VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM QUANG KIÊN
QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN THEO LUẬT
BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG NĂM 2004
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số
:
60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.TRẦN QUANG HUY
HÀ NỘI – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bảo vệ rừng
BV&PTR
Bảo vệ và phát triển rừng
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Hệ thống một số văn bản về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng quan trọng
của Nhà nước…………………………………………………………….………....10
Bảng 2.1. Diện tích các loại đất tỉnh Bắc Kạn năm 2014………………….……….34
Bảng 2.2. Diện tích đất đai và dân số tỉnh Bắc Kạn năm 2014………………….…37
Bảng 2.3. Độ che phủ rừng của tỉnh Bắc Kạn so với các tỉnh Đông Bắc giai đoạn
2011 – 2013 ………………………………………………..……………................44
Bảng 2.4. Hiện trạng đất lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn………………………...........…45
Bảng 2.5. Số vụ vi phạm và diện tích rừng bị tàn phá, bị cháy tỉnh Bắc Kạn giai
đoạn 2010 – 2013…………………………………………………………………...47
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
nguyên rừng chưa được khai thác tổng hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và
các dịch vụ môi trường. Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng suất thấp và chất
lượng thấp đặc biệt là gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Nguyên nhân
chủ yếu là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực khai thác tài
nguyên rừng vẫn còn thiếu đồng bộ, pháp luật chưa đảm bảo được quyền hưởng lợi
từ rừng của những người làm nghề rừng, chưa giúp họ sống được bằng nghề rừng,
làm giàu được từ rừng. hệ quả tất yếu là làm những chủ thể được giao quản lý và
bảo vệ rừng phải tìm cách nhanh chóng khai thác rừng vì lợi ích trước mắt mà gây
những ảnh hưởng nặng nề đến môi trường rừng. Đây là vấn đề cấp bách cần phải
nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp luật BV&PTR phù hợp với điều kiện kinh tế xã
hội và nền kinh tế thị trường. Vì vậy, đề tài nghiên cứu “ Quyền khai thác lâm sản
theo luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 từ thực tiễn tỉnh Bắc Kạn” có ý
nghĩa thiết thực về cả mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua cũng có những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực bảo vệ và phát triển
rừng ở nhiều ngành khoa học khác nhau như: lâm nghiệp, kinh tế, môi trường…
Tuy nhiên, nghiên cứu về khía cạnh luật học thì chưa có nhiều, có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu như:
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hải Âu – Trường Đại học Luật Hà
Nội, năm 2001 với tựa đề “Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam, thực
trạng và phương hướng hoàn thiện”.
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thanh Huyền – Khoa Luật- Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2004 với tựa đề “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ
rừng ở Việt Nam hiện nay”.
Ngoài ra còn một số luận văn, khóa luận tốt nghiệp… có nghiên cứu về pháp
luật BV&PTR ở Việt Nam. Tuy nhiên các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu một số khía cạnh cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng hay đánh giá quản lý
nhà nước bằng pháp luật chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu ở góc độ quyền của chủ
rừng. Việc tiếp cận quyền của chủ rừng đặc biệt là đi sâu vào vấn đề khai thác lợi
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đặt ra, luận án được thực hiện dựa trên
phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật,
3
đồng thời luận văn vận dụng các tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi
mới tư duy chính trị pháp lý về cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu khi phân tích cơ sở lý
luận và các quy định nội dung của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ
rừng trong chương 1 và chương 2 của luận văn như: phân tích các khái niệm, đặc
điểm, phân tích các quy định của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ
rừng. Ngoài ra các phương pháp giải thích, phương pháp so sánh, thống kê được tác
giả dùng nhiều ở chương 2 và chương 3 để làm rõ được thực trạng về quyền khai
thác lâm sản của chủ rừng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể là những tài liệu tham khảo bổ ích
trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về pháp luật tài nguyên, luật bảo vệ và phát
triển rừng.
Ý nghĩa thực tiễn: các giải pháp nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham
khảo hữu ích đối với các cơ quan, tổ chức trong quá trình nghiên cứu, nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng nói riêng
và Luật BV&PTR nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng và
pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
Chương 2: Thực trạng quyền khai thác lâm sản của chủ rừng từ thực tiễn tỉnh
hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Vườn quốc gia;
b) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh;
c) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học;
5
3. Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản
ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Rừng sản xuất là rừng tự nhiên;
b) Rừng sản xuất là rừng trồng;
c) Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận.
