VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ANH DŨNG
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ
PHÁP TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số:
60 38 01 04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan
Phản biện 1: ..........................................
Phản biện 2: ..........................................
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
...... giờ, ngày ..... tháng ..... năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
dân đã đặt ra cho các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở nói chung và
ngành Tư pháp nói riêng phải thường xuyên củng cố, kiện toàn cảvề tổ chức
và hoạt động. Sau khi các quy định của pháp luật về hộ tịch, chứng thực,
1
ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) năm 2015… được ban hành
và có hiệu lực, qua tìm hiểu chưa có công trình nghiên cứu về tổ chức và
hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực tiễn thành phố Hà Nội trong một vài
năm trở lại đây. Do đó, để củng cố thêm cơ sở lý luận và pháp lý cho việc
kiện toàn về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp, học viên lựa chọn đề
tài: “Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực tiễn thành phố
Hà Nội” để triển khai nghiên cứu là cần thiết, có ý nghĩa thiết thực lý luận,
thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và Phòng Tư pháp đã có nhiều đề tài
nghiên cứu ở phạm vi khác nhau như:
Đề tài cấp Bộ:“Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp cấp huyện.
Thực trạng, giải pháp kiện toàn và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động”
của Lê Thị Thu Ba, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, năm 2005.
Đề tài cấp Bộ: “Xây dựng cơ chế thi tuyển Tư pháp quốc gia đáp ứng
yêu cầu cải cách Tư pháp” của PGS.TS Nguyễn Văn Huyên, Phó Giám đốc
Học viện Tư pháp, năm 2011.
Luận văn thạc sĩ:“Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực
tiễn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” của Thạc sĩ Lê Thị Hồng Thu,
năm 2014.
Như vậy về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp chưa có nhiều đề
tài nghiên cứu, thực tế đã có đề tài cấp Bộ nghiên cứu ở phạm vi cả nước về
tổ chức và hoạt động hoặc về vấn đề thi tuyển cán bộ, công chức Tư pháp
Thứ hai, Phân tích, đánh giá thực trạng việc tổ chức và hoạt động của
Phòng Tư pháp từ thực tiễn thành phố Hà Nội qua đó thấy được những kết
quả, tồn tại và nguyên nhân của thực trạng đó trong tổ chức và hoạt động
của Phòng Tư pháp.
Thứ ba, Đưa ra các quan điểm, giải pháp để đổi mới về tổ chức và nâng
cao chất lượng hoạt động của Phòng Tư pháp đáp ứng tình hình, nhiệm vụ
trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn về vị trí, vai trò, nhiệm
vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp; các đề xuất quan điểm, giải pháp tiếp
tục củng cố, kiện toàn về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp.
- Do thời gian có hạn, nên học viên tập trung nghiên cứu thực trạng tổ
chức và hoạt động (về hoạt động, tập trung nghiên cứu một số nhiệm vụ,
quyền hạn, còn nhiều nhiệm vụ, quyền hạn khác, dành học viên khác tiếp
tục nghiên cứu, bổ sung lý luận và thực tiễn cho việc tổ chức và hoạt động
về Phòng Tư pháp) của Phòng Tư pháp của 30 quận, huyện và thị xã từ thực
tiễn thành phố Hà Nội trong khoảng từ 4 đến 5 năm trở lại đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Trên cơ sở các nguyên lý cơ bản và phương pháp luận
duy vật biện chứng; duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật; những quan điểm của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về tổ chức bộ máy nhà nước về tổ chức chính quyền. Luận
văn đã tiếp thu có chọn lọc sau khi tham khảo một số công trình nghiên cứu
khoa học, các tác phẩm, bài viết của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu
về công tác tư pháp; về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp để khẳng
định việc nghiên cứu của luận văn nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả về tổ
chức và hoạt động của Phòng Tư pháp nói chung và Phòng Tư pháp thuộc
Phòng Tư pháp từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, vị trí, chức năng và quá trình hình thành, phát
triển của Phòng Tư pháp ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, vị trí, chức năng của Phòng Tư pháp
Khái niệm: Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp
huyện, có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho UBND cấp huyện trong
lĩnh vực hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhằm thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật, theo dõi thi
hành pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, kiểm soát TTHC, PBGDPL,
hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý, vấn đề nuôi con nuôi, công tác hộ tịch,
5
chứng thực, thực hiện bồi thường nhà nước và các công tác tư pháp khác
theo quy định của pháp luật.
