Hoàn thiện hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
------------------------------------------

TẠ THỊ THU HẠNH

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ
THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------------------------------------

TẠ THỊ THU HẠNH

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ
THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI KIM YẾN


1.2.2

Thông tin của công ty niêm yết.......................................................................... 3
1.2.1.1

Thông tin và nguồn thông tin trên thị trường chứng khoán .................... 3

1.2.1.2

Chất lượng thông tin trên TTCK và các tiêu chí đánh giá ...................... 5

Hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết trên thị trường chứng ....... 6
1.2.2.1

Khái niệm ................................................................................................ 6

1.2.2.2

Sự cần thiết của việc công bố thông tin .................................................. 6

1.2.2.3

Một số nghiên cứu thực nghiệm.............................................................. 8

1.3. Trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết trong việc công bố thông tin................... 9
1.3.1

Khái niệm trách nhiệm xã hội ............................................................................ 9

1.3.2

dịch chứng khoán TP.HCM ............................................................................................... 20
2.3.1

Thông tin trong báo cáo tài chính .................................................................... 20
2.3.1.1

Thời gian công bố báo cáo tài chính ................................................. 20

2.3.1.2

Chênh lệch báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán ...................... 25

2.3.2

Chất lượng kiểm toán các báo cáo tài chính .................................................... 37

2.3.3

Giao dịch của các cổ đông lớn, cổ đông nội bộ ............................................... 40

2.3.4

Thông tin về báo cáo thường niên, đại hội cổ đông ......................................... 42

2.3.5

Nhận định một số vi phạm liên quan đến việc công bố thông tin của các

công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM thời gian 2010 – 2012 ................................. 45
2.3.5.1

Hoạt động quản trị của các công ty niêm yết trên HOSE còn nhiều

yếu kém .......................................................................................................... 57
2.4.3.4

Nguyên nhân từ phía các công ty kiểm toán..................................... 59

2.4.3.5

Chưa đầu tư đúng mức cho công nghệ thông tin phục vụ cho công

bố thông tin ...................................................................................................... 60
2.4.3.6

Nguyên nhân từ phía các nhà đầu tư ................................................ 61


Kết luận chƣơng 2 ................................................................................................................ 61
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP.HCM ................................................................................................................................ 62
3.1 Các quan điểm định hƣớng và hoàn thiện TTCK Việt Nam .................................. 62
3.1.1

Quan điểm định hướng..................................................................................... 62
3.1.1.1

Phù hợp với môi trường pháp lý và môi trường hoạt động của
SGDCK TP.HCM ............................................................................. 62


3.2.2

Quy định về công bố thông tin ở mức bảo vệ nhà đầu tư cao ......................... 68

3.2.3

Hoàn thiện hệ thống giám sát thị trường, xác định rõ tiêu chí, phân định
trách nhiệm giám sát đối với các mảng hoạt động của thị trường ................... 69

3.2.4

Nâng cao tính cưỡng chế thực thi trong việc xử lý các vi phạm về chứng
khoán và TTCK ................................................................................................ 69

3.2.5

Mở rộng thẩm quyền và thời hạn thanh tra, kiểm tra ...................................... 71

3.2.6

Điều chỉnh các chuẩn mực kế toán của Việt Nam cho phù hợp với chuẩn
mực kế toán quốc tế ......................................................................................... 71

3.3 Giải pháp vi mô .......................................................................................................... 72
3.3.1

Đối với Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM ................................................... 72

3.3.2


KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCKT

Báo cáo kiểm toán

BCTC

Báo cáo tài chính

BCTN

Báo cáo thường niên

CBTT

Công bố thông tin

CSR

Trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility)

CTCP

Công ty cổ phần


Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

NĐT

Nhà đầu tư

SGDCK TP.HCM

Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

SGX

Sở giao dịch chứng khoán Singapore

TTCK

Thị trường chứng khoán

TTLKCK

Trung tâm lưu ký chứng khoán

UBCKNN

Ủy ban chứng khoán nhà nước

VAS

Chuẩn mực kế toán Việt Nam



1

LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin trong thời đại ngày nay là một phần không thể thiếu đối với tất cả các

ngành nghề trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt đối với những ngành nhạy cảm
với thông tin như thị trường chứng khoán.
Kinh nghiệm về công bố thông tin của các nước trên thế giới cho thấy thông tin là
yếu tố then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả các đối tượng
tham gia trên thị trường từ các doanh nghiệp nhận đầu tư, nhà đầu tư, cơ quan pháp
quyền đến các công ty chứng khoán…Vì vậy, công bố thông tin là một yêu cầu không thể
thiếu để đảm bảo lòng tin và sự công bằng cho các nhà đầu tư trên TTCK. Đó chính là
nguyên tắc công khai, được coi là một nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất của TTCK,
việc xây dựng một hệ thống thông tin đầy đủ, tin cậy, dễ sử dụng và kịp thời là điều kiện
tiên quyết để TTCK hoạt động hiệu quả. Thực tiễn hoạt động của TTCK Việt Nam đã
bộc lộ rất nhiều yếu kém của hệ thống thông tin, các nhà đầu tư không tin tưởng vào các
thông tin trên thị trường vì có quá nhiều thông tin kém tin cậy, không trung thực, thiếu
chính xác hoặc thông tin không được cập nhật.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM trong thời gian qua bên cạnh những thành tựu
đã đạt được, đã tồn tại vấn đề các công ty niêm yết vi phạm các quy định về công bố
thông tin, báo cáo tài chính làm thiệt hại đến nhà đầu tư công chúng và ảnh hưởng không
tốt đến nhiều mặt của TTCK. Do đó, vấn đề “ Hoàn thiện hoạt động công bố thông tin
của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” rất
cần thiết để được nghiên cứu một cách nghiêm túc, phân tích những hạn chế và nguyên
nhân của vấn đề để tìm ra các giải pháp khắc phục và nâng cao chất lượng công bố thông

tích lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
5.

Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu về hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên

SGDCK TP.HCM trên cơ sở những vấn đề lý luận tổng quan về công ty niêm yết, báo
cáo tài chính, công bố thông tin, kết hợp với phân tích thực tiễn của các vi phạm về công
bố thông tin. Từ đó, tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế
những vi phạm này, nâng cao chất lượng công bố thông tin của các công ty niêm yết bảo
vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nhằm tiến đến một thị trường hiệu quả.
6.

Kết cấu của đề tài: gồm 3 chương
Chƣơng 1: Tổng quan về công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường

chứng khoán
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.
Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác công bố thông tin của các công ty niêm
yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.


3

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1


pháp luật với các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh hàng loạt các quan hệ pháp luật
đa dạng phức tạp trong nội bộ doanh nghiệp như quan hệ cổ đông với thành viên Hội
đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Ban Giám đốc.


4

Từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu thông tin trên thị trường chứng khoán
chính là hệ thống các dữ liệu liên quan đến tổ chức niêm yết do các chủ thể có thẩm
quyền cung cấp theo quy định của pháp luật.
Thông tin trên TTCK rất đa dạng, phong phú và có nhiều cách thức khác nhau để
phân loại nguồn thông tin trên TTCK. Phân loại theo chủ thể công bố thông tin là một
cách phân loại phổ biến nhất bao gồm thông tin từ tổ chức niêm yết, thông tin từ tổ chức
kinh doanh chứng khoán, thông tin từ thực tiễn giao dịch trên thị trường, thông tin từ cơ
quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Mỗi loại thông tin do
các chủ thể công bố có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau:


Thông tin từ tổ chức niêm yết
Thông tin từ tổ chức niêm yết là nguồn thông tin cơ bản, quan trọng nhất đối với

TTCK, phản ánh chính xác diễn biến tình hình hoạt động của tổ chức niêm yết nhất là các
thông tin liên quan đến tình hình tài chính và có thể cập nhật tin tức một cách nhanh
chóng những thông tin liên quan đến tổ chức niêm yết vì họ chính là chủ thể gây ra
những thông tin.
Tuy nhiên, nguồn thông tin từ tổ chức niêm yết nhà đầu tư khó tiếp cận được ngay
các thông tin nếu những thông tin đó không phải là thông tin bắt buộc tổ chức niêm yết
phải công bố ra bên ngoài và nhà quản trị thường lạm dụng quyền của mình để cản trở
việc công bố thông tin ra các phương tiện thông tin đại chúng.



Thông tin từ cơ quan quản lý nhà nƣớc về chứng khoán và TTCK
Thông tin từ phía cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK thường là

các thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách, pháp luật trong từng giai đoạn phát triển
phù hợp với yêu cầu của thị trường. Đây là các thông tin “chuẩn” có tác động rất lớn đến
việc điều chỉnh diễn biến thị trường và hoạt động đầu tư của các chủ thể.
1.2.1.2. Chất lƣợng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán và các tiêu chí đánh giá
Thị trường chứng khoán là thị trường của thông tin nên các thông tin cung cấp ra thị
trường ngoài việc bảo đảm về tính khách quan, công bằng, kịp thời thì chất lượng thông
tin công bố cũng phải hết sức quan tâm. Chất lượng thông tin trên TTCK là các tiêu chí
đánh giá độ tin cậy, khách quan, công bằng của các thông tin do các công ty niêm yết và
các chủ thể có liên quan công bố theo quy định của pháp luật về công bố thông tin.


Độ tin cậy của thông tin đƣợc công bố
Độ tin cậy của thông tin chính là tiêu chí đầu tiên để đánh giá chất lượng của thông

tin được công bố. Mức độ tin cậy của các thông tin được biểu hiện dưới các khía cạnh:
Độ rõ ràng, chính xác của thông tin được công bố; Thông tin được công bố dưới các chủ
thể có thẩm quyền như tổ chức niêm yết, tổ chức kinh doanh chứng khoán, các cơ quan
quản lý; Các thông tin có thể dễ dàng tìm kiếm và được kiểm chứng khi cần thiết; Ngoài
ra các thông tin sai sót (nếu có) có thể dễ dàng đính chính, sửa chữa.


Tính khách quan của thông tin đƣợc công bố
Các thông tin được công bố phải phục vụ cho sự phát triển của công ty, quyền lợi

của các cổ đông, nhà đầu tư. Vì vậy, các thông tin công bố phản ánh trung thực tình hình
hoạt động, khả năng tài chính của công ty tại thời điểm công bố, không được che giấu

- Công bố thông tin trực tiếp nghĩa là các tổ chức có nghĩa vụ công bố thông tin được
quyền trực tiếp công bố ra công chúng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và
phải đồng thời báo cáo với các cơ quan quản lý và vận hành thị trường như UBCKNN,
SGDCK hoặc TTGDCK.
- Công bố thông tin gián tiếp nghĩa là các tổ chức khi tiến hành nghĩa vụ công bố
thông tin phải chuyển thông tin cần công bố tới các cơ quan quản lý và vận hành thị
trường để các cơ quan này tiến hành xử lý các thông tin đó trước, sau khi được xử lý
các thông tin này mới được công bố ra công chúng thông qua các phương tiện thông tin
của chính cơ quan quản lý hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác.
1.2.2.2. Sự cần thiết của việc công bố thông tin
Các công ty đại chúng một khi đã đăng ký niêm yết trên TTCK phải cam kết nghĩa
vụ công bố thông tin. Việc công bố thông tin thể hiện trách nhiệm xã hội của công ty


7

niêm yết là căn cứ để thực hiện việc điều hành TTCK một cách hiệu quả và lành mạnh.
Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể sau:
− Đối với nhà đầu tư: Việc tìm hiểu một cách chủ ý cũng như tiếp cận thông tin từ
DN một cách đương nhiên là phương tiện tốt nhất để thực hiện đầu tư hiệu quả. Công ty
niêm yết cung cấp thông tin thông qua các báo cáo tài chính định kỳ và đột xuất giúp
NĐT nắm bắt được thời cơ kinh doanh cũng như xây dựng một chiến lược đầu tư và danh
mục đầu tư phù hợp.
− Đối với nhà quản lý thị trường (UBCK, SGDCK): thông tin từ CTNY giúp các nhà
quản lý thị trường có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động của các thành
viên niêm yết, từ đó có thể điều chỉnh hoạt động của họ như cho phép niêm yết, hủy bỏ
niêm yết hay tái niêm yết cũng là căn cứ cho những quyết định khen thưởng hay xử lý vi
phạm một cách công bằng và hợp pháp.
− Đối với bản thân các công ty niêm yết: Việc đưa ra những bản BCTC và các thông
tin khác đã phản ánh trung thực hiệu quả hoạt động của công ty. Nó là một phương tiện

1.2.2.3.


Một số nghiên cứu thực nghiệm

Lý thuyết đại diện (agency theory)
Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được

hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác. Mối quan hệ này được coi như là quan
hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công
ty thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để
ra quyết định định đoạt tài sản của công ty.
Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và
người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình thì có cơ sở để tin rằng
người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ,
tức là các cổ đông và công ty. Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là
luôn có xu hướng tư lợi và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba
chứ không phải cho công ty. Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả
thuyết các cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm
đảm bảo lợi ích của mình và các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể
hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty (Bùi Xuân Hải, 2007).
Lý thuyết này còn chỉ ra rằng tình trạng thông tin không cân xứng (information
asymmetry) giữa nhà quản lý doanh nghiệp và các cổ đông khiến cho rủi ro thông tin
tăng lên, theo đó các nhà đầu tư sẽ yêu cầu một tỷ lệ lợi tức cao hơn để bù đắp cho rủi ro.
Hệ quả doanh nghiệp bị đánh giá thấp hơn giá trị thực của nó. Dể hạn chế ảnh hưởng này,


9

BCTC của doanh nghiệp cần cung cấp những thông tin phù hợp để cổ đông có thể đánh


Trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết trong việc công bố thông tin

1.3.1

Khái niệm trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility – CSR)
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là thuật ngữ đã chính thức xuất hiện cách đây

hơn 50 năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã
hội của doanh nhân”, Social Responsibilities of the Businessmen, 1953 nhằm mục đích
tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích
của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp
làm tổn hại cho xã hội. Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau.


10

Theo Prakash Sethi hiểu trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp
lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến.
Theo B Carroll, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã
hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm
nhất định.
Bên cạnh đó, thuật ngữ trách nhiệm xã hội ở Việt Nam chính là sự cam kết của
doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động
nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ,
cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển
chung của xã hội.
1.3.2


điện tử của công ty cũng như phải báo cáo lên SGDCK, UBCK để những thông tin này
được công bố rộng rãi đến các đối tượng quan tâm đến công ty biết rõ.
Trên đây là hai nội dung chính thể hiện trách nhiệm xã hội của công ty niêm yết
trong việc công bố thông tin đối với cổ đông, nhà đầu tư, thị trường chứng khoán cũng
như đối với nền kinh tế và quan trọng đó chính là ý thức của các công ty niêm yết.
1.4 Kinh nghiệm công bố thông tin của các thị trƣờng chứng khoán trên thế giới
Trải qua lịch sử 150 năm qua 23 quốc gia, tổ chức Standard & Poor’s (S&P) được
các nhà đầu tư trên toàn thế giới biết đến như là tổ chức nghiên cứu hàng đầu của thị
trường tài chính. Tổ chức này đã thực hiện và phát triển việc nghiên cứu trong công bố
thông tin của các công ty niêm yết trên các thị trường tài chính tại Châu Mỹ, Châu Âu,
Châu Phi và thị trường tài chính của các nước phát triển tại Châu Á từ những năm 1990
và tính thông tin trong CBTT được đánh giá theo ba nhóm thông tin: cơ cấu nguồn vốn
chủ sở hữu và quyền của nhà đầu tư, Báo cáo tài chính và thông tin kinh doanh, Cơ cấu
sở hữu và lợi ích của các cấp quản lý.
Các thông tin chi tiết được xem xét trong không chỉ báo cáo thường niên, mà còn
trên trang thông tin điện tử của công ty và các phương tiện khác mà công ty phải sử dụng
khi CBTT.
Mức độ minh bạch được xác định bằng việc cho điểm. Khi công ty công bố đầy đủ
các mục thông tin thì điểm sẽ là 10. Trong trường hợp thông tin không đầy đủ, thì số
điểm sẽ tương ứng với tỷ lệ đầy đủ của các mục thông tin chi tiết.
Kết quả đánh giá của S&P cho thấy, tính minh bạch trong CBTT trên thị trường tài
chính của các nước đang phát triển ở Châu Mỹ La tinh và các nước đang phát triển ở
Châu Á rất thấp. Tại các nước này, nhóm thông tin công bố chính là nhóm về “báo cáo tài
chính và thông tin kinh doanh”, trong khi nhóm thông tin không được coi trọng trong
công bố nhất là nhóm “cơ cấu sở hữu và lợi ích của các cấp quản lý”.


12

1.4.1 Thị trƣờng chứng khoán Mỹ

các thông tin của các TTCK là rất đáng tin cậy. Hơn nữa, tại TTCK Mỹ có thêm loại hình
công ty bảo vệ người đầu tư. Do đó, các hành vi công bố thông tin sai trái, thông tin
không trung thực làm ảnh hưởng đến người đầu tư thì khó có thể tồn tại.
Đặc biệt, TTCK Mỹ luôn chú trọng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho hệ thống thông tin
để quản lý và giao dịch hiệu quả, bảo đảm lợi ích về thông tin cho người đầu tư. Cụ thể là
các Sở giao dịch được khuyến khích áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin trong
giao dịch. Tại các Sở giao dịch chứng khoán của Mỹ, chẳng hạn TTCK New York,
Amex... đều có riêng bộ phận giao dịch và kỹ thuật, có chức năng tạo ra môi trường giao
dịch công bằng, công khai và hiệu quả cho các thành viên. Bộ phận này có nhiệm vụ bảo
đảm mọi thông tin, số liệu về giao dịch các chứng khoán được phổ biến kịp thời, chính
xác tới các thành viên, người giao dịch và thị trường.
Vấn đề mạng truyền thông cũng được phát huy tối đa tại TTCK Mỹ. Thông tin tại
các Sở giao dịch luôn thông suốt, có thể xóa đi tối đa sự chênh lệch về giá và sự lệch pha
về thông tin, do nó được bảo đảm bởi hệ thống mạng CORES với cấu hình mạnh và phần
mềm ổn định, có thể kết nối được với các TTCK lớn khác trên toàn thế giới.
Các CTNY có những ràng buộc rất chặt chẽ. Ngoài việc chấp hành các nguyên tắc
về công bố thông tin chung của các TTCK, họ còn có sự kiểm soát khác từ phía người
đầu tư. Chẳng hạn, các công ty muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng với số lượng cổ
đông lớn, họ phải lập và nộp bản thông cáo phát hành. Các nhà đầu tư có quyền khởi kiện
công ty nếu công ty công bố bất cứ điều gì sai sự thật trong bản thông cáo phát hành.
1.4.2 Thị trƣờng chứng khoán Pháp
Trách nhiệm kiểm soát thông tin đặc biệt được coi trọng trong trường hợp công ty
phát hành chứng khoán huy động vốn từ công chúng tại Pháp. Ta thấy có ba điểm khác
biệt cơ bản so với Việt Nam:
Thứ nhất, điểm khác biệt cơ bản so với công ty Việt Nam là kiểm toán viên phải xác
nhận cả những dự báo về lợi nhuận trong tương lai của công ty (tại Việt Nam, chỉ kiểm
toán những dữ liệu quá khứ). Để có thể xác nhận được dự báo lợi nhuận, kiểm toán viên


14

Âu (EU), công ty có quyền huy động vốn tại bất kỳ thị trường nào thuộc EU. Đây là một
lợi thế rất lớn cho công ty thuộc EU. Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng, công


15

ty Pháp cũng phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ hàng quý, 6 tháng và 1
năm. Những báo cáo này phải được gửi đồng thời đến cơ quan quản lý và nhà đầu tư
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Theo ông Bruno, với nhà đầu tư thì sẽ là
tốt nhất nếu công ty thực hiện công bố thông tin hàng ngày.Tuy nhiên, việc yêu cầu thông
tin với họ quá liên tục hoặc chi tiết là rất nguy hiểm, bởi khi đó người lãnh đạo sẽ chỉ chú
ý đến kết quả trước mắt mà không tập trung lo cho tương lai dài hạn của công ty.
1.4.3

Thị trƣờng chứng khoán Trung Quốc
Trong thời gian đầu, các thông tin giữa hai Sở giao dịch chứng khoán Thẩm Quyến

và Thượng Hải không thống nhất bởi chúng tuân theo các quy định của địa phương,
mạng truyền thông chưa được chú trọng và áp dụng các giao dịch thủ công, mặc dù lúc
đó ngành điện toán đã có những ứng dụng rất hiệu quả vào giao dịch chứng khoán của
một số TTCK trên thế giới. Cũng chính vì chưa có cơ quan nhà nước quản lý thống nhất
về chứng khoán nên các quy chế, quy định về thông tin không được coi trọng, do đó chất
lượng thông tin trên thị trường rất kém, các công bố thông tin của các CTNY, công ty
chứng khoán có độ tin cậy rất thấp.
Kết quả là TTCK Trung Quốc phát triển một cách chậm chạp, không đáp ứng được
nhu cầu cổ phần hóa, không đẩy mạnh việc thu hút vốn từ TTCK và gây lãng phí thời
gian.
Chỉ từ năm 1992 đến nay, khi Ủy ban chứng khoán nhà nước được thành lập, TTCK
Trung Quốc mới dần đi vào trật tự. Ủy ban chứng khoán nhà nước giữ vai trò quản lý và
giám sát các hoạt động thuộc lĩnh vực chứng khoán. Các CTNY, công ty chứng khoán,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status