Luận văn thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐÊ LY LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VÊ THI
HÀNH HÌNH PHẠT TÙ ................................................................................ 5
1.1. Khái niệm, đặc điểm thi hành hình phạt tù ................................................ 5
1.2. Căn cứ thi hành án phạt tù........................................................................ 13
1.3. Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tù ..................................................... 18
1.4. Trình tự thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án
phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; miễn chấp hành án phạt tù....... 31
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VÊ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ TẠI THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG ...................................................................................................... 42
2.1. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tù
của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng ....................................................... 42
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt
tù...................................................................................................................... 51
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO ÁP DỤNG
ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÊ THI HÀNH HÌNH
PHẠT TÙ ....................................................................................................... 58
3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình phạt tù, thi hành hình
phạt tù .............................................................................................................. 58
3.2. Giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thi
hành hình phạt tù ............................................................................................. 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành hình phạt tù (THHPT) là một trong những khâu quan trọng

Đà Nẵng để góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, trên
cơ sở đó tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc thi
hành các bản án phạt tù của Tòa án là hướng nghiên cứu có tính cấp thiết, có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thi hành hình phạt tù theo pháp
luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để nghiên
cứu làm luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng trong
những năm gần đây đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những
phương diện khác nhau. Tiêu biểu là:
- Sách chuyên khảo “Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam- Những
vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Võ Khánh Vinh và PGS, TS.
Nguyễn Mạnh Kháng (đồng chủ biên), do Nxb Tư pháp phát hành năm
2006; cuốn “Hoàn thiện quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự
ở Việt Nam” của TS. Võ Trọng Hách, do Nxb Tư pháp phát hành 2006;
Luận văn thạc sĩ Luật học “Một số vấn đề về thi hành án phạt tù ở Việt
Nam” của Lê Văn Thư, Đại học Luật Hà Nội, 1996; cuốn “Bình luận Luật
Thi hành án hình sự năm 2010” của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên),
do Nxb Chính trị quốc gia phát hành 2012; cuốn “Luật Thi hành án hình sự”
của GS.TS Võ Khánh Vinh, TS. Cao Thị Oanh do Nxb Khoa học xã hội phát
hành năm 2013, v.v…
Những công trình khoa học nêu trên chủ yếu đề cập đến vấn đề thi hành
án hình sự nói chung, chỉ có luật văn thạc sĩ của Lê Văn Thư - Đại học Luật
Hà Nội là trực tiếp đề cập đến vấn đề thi hành án phạt tù, nhưng ở phạm vi cả
nước.


Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào được công
2

năm 2016.


3


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cở sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp…
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để làm rõ từng nội
dung nghiên cứu của luận văn gồm: Phân tích, tổng hợp; so sánh, thống kê,
đàm thoại, phỏng vấn, v.v…
6. Y nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả dạt được của luận văn góp phần là phong phú lý luận chuyên
ngành thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng ở Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đạt được của luận văn có thể được sử dụng như là chỉ dẫn khoa
học trong việc hoàn thiện pháp luật về thi hành hình phạt tù cũng như đảm
bảo áp dụng đúng các quy định đó trong thực tiễn.
Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập,
nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật
hình sự và tố tụng hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,…
nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về thi hành hình phạt tù.

phạt này được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Hình phạt này không
được áp dụng đối với người chưa thanh niên phạm tội. Hình phạt tù chung
5


thân là hình phạt cần thiết trong hệ thống hình phạt ở Việt Nam hiện nay.
Tính cần thiết này xuất phát từ thực tế của tình hình phạm tội và yêu cầu của
đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nó là hình phạt thay thế cho trường hợp tử
hình được ân giảm. Tính không thời hạn của hình phạt tù chung thân không
có tính tuyệt đối. Người bị án phạt tù chung thân vẫn có thể không phải chấp
hành hình phạt tù suốt đời mà có thể được giảm thời hạn chấp hành do cải tạo
tốt. Với mức giảm tối đa thì người bị phạt án tù chung thân vẫn phải chấp
hành hình phạt tối thiểu là 20 năm.
Hình phạt tù với tính chất là hình phạt chính được sắp sắp xếp trong hệ
thống hình phạt theo thứ tự từ nhẹ đến nặng, có mức độ nghiêm khắc phù hợp
với các thang bậc, mức độ nghiêm trọng, nguy hiểm khác nhau của các loại
tội phạm.
Theo quy định của pháp luật, hình phạt tù chỉ được thi hành trong trường
hợp bản án kết tội của Tòa án có quyết định áp dụng hình phạt tù, đồng thời
bản án đó phải có liệu lực pháp luật. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc vì:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9 BLTTHS năm 2003). Như vậy,
chỉ bản án phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực mới được đưa ra thi hành. Tuy
nhiên, chỉ có bản án phạt tù đã có hiệu lực pháp luật thôi thì chưa đủ điều kiện
để bản án đó được thi hành trên thực tế nếu thiếu quyết định thi hành của
người hoặc cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, để bản án phạt tù của Tòa án
được đưa ra thi hành thì phải có quyết định thi hành án của người hoặc cơ
quan có thẩm quyền, đó là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án
được ủy quyền.

trong thực tế. Giữa xét xử và THHPT là hai giai đoạn khác nhau nhưng liên
quan, tác động, hỗ trợ nhau. Xét xử làm tiền đề để tiến hành thi hành án hình
sự. Ngược lại, hiệu quả của hoạt động thi hành án hình sự nói chung, thi hành
bản án phạt tù nói riêng sẽ góp phần đạt được mục đích của hoạt động xét xử.
Do vậy, nếu cho rằng hoạt động tố tụng hình sự sẽ kết thúc khi Tòa án đã ra
7


quyết định bằng bản án phạt tù thì việc phán quyết đó của Tòa án được thực
hiện hóa một cách trọn vẹn nếu không thông qua hoạt động THHPT. Hoạt
động THHPT dựa trên kết quả xét xử, song đó cũng chỉ là điều kiện cần để
hoạt động xét xử đạt được mục đích thì phải có thêm điều kiện đủ, đó là bản
án phạt tù được thi hành trên thực tế thông qua hoạt động thi hành án hình sự.
Không phải ngẫu nhiên mà BLTTHS quy định trình tự, thủ tục tố tụng hình sự
bao gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Do vậy, thi
hành án hình sự nói chung, thi hành bản án phạt tù nói riêng là giai đoạn cuối
cùng, kế tiếp giai đoạn xét xử. Đây là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng hình
sự nhằm làm cho bản án phạt tù của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi
hành trên thực tế. Với tính chất là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự
nên hoạt động THHPT được tiến hành theo đúng các quy định của BLTTHS.
Vì thế hoạt động này mang tính tố tụng hình sự. Tuy nhiên, hoạt động này
không chỉ mang tính tố tụng hình sự thuần túy. Ở một chừng mực nhất định,
hoạt động THHPT còn mang tính hành chính- tư pháp. Tính hành chính của
hoạt động THHPT thể hiện ở chỗ, THHPT là hoạt động chấp hành, quản lý.
Hoạt động THHPT có tính chất chấp hành vì hoạt động này được tiến hành
trong khuôn khổ pháp luật về thi hành án hình sự nhằm thực hiện bản án phạt
tù của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Song tính chất chấp hành của hoạt động
THHPT có nét riêng, đó là hoạt động THHPT do cơ quan tư pháp và đối
tượng phải thi hành (người bị kết án phạt tù) tiến hành; cơ sở để tiến hành
hoạt động THHPT là các quy định của pháp luật thi hành án hình sự và bản án

Đặc điểm này thẻ hiện ở chỗ, thi hành án phạt tù là hoạt động của cơ
quan Nhà nước và người có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm đưa người bị
kết án tù đi chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ (trại giam, trại tạm giam)
và tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục nhằm giúp họ trở thành
người lương thiện.Khi thực hiện trách nhiệm này, cơ quan và cá nhân có thẩm
quyền được nhân danh Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người
bị kết án tù phải chấp hành hình phạt tại trại giam. Đối với người bị kết án tù
9


nếu không chịu chấp hành hình phạt sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
Điều 304 BLHS… Còn đối với người bị kết án tù đang tại ngoại mà không có
mặt để đến trại giam chấp hành án sẽ bị áp dụng biện pháp áp giải.
Thứ ba, thi hành án phạt tù là hoạt động mang tính thủ tục pháp lý
Hoạt động thi hành án phạt tù không những mang tính quyền lực Nhà
nước mà còn mang tính thủ tục pháp lý bởi hoạt động này được tiến hành theo
trình tự thủ tục được quy định trong pháp luật về thi hành án (BLTTHS, Luật
Thi hành án hình sự).
Thứ tư, thi hành án phạt tù là hoạt động mang tính định hướng, tính mục
đích
Thi hành án phạt tù với tính chất là hoạt động của cơ quan Nhà nước và
người có thẩm quyền đưa người bị kết án tù đến chấp hành hình phạt tại trại
giam và tổ chức thực hiện các biện pháp giáo dục, cải tạo họ luôn hướng tới
mục đích giúp người bị kết án trở thành người lương thiện, không phạm tội
mới, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN; đồng
thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội
phạm.
Để đạt được mục đích này, thi hành án phạt tù có nhiệm vụ: Bảo đảm
hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên trong bản án kết tội đối với bị cáo khi đã có
hiệu lực pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh trên thực tế; bảo đảm

hội, phải chịu sự quản lý, cải tạo, giáo dục trong thời hạn bị phạt tù. Các cơ
quan tham gia thực hiện thi hành án phạt tù cũng gồm nhiều cơ quan như: Toà
án, Công an, chính quyền địa phương theo dõi trong thời gian chờ xoá án
tích....; đối với thi hành án tử hình, đây là hình phạt nghiêm khắc nhất vì nó
tước đi quyền sống của kẻ phạm tội. Bởi vậy, pháp luật đã quy định riêng cho
thi hành án tử hình các nguyên tắc, trình tự, thủ tục chặt chẽ. Việc thi hành án
tử hình chỉ là quá trình mà Hội đồng thi hành án tử hình thực thi nhiệm vụ
theo thủ tục, trình tự luật định; thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo: Án
treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Người được
11


hưởng án treo vẫn làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương ngay
trong môi trường xã hội bình thường, chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan,
tổ chức, chính quyền địa phương... Việc quản lý, giám sát người hưởng án
treo là do các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương thực hiện; thi hành
án phạt tiền: Phạt tiền là một loại hình phạt (có thể là hình phạt chính hoặc
hình phạt bổ sung) về hình sự, nhưng lại được thi hành theo trình tự, thủ tục
thi hành án dân sự; thi hành hình phạt trục xuất: Đây là hình phạt mới được
quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999, tuy nhiên thủ tục thi hành hình
phạt này là thủ tục mang tính hành chính, có sự phối hợp của các cơ quan Toà
án, Công an, cơ quan ngoại giao...; thi hành hình phạt cấm đảm nhiệm các
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Đây là hình phạt bổ
sung, sau khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt chính là hình phạt tù
có thời hạn, cảnh cáo, phạt tiền... cơ quan thi hành án hình sự có trách nhiệm
ra quyết định và thông báo cho cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi
người bị kết án cư trú về việc họ bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định. Việc thi hành hình phạt này có sự phối hợp
giữa cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương
thực hiện sau khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính; thi hành

+ Những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm .
Với quy định này thì bản án phạt tù được thi hành cũng phải là những
bản án đã có hiệu lực pháp luật nêu trên.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, bản án sơ thẩm
của Tòa án chỉ phát sinh hiệu lực pháp luật khi nội dung của bản án phản ánh
sự thật khách quan một cách có căn cứ và không bị kháng cáo, kháng nghị
trong thời hạn do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Theo Điều 255 Bộ luật
Tố tụng hình sự, bản án sơ thẩm không bị kháng cáo và kháng nghị theo trình
tự phúc thẩm và bản án phúc thẩm là những bản án phát sinh hiệu lực pháp
luật. Nếu các bản án này có tuyên hình phạt tù (hình phạt tù có thời hạn và tù
chung thân) thì đây cũng là thời điểm phát sinh điều kiện thi hành hình phạt
13


tù. Bộ luật tố Tụng hình sự chỉ ghi nhận điều kiện không bị kháng cáo, kháng
nghị trong thời hạn luật định để khẳng định thời điểm phát sinh hiệu lực pháp
luật của bản án. Theo Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Tòa án cấp
phúc thẩm chỉ xét xử để kiểm tra đối với phần bản án, quyết định sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị. Bởi vậy, bản án phúc thẩm chỉ là căn cứ thi hành hình
phạt tù khi giải quyết những vấn đề của bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc
kháng nghị có liên quan đến hình phạt tù. Trong trường hợp nếu có kháng
cáo hoặc kháng nghị phúc thẩm về các vấn đề khác thì bản án phúc thẩm,
không phải là căn cứ thi hành hình phạt tù. Tuy nhiên, theo Điều 249
BLTTHS thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo mặc dù vấn đề đó không bị kháng
cáo hoặc kháng nghị. Trong trường hợp này, bản án phúc thẩm sẽ trở thành
căn cứ thi hành hình phạt tù khi Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án phạt tù theo
hướng giảm nhẹ cho những phần không có kháng cáo, kháng nghị liên quan
đến hình phạt tù. Trong các loại bản án phạt tù kể trên, có những bản án phạt
tù mặc dù đã phát sinh hiệu lực pháp luật song không trở thành điều kiện thi

án trốn tránh nhưng Tòa án quên không ra quyết định thi hành án hoặc người
bị kết án cố tình trốn tránh mà không bị truy nã nên bản án, quyết định của
Tòa án đã qua một thời gian nhất định mà chưa được thi hành. Để đảm bảo
tính ổn định của các quan hệ pháp luật về thi hành án hình sự nói chung và
thi hành án phạt tù nói riêng, mặt khác nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị kết án, tại Điều 55 BLHS quy định "Thời hiệu thi hành bản
án", theo đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên nếu tính
từ ngày bản án đã có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn sau đây:
• 5 năm đối với trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử
phạt từ 3 năm trở xuống;
• 10 năm đối với trường hợp xử phạt tù từ trên 3 năm đến 15 năm;
• 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên 15 băn đến 30 năm;
15


Việc áp dụng thời hiệu đối với trường hợp xử phạt tù chung thân, sau khi
đã quá thời hạn 15 năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo
đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp
không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tù chung thân được chuyển thành tù
ba mươi năm. Điều luật còn quy định cách tính thời hiệu trong trường hợp
người bị kết án phạm tội mới hoặc cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã;
các trường hợp không áp dụng thời hiệu (Điều 56 Bộ luật Hình sự). Với
quy định về "Thời hiệu thi hành bản án" nói trên, chỉ những bản án còn
trong thời hiệu thi hành bản án thì mới có đủ điều thi hành án. Mức xử phạt
để làm căn cứ áp dụng thời hiệu trong các trường hợp tổng hợp hình phạt là
mức hình phạt tổng hợp và tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu có
nhiều người bị kết án trong cùng một bản án thì mỗi người sẽ được áp dụng
thời hiệu riêng, phù hợp với mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với họ.
Tóm lại, "Còn hiệu lực thi hành" là một trong những điều kiện của bản án có
hiệu lực thi hành, tức là bản án có hiệu lực được đưa ra thi hành khi bản án đó

Như vậy, quyết định thi hành án của Chánh án Tòa án có thẩm quyền
cũng là một trong những căn cứ thi hành án phạt tù. Nhưng quyết định thi
hành án chỉ trở thành căn cứ THAPT nếu đảm bảo được tính hợp pháp, tính
có căn cứ, đúng người, đúng nội dung vụ án.
Các căn cứ nêu trên mặc dù có tính độc lập nhất định, nhưng giữa chúng
có quan hệ mật thiết với nhau. Khi bản án phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật thì tất yếu đòi hỏi Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải ra quyết
định thi hành án trong thời hạn luật định (trừ trường hợp hoãn thi hành án
hoặc ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì bị kháng nghị giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm). Ngược lại, Chánh án Tòa án có thẩm quyền chỉ ra quyết
định thi hành án dựa trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật. Nói cách khác, bản án phạt tù của Tòa án có hiệu lực pháp luật lại
trở thành căn cứ cho việc Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi
hành án. Trong căn cứ này, thì bản án phạt tù của Tòa án có hiệu lực pháp luật
17


là căn cứ “Cần” còn quyết định thi hành án là căn cứ “Đủ” của việc thi hành
hình phạt tù.
1.3. Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tù
Một trong những đặc trưng cơ bản của thi hành án là được tiến hành theo
một trình tự, thủ tục chặt chẽ,đó là thủ tục thi hành án hình sự. Thi hành hình
phạt tù diễn ra theo một quá trình gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau, được bắt
đầu bằng việc ra quyết định thi hành án, đưa người bị kết án đến trại giam để
chấp hành hình phạt, tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục người
chấp hành án, trả tự do cho người bị kết án tù. Trong quá trình đó, đối với một
số trường hợp cụ thể, thi hành hình phạt tù còn bao gồm cả những hoạt động
khác như giải quyết việc tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù, giảm thời hạn,
miễn chấp hành hình phạt tù. Các hoạt động thi hành hình phạt tù nêu trên đều
được thực hiện theo những thủ tục được quy định trong pháp luật tố tụng hình

thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung. Trường hợp người bị kết án đang tại
ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
nhận được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu nơi người đó làm việc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án đã ra quyết định phải
gửi quyết định thi hành án cho cá nhân, cơ quan sau đây:
- Người chấp hành án;
- Viện kiểm sát cùng cấp;
- Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu;
- Trại tạm giam nơi người phải chấp hành án đang bị tạm giam;
- Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người phải chấp
hành án đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ hoặc đang tại ngoại;
- Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở;
Sau khi quyết định thi hành án phạt tù được gửi cho các chủ thể nói trên,
19


quyết định thi hành án phạt tù được đưa ra thi hành theo trình tự được quy
định tại Điều 22 Luật Thi hành án hình sự cụ thể như sau:
+ Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam thì trong thời hạn
03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam
thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải
tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn
chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan
quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Trường hợp người bị kết án
phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại tạm giam

Cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án.
1.3.2. Trình tự, thủ tục đưa người bị kết án phạt tù có thời hạn đến
trại giam tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục và trả tự do cho
người đã chấp hành xong án phạt tù
Theo quy định tại Điều 25 Luật Thi hành án hình sự, cơ quan quản lý thi
hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc
Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ đưa người bị kết án phạt tù và hồ sơ
kèm theo đến bàn giao cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp huyện đã được chỉ định để thi hành án.
Hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù phải có đầy đủ
các giấy tờ sau:
- Bản án đã có hiệu lực pháp luật; trường hợp xét xử phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm thì phải có bản án sơ thẩm kèm theo;
- Quyết định thi hành án phạt tù;
- Quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự đưa người chấp
hành án phạt tù đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
21


Công an cấp huyện;
- Danh bản của người chấp hành án phạt tù;
- Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng minh quốc tịch đối với người
chấp hành án phạt tù là người nước ngoài;
- Phiếu khám sức khỏe và các tài liệu có liên quan đến sức khỏe của
người chấp hành án phạt tù;
- Bản nhận xét việc chấp hành nội quy, quy chế tạm giam đối với người
chấp hành án đang bị tạm giam;
- Các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án phạt tù.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status