Vị trí của Phòng Tư pháp trong hệ thống cơ quan hành chính nhà
nước theo quan hệ chiều ngang là một trong các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND cấp huyện; theo mối quan hệ chiều dọc thì Phòng Tư pháp là cơ
quan chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp
vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên là Sở Tư pháp cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và Phòng Tư pháp có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn,
kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ công tác tư pháp ở cấp xã.
Chức năng của Phòng Tư pháp là thực hiện quản lý nhà nước về công
tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử
lý văn bản QPPL; kiểm soát TTHC; PBGDPL; hòa giải ở cơ sở, trợ giúp
pháp lý; nuôi con nuôi; hộ tịch; chứng thực; quản lý công tác thi hành pháp
luật về xử lý VPHC; bồi thường nhà nước và các công tác tư pháp khác
1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp
1.2.2.1. Về công tác xây dựng pháp luật
Pháp luật là hành lang, công cụ đảm bảo giúp nhà nước quản lý xã
hội, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được nhà nước bảo
đảm thực hiện. Bởi pháp luật có hiệu lực, tác động đến các mặt của đời
sống xã hội trong khoảng thời gian dài, không gian, phạm vi của địa
phương nên việc ban hành văn bản QPPL, phải được thực hiện theo trình
tự, thủ tục quy định rất chặt chẽ trong đó quy trình thẩm định có vai trò
kiểm tra tính thống nhất, tính hợp hiến, hợp pháp của dự thảo văn bản
QPPL trước khi được ban hành.
1.2.2.2. Về phổ biến, giáo dục pháp luật
Nhà nước muốn pháp luật sau khi được ban hành được thực thi
trong thực tiễn thì giai đoạn đưa pháp luật vào thực tiễn là quá trình
PBGDPL đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội giúp cho văn bản pháp
luật đó “sống” trong thực tiễn xã hội… Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo,
chỉ đạo nhằm tăng cường sự lãnh đạo công tác PBGDPL, nâng cao ý thức
pháp luật của cán bộ, nhân dân, là nhiệm vụ đầu tiên đưa pháp luật đến với
thực tiễn xã hội.
1.2.2.3. Về công tác hòa giải ở cơ sở
7
Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên
tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những mâu
mắc, tranh chấp nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát
huy tình cảm và truyền thống gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa,
hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát
triển kinh tế, xã hội tại địa phương.
1.2.2.4. Về công tác kiểm soát thủ tục hành chính
TTHC đã được ban hành nhưng các quy định của luật nội dung
hoặc theo quy định của pháp luật
Quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh là quan hệ pháp luật, nên
nhiều quan hệ xã hội phát sinh nhưng chưa có ngay pháp luật để điều chỉnh.
Do đó, khi xây dựng pháp luật nhà nước dự liệu mang tính mở với mục đích
các quan hệ xã hội phát sinh đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh tại thời điểm
đó và đảm bảo được cơ quan nhà nước thực hiện ngay. Phòng Tư pháp có
nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện những nhiệm vụ trên [2, tr.17].
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp
1.3.1. Yếu tố chính trị, pháp lý
- Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
+ Về chính trị - tư tưởng: Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa
Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội nhằm đảm bảo, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công
nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
+ Về pháp lý: Điều 4 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận, khẳng
định Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
- Vai trò của Nhà nước trong quản lý xã hội
Bộ máy nhà nước được tổ chức, hoạt động xuất phát từ yêu cầu của
xã hội. Pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện quản lý xã hội và xây
dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước đồng bộ, ổn định, xác định chức
năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan khoa học, phù hợp với thực tiễn đặt ra.
1.3.2. Nhu cầu của Nhà nước và xã hội về Tư pháp
Xuất phát từ những nhu cầu, đòi hỏi của xã hội về xác nhận các
giấy tờ, tài liệu của công dân, tổ chức; xác nhận một người được khai sinh,
kết hôn hoặc đã chết …diễn ra thường xuyên, liên tục thuộc phạm vi chứng
thực; hộ tịch;...
1.3.3. Tổ chức bộ máy
9
Kinh tế của Thủ đô đạt được những kết quả tích cực trong những
năm gần đây là nhờ có hành lang pháp lý thuận lợi để thu hút đầu tư, chủ
đầu tư yên tâm làm ăn lâu dài; thu hút lao động chất lượng cao, giải quyết
lao động địa phương, người nước ngoài đến làm việc, lao động, học
tập…định cư tại Hà Nội góp phần gia tăng nhanh dân số, phát sinh TTHC
số lượng ngày càng nhiều việc có yếu tố nước ngoài, việc hộ tịch, chứng
thực; PBGDPL,….
2.2. Thực tiễn tổ chức, hoạt động của Phòng Tư pháp trên địa
bàn thành phố Hà Nội
2.2.1. Tổ chức, biên chế của Phòng Tư pháp
2.2.1.1. Về tổ chức
Có 30/30 quận, huyện, thị xã, Phòng Tư pháp đã được tổ chức là cơ
quan chuyên môn tham mưu, giúp UBND cùng cấp trong lĩnh vực tư pháp
hành chính, bổ trợ tư pháp.
2.2.1.2.Về biên chế
- Về số lượng: Tổng số cán bộ, công chức của 30 Phòng Tư pháp
181người [34].
- Về chất lượng cán bộ, công chức [34] (i) Trình độ văn hóa: Cấp
III có 181/181 (chiếm 100%); (ii) Trình độ chuyên môn: Đại học 181
(chiếm 100%). (iii) Trình độ lý luận: Có 158/181 (chiếm 87,2%). (iv) Quản
lý nhà nước có 176/181. (v) Ngoại ngữ: Có 181. (vi) Tin học: Có 181.
- Về đào tạo, bồi dưỡng
Số cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ trong 5
năm 2012-2016 là: 332 lượt người [30,31,33,34] .
- Về vị trí việc làm: Hiện nay, lĩnh vực Tư pháp có 4 danh mục vị
trí việc làm được phê duyệt [1, tr. 21].
2.2.2. Về hoạt động của Phòng Tư pháp
2.2.2.1. Công tác xây dựng pháp luật
Bảng 2.5.
2.2.2.4. Về công tác kiểm soát thủ tục hành chính
Đã bố trí cán bộ thực hiện đầu mối kiểm soát TTHC. Có 283 TTHC
thuộc thẩm quyền cấp huyện được niêm yết công khai và tổ chức thực hiện
12
ở mức độ 1, 2, đang triển khai mức độ 3 và thí điểm mức độ 4 tại cấp xã và
quận Long Biên.
Kết quả dịch vụ công liên thông mức độ 3 trong lĩnh vực Tư pháp
đối với việc tại với cấp huyện và cấp xã tỉ lệ hồ sơ đạt 60%, thời gian rút
ngắn từ 20 ngày xuống còn 5 đến 7 ngày [34, tr. 17].
Tham mưu báo cáo UBND Thành phố kịp thời sửa đổi, bổ sung,
thay thế, ban hành mới hoặc bãi bỏ TTHC không còn phù hợp.
2.2.2.5. Về công tác quản lý và đăng ký hộ tịch
Giúp UBND cùng cấp giải quyết việc hộ tịch thuộc thẩm quyền.
Thực hiện việc kiểm tra công tác Tư pháp-Hộ tịch đối với cấp xã. 100% ở
cấp xã và Phòng đã ứng dụng phần mềm hộ tịch vào đăng ký và quản lý
đảm bảo giải quyết TTHC ở mức độ 3, giảm áp lực đối với công chức….
Sổ, biểu mẫu hộ tịch cấp cho UBND cấp xã trên địa bàn cơ bản kịp
thời. Công chức phải viết tay vào Sổ số lượng lớn hộ tịch đã đăng ký [34].
2.2.2.6. Về công tác quản lý công tác thi hành pháp luật về
lý vi
phạm hành chính
Đề cử cán bộ dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hướng dẫn
áp dụng pháp luật về xử lý VPHC trên địa bàn cho hơn 1000 lượt người và
ở cấp xã là hơn 500 cán bộ lãnh đạo. Việc xác định mức phạt, hành vi vi
phạm, thẩm quyền xử phạt, thiết lập hồ sơ xử phạt còn sơ sài, giao quyền
b)Những kết quả đạt được về hoạt động
*Công tác xây dựng văn bản QPPL
Văn bản QPPL cơ bản đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp, thống
nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật.
* Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Đội ngũ báo cáo viên pháp luật được củng cố, được bồi dưỡng
nghiệp vụ nên hoạt động ngày một hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đề ra. Công
tác PBGDPL đã được quan tâm. Cách thức triển khai đã chú trọng đổi mới.
* Công tác hòa giải ở cơ sở
Tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên ngày càng được củng cố, kiện
toàn. Hòa giải viên được bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng trên 70%.
14
Tỉ lệ hòa giải thành chiếm tỉ lệ ngày càng cao góp phần ổn định an
ninh, trật tự, giảm gánh nặng về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, góp
phần phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô.
*Về công tác kiểm soát TTHC
Công tác kiểm soát TTHC đã được thực hiện cơ bản chặt chẽ, nhiều
TTHC được rà soát thay thế, bổ sung, đơn giản hóa. Đầu mối kiểm soát
TTHC ở cấp huyện đã được thiết lập, kiện toàn.