Ngoài ra, rừng còn được phân loại theo một số trường hợp sau: Theo điều kiện
lập địa, gồm: rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập nước, rừng trên đất cát; theo các
loại cây, gồm rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng cau dừa, rừng hỗn giao gỗ và tre nứa.
b. Khái niệm lâm sản
Theo Luật BV&PTR năm 2004 quy định: Lâm sản là sản phẩm khai thác từ
rừng gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác. Lâm sản gồm gỗ
và lâm sản ngoài gỗ.
Các sản phẩm gỗ cung cấp cho cả ngành công nghiệp, nông nghiệp, công
nghiệp xây dựng cơ bản, giao thông vận tải và nhu cầu trong mỗi gia đình. Ngày
nay hầu hết các ngành công nghiệp đều dùng đến gỗ vì các tính năng ưu việt mà gỗ
đem lại như dễ gia công, chế biến…Trong quá trình phát triển của xã hội, dưới tác
động của khoa học công nghệ, con người đã sản xuất ra nhiều sản phẩm nhằm thay
thế cho gỗ. Tuy nhiên, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm về gỗ vẫn không ngừng gia
tăng cả về số lượng lẫn chất lượng.
Ngoài các sản phẩm gỗ, rừng còn cung cấp các loại lâm sản ngoài gỗ như: tre,
nứa, song, mây, các loại đặc sản rừng, động vật rừng, thực vật rừng có giá trị cho
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Các động vật từ rừng là những sản phẩm quý
trong pháp luật và được bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước.
1.1.2. Khái niệm pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
Pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là một bộ phận của pháp
luật bảo vệ và phát triển rừng, được hình thành để góp phần bảo vệ và phát triển
rừng nói chung và tạo hành lang pháp lý để chủ rừng thực hiện quyền quản lý, sử
dụng rừng.
Theo quy định tại Điều 59 Luật BV&PTR năm 2004 chủ rừng có 8 quyền cơ
bản sau đây:
7
1. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng,
quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
2. Được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phủ hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê
rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất.
3. Được sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp theo quy chế
quản lý rừng, trừ rừng đặc dụng.
4. Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích được giao,
được thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác.
5. Được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng , du
lịch sinh thái – môi trường theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt.
6. Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển
rừng theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng.
7. Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để
bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng
bảo vệ, cải tạo rừng mang lại.
8. Được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng được giao,
sống của nhân dân, tăng cường an ninh quốc phòng... Từ sau Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI, với đường lối đổi mới của Đảng, ngành lâm nghiệp từ chỗ dựa vào
quốc doanh nay chuyển sang lâm nghiệp xã hội, nhân dân trở thành lực lượng chủ
yếu bảo vệ và phát triển rừng. Chủ thể sử dụng rừng được quy định rất sớm ngay từ
Luật Bảo vệ và phát triển rừng ban hành năm 1991 đã ghi rõ tại Điều 2: Nhà nước
giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân để bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng
ổn định, lâu dài[28]. Như vậy là Luật Bảo vệ và phát triển rừng (năm 1991) đã thể
chế hoá một bước chủ trương giao đất, giao rừng với đối tượng được giao là tổ chức
và cá nhân, sau này trong Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 mở rộng thêm các đối
tượng chủ rừng khác. Tuy nhiên để quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ rừng thì
phải đến Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 mới được cụ thể hóa.
Nền kinh tế đất nước cũng chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
trường nên quá trình chuyển đổi quyền chủ sở hữu rừng cũng được thay đổi theo.
Từ việc chủ trương phát triển sản xuất lâm nghiệp dựa vào các tổ chức quốc doanh
9
là chính thì đã chuyển sang phát triển sản xuất ngành lâm nghiệp dựa trên cơ sở xã
hội hóa ngày càng cao. Nhà nước cùng nhân dân bảo vệ và phát triển rừng. Sự thay
đổi đó đã góp phần mở rộng đối tượng giao rừng, cho thuê rừng
Từ quan điểm, chủ trương của Đảng định hướng công tác bảo vệ và phát triển
rừng sang nhiều mục tiêu trong đó có việc xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu
trong ngành lâm nghiệp. Nhà nước quan tâm hơn đến việc bảo vệ và phát triển
rừng, đã có những chính sách và chương trình mục tiêu đầu tư lớn như chính sách
giao đất giao rừng, Chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng....trong đó có
quy định các quyền và nghĩa vụ của chủ rừng tương ứng với từng loại rừng.
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được Nhà nước ta đặc biệt quan
tâm và chú trọng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý
bảo vệ rừng được ban hành tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện, tạo cơ
rừng và quản lý lâm sản.
10
Quyết định 59/2005/QĐ-BNN ngày 10/10/2005 của Bộ
trưởng Bộ NN&PTNT về việc ban hành quy định việc
4
10/10/2005
5
16/01/2006
6
03/03/2006
7
03/03/2006
kiểm tra kiểm soát lâm sản.
Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 Quy định
Về phòng cháy và chữa cháy rừng.
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thi
hành Luật BV&PTR
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 Về thi
hành Luật BV&PTR
dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm
12
08/03/2007 trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm
sản
11
Thông tư liên tịch số 22/2007/TTLT-BNN-BNV ngày
27/3/2007 Hướng dẫn về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
13
27/03/2007 tổ chức của Kiểm lâm ở địa phương
Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 Về xử
14
30/10/2007
15
14/01/2008
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng,bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản.
Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của
Chính phủ về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
bách trong công tác BVR và PCCCR.
Nghị định 74/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 của Chính
phủ quy định về phối hợp hoạt động giữa lực lượng dân
quân tự vệ với lực lượng công an xã, phường, thị trấn, lực
20
12/07/2010
lượng kiểm lâm và các lực lượng khác trong công tác
giữ gìn an ninh chính trị, trật tự
21
24/09/2010
Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính
phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
12
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của
22
24/12/2010
Chính phủ Về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng
Quyết định số 34/2011/QĐTTg ngày 24/06/2011 của thủ
tướng chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều Quy chế
27
05/04/2012 thanh lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
13
Thông tư liên tịch số 100/2013/TTLT-BTC-BNN&PTNT
ngày 26/7/2013 Hướng dẫn thực hiện một số điều của
Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ
28
26/07/2013
tướng Chính phủ về chính sách đầu tư rừng đặc dụng giai
đoạn 2011 – 2020
Thông tư của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
số 90/2008/TT-BNN ngày 28/8/2008 hướng dẫn xử lý
29
28/08/2013 tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu.
Thông tư liên tịch số 100/2013/TTLT-BTC-BNN&PTNT
ngày 26/7/2013 Hướng dẫn thực hiện một số điều của
Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ
30
26/7/2013
29/01/2015 các Phòng, Văn phòng và Đội Kiểm lâm đặc nhiệm thuộc
Cục Kiểm lâm
Thông tư Số 20/2016/TT-BNNPTNT ngày 27/06/2016
của Bộ NN&PTNT sửa đổi, bổ sung một số điều của các
Thông
35
27/06/2016
tư:
38/2007/TT-BNNPTNT,
78/2011/TT-
BNNPTNT,
25/2011/TT-BNNPTNT,
47/2012/TT-
BNNPTNT,
80/2011/TT-BNNPTNT,
99/2006/TT-
BNNPTNT
Trên đây chỉ là những quy định cơ bản, quan trọng nhất còn hệ thống các quy
định pháp luật liên quan đến vấn đề khai thác và sử dụng rừng ở nước ta hiện nay
hết sức đồ sộ quy định rất nhiều vấn đề về bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó,
Luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, Khóa XI
ngày 03/12/2004 với 8 chương, 88 Điều, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử
dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Đây là văn bản có hiệu lực pháp lý cao
nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp, ngoài ra còn có khoảng 100 văn bản dưới luật để
quy định chi tiết các yêu cầu đặt ra quy định áp dụng đối với quản lý rừng tại Việt
Nam. Nội dung các văn bản luật trên cũng đã phần nào làm rõ đảm bảo được yêu
cầu của pháp luật về quyền của chủ rừng, cụ thể:
- Các chính sách trên đảm bảo được tính công khai minh bạch, dân chủ, tạo
điều kiện thuận lợi cho các chủ rừng khi thực hiện các quyền khai thác và sử dụng
rừng của mình. Hệ thống văn bản dưới Luật cũng đã hướng dẫn, quy định khá rõ
ràng minh bạch trình tự, cách thức, hồ sơ cũng như thẩm quyền các cơ quan xử lý
thủ tục hành chính để các chủ rừng thực hiện các quyền của mình.
- Đảm bảo dự đoán trước được các xu thế phát triển của thế giới để kịp thời điều
chỉnh chính sách phù hợp, phát triển bền vững với kinh tế - xã hội – môi trường, quốc
phòng an ninh ; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển
lâm nghiệp, đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
- Đảm bảo gắn liền hoạt động khai thác của chủ rừng với việc bảo vệ và phát
triển rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng
với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng, làm giàu rừng với bảo
vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy
mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng
cao giá trị sản phẩm rừng; thực hiện quyền và nghĩa vụ trong công tác phòng cháy,
chữa cháy rừng theo quy định của pháp luật.
- Các chính sