đối với người được hưởng án treo nói riêng giúp cho người phạm
tội có cơ hội cải tạo, trở thành người có ích và đồng thời là kênh tuyên truyền,
giáo dục pháp luật. Để thực hiện tốt được những quy định pháp luật của chế định
án treo cần hiểu rõ bản chất và ý nghĩa của án treo. Chương 1 của Luận văn đã
phân tích một cách khái quát về án treo trong luật hình sự Việt Nam, bao gồm:
Khái niệm án treo, khái niệm thi hành án treo, lịch sử lập pháp của Việt Nam về
án treo và thi hành án treo qua từng giai đoạn, từ sau cách mạng tháng 8 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 và sau khi có Bộ luật hình sự năm 1985
đến trước khi có Bộ luật hình sự năm 1999.
15
Chương 2
kiểm sát để Viện kiểm sát nắm bắt được tình hình và kiểm sát quyết định thi hành
án có đúng quy định của pháp luật hay không, đồng thời Viện kiểm sát thực hiện
trách nhiệm của mình trong việc kiểm sát thi hành án của người được hưởng án
treo. Còn về Sở tư pháp nơi Tòa án ra quyết định thi hành án có trụ sở, Tòa án gửi
quyết định cho Sở tư pháp để Sở tư pháp thực hiện tốt chức năng theo dõi thi hành
pháp luật của mình và xử lý, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp của người được
hưởng án treo.
Thứ hai, về thẩm quyền và trình tự, thủ tục thi hành quyết định thi hành
án treo
Sau khi Tòa án ra quyết định thi hành án treo thì trong thời hạn 03 ngày
làm việc Tòa án phải gửi quyết định đó cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp huyện hay Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó cư trú, làm
việc; người được hưởng án treo; Viện kiểm sát cùng cấp; Sở tư pháp nơi Tòa án ra
quyết định thi hành án có trụ sở theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 61 Luật thi
hành án hình sự. Việc thi hành quyết định thi hành án treo này được quy định tại
Điều 62 Luật thi hành án hình sự năm 2010.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi
hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu có nhiệm vụ triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện
hợp pháp của người được hưởng án treo là người chưa thành niên đến trụ sở cơ
quan thi hành án để ấn định thời gian cho người được hưởng án treo phải có mặt
tại Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi người đó cư trú, làm việc và cam
kết việc chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án. Về Hồ sơ thi hành án treo được quy
định rõ trong Khoản 1 Điều 62 Luật thi hành án hình sự bao gồm: Bản án đã có
hiệu lực pháp luật; Quyết định thi hành án treo; Cam kết của người được hưởng
án treo, đối với người được hưởng án treo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải có sự xác nhận của người đại
diện hợp pháp và các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án treo.
17
pháp luật của Tòa án nhân dân, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong việc thi
18
hành án treo nhằm đảm bảo các bản án, quyết định đó được thi hành đúng pháp
luật, đầy đủ, kịp thời theo quy định tại Điều 141 luật thi hành án hình sự năm
2010 và Điều 25, 26 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Khi thực
hiện nhiệm vụ trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
- Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành
án treo đúng quy định pháp luật, hoặc Tòa án tự kiểm tra việc thi hành án treo và
thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu Tòa án cung cấp
hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án treo.
- Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án treo
của cơ quan thi hành án, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan và
việc giải quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án treo;
- Tham gia việc xét giảm thời gian thử thách của án treo, xóa án tích;
- Kháng nghị với tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp
dưới, cơ quan, tổ chức, đơn vị có vi phạm trong việc thi hành án treo, yêu cầu
chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong thi hành án nếu có.
2.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền
trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú,
đơn vị quân đội nơi người đó làm việc được quy định tại Điều 63 Luật Thi hành
án hình sự năm 2010 như sau:
“1. Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được
hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;
b) Phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người được hưởng án
treo;
c) Yêu cầu người được hưởng án treo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của
nhiệm vụ, quyền hạn trên, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội sẽ bảo đảm
cho Quyết định thi hành án của Tòa án được thi hành trên thực tế một cách chính
xác nhất. Trong quá trình thi hành Quyết định thi hành án treo, Ủy ban nhân dân,
20