* Công tác đăng ký và quản lý Hộ tịch
Đội ngũ công chức ở cấp huyện và xã đã được tập huấn, bồi dưỡng
nghiệp vụ; vướng mắc đã được hướng dẫn, giải đáp. Ứng dụng phần mềm
hỗ trợ giảm áp lực cho công chức; giải quyết kịp thời TTHC cho công dân.
* Về công tác quản lý công tác thi hành pháp luật về
lý VPHC
Công tác đã được triển khai kịp thời, việc PBGDPL, tập huấn, từng
*Công tác hòa giải ở cơ sở
Tỉ lệ hòa giải viên chưa được đào tạo vẫn còn nhiều; một số đơn vị
quận, huyện có tỷ lệ hòa giải thành chưa cao; công tác sơ kết, tổng kết đánh
giá khen chưa được quan tâm đúng mức.
*Công tác kiểm soát TT C
TTHC công bố chậm nên ảnh hưởng đến giải quyết yêu cầu của tổ
chức, cá nhân theo quy định của pháp luật, yêu cầu vẫn phải thực hiện theo
quy định của pháp luật nhưng theo quy trình theo TTHC cũ.
*Công tác đăng ký và quản lý Hộ tịch
Tại một số quận, huyện Phòng Tư pháp tham mưu giải quyết đăng
ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Luật Hộ tịch còn lúng túng.
Quy định lưu trữ Sổ hộ tịch tại UBND cấp huyện là bản sao chứng
thực không đảm bảo giải quyết các việc phát sinh sau đăng ký.
Sổ và biểu mẫu hộ tịch thường xuyên thay đổi, phải tập huấn
nghiệp vụ, cài đặt phần mềm và gây lãng phí ngân sách, gây khó khăn cho
việc sử dụng giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân.
Cấp phát miễn phí Sổ, biểu mẫu hộ tịch “cơ chế xin cho” gây khó
khăn, cản trở và không kịp thời cung cấp Sổ, biểu mẫu hộ tịch cho cơ sở.
* Về công tác quản lý công tác thi hành pháp luật về
16
lý VP C
Hồ sơ xử phạt VPHC khi lập biên bản nhiều trường hợp đầy đủ
thông tin làm căn cứ xử phạt; áp dụng chưa đúng mức phạt.
Cơ quan tham mưu chưa xác định rõ trách nhiệm đối với các vi
phạm phát sinh thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực, còn để việc thuộc trách
nhiệm của cơ quan mình sang cho cơ quan khác.
*Thực hiện nhiệm vụ khác
- Về hoạt động của Phòng Tư pháp
Thứ nhất: Nhận thức về trình tự thẩm định văn bản QPPL chưa
được coi trọng, quán triệt; nhận thức của cơ quan được giao dự thảo văn
bản QPPL hạn chế. Số lượng cán bộ chuyên môn phải thực hiện kiêm
nhiệm, nên việc thẩm định văn bản QPPL còn để lọt nội dung thiếu tính khả
thi, chưa hợp lý hoặc trái pháp luật [34, tr. 5].
Thứ hai: Hoạt động của Hội đồng PBGDPL ở một số quận, huyện
chưa hiệu quả. Đội ngũ làm công tác PBGDPL ở cấp huyện còn nhiều hạn
chế. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo ở cấp xã còn xem nhẹ.
Thứ ba: Thực hiện chế độ chi hỗ trợ vụ việc hòa giải thành chưa
đúng quy định. Công tác tổng kết chưa được quan tâm kịp thời.
Thứ tư: Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận
công chức còn hạn chế…thay đổi mẫu Sổ và biểu mẫu hộ tịch quá nhiều; cơ
chế cấp sổ, biểu mẫu miễn phí; quy định việc lập Sổ lưu trữ ở cấp huyện
chưa khoa học.
Thứ năm: Pháp luật về kiểm soát TTHC chưa đồng bộ. Chưa kịp
thời ban hành bộ TTHC lĩnh vực quản lý nhà nước theo quy định.
Thứ sáu: Nhận thức chưa đúng của lãnh đạo cơ quan
chuyên môn về xử phạt VPHC thuộc lĩnh vực chuyên ngành; năng lực, kỹ
năng, nghiệp vụ hạn chế của cán bộ, công chức còn hạn chế.
Thứ bảy: Khả năng tham mưu, giúp việc của các cơ quan chuyên
môn thuộc các lĩnh vực chuyên ngành chưa đáp ứng được nhiệm vụ.
2.3.3. Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn tổ chức và hoạt
động của Phòng Tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.3.3.1. Kinh nghiệm chung
18
Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo của cấp Ủy, chính quyền cùng cấp. Vị trí, vai trò Phòng Tư pháp ngày
Phòng Tư pháp cần được hoàn thiện tổ chức và hoạt động đúng
chủ trương tinh giản biên chế nhằm tinh gọn về tổ chức, nâng cao chất
lượng hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền
cấp huyện.
3.1.3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp đáp ứng
nhu cầu mở c a và hội nhập của đất nước
Việt Nam là quốc gia trong cộng đồng quốc tế hiện nay đang tích
cực, chủ động hội nhập.... Để đáp ứng yêu cầu đặt ra, việc tổ chức và hoạt
động của cả bộ máy nhà nước và các cơ quan chuyên môn trong đó có
Phòng Tư pháp cần phải theo đúng chủ trương, pháp luật để mỗi cơ quan
thực sự trở thành một bộ phận không thể thiếu của bộ máy nhà nước đang
vận hành theo yêu cầu trên.
3.1.4. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp phải xuất
phát từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của cả bộ máy nhà nước
Trong tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay là yêu cầu đòi hỏi của
xã hội về tư pháp, để bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu quả.
Phòng Tư pháp trong bộ máy nhà nước cũng phải được hoàn thiện về tổ
chức, hoạt động cho phù hợp.
3.2. Giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của Phòng Tư pháp
3.2.1. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Phòng Tư pháp
Một là: Sửa đổi một số quy định của Luật Xử lý VPHC năm 2012.
Hai là: Sửa đổi, bổ sung các Nghị định: (i) số 123 về thi hành luật
Hộ tịch; (ii) số 181 về thi hành Luật Xử lý VPHC; (iii) số 121 quy định xử
phạt VPHC (trong đó quy định việc phá dỡ công trình xây dựng vi phạm
trật tự xây dựng) ; (iv) số 63 về kiểm soát TTHC quy định thẩm quyền cấp
huyện, xã.
Ba là: Thực tiễn, giảm áp lực cho công chức ngành Tư pháp trước
hết cần xem xét các quy định của pháp luật đang là rào cản, tác động và tạo
khích, tạo điều kiện để công chức học tập, nghiên cứu để mỗi công chức có
năng lực, tâm huyết với công việc, gắn bó đơn vị.
Bốn là: Thực hiện chính sách tiền lương riêng đối với công chức.
21
Năm là: Tổ chức cho công chức được học tập chính trị, tư tưởng
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững
vàng, đạo đức trong sáng hết lòng phục vụ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
3.2.4. Đổi mới phương pháp, lề lối, quy trình làm việc theo yêu cầu
cải cách hành chính hiện nay
Một là: Phân công trách nhiệm đối với công chức theo vị trí việc
làm; đảm bảo dân chủ, mỗi công chức độc lập, linh hoạt lấy chất lượng, tiến
độ, sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với từng công chức để đánh giá.
Hai là: Xây dựng, thực hiện quy trình dự thảo, trình duyệt văn bản
giữa lãnh đạo và chuyên môn bằng thư điện tử nhằm xây dựng hình thành
“chính quyền điện tử”.
3.2.5. Thực hiện phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa Phòng Tư pháp
với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp
Một là: Tham mưu kiện toàn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền
viên chú trọng đến năng lực, trình độ phù hợp với đặc thù công việc liên
quan đến pháp luật; đổi mới hình thức hoạt động của Hội đồng phối hợp
PBGDPL; lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm nội dung cần PBGDPL.
Hai là: Phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn, các Đoàn thể chính
trị - xã hội ở huyện trong công tác xây dựng văn bản QPPL, PBGDPL, xử
lý VPHC, kiểm soát TTHC, công tác hòa giải…
Ba là: Hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện pháp luật về xử lý VPHC
đối với công chức cơ quan chuyên môn khác; công chức các cơ quan
chuyên môn phải nâng cao năng lực, trau rồi nghiệp vụ, đề cao tính chịu
trách nhiệm.
kết quả đạt được, Phòng Tư pháp đã có những đóng góp nhất định vào quá
trình phát triển của chính quyền cấp huyện thực hiện tốt chức năng quản lý
nhà nước tại địa phương công tác hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp.
Để giúp UBND cấp huyện thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản
lý nhà nước trên địa bàn thực tiễn đặt ra các cơ quan chuyên môn phải
không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực, trong đó đổi mới tổ chức và
hoạt động của Phòng Tư pháp là một tất yếu khách quan.
Đánh giá vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Phòng Tư pháp, luận
văn đã phân tích kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập cần khắc phục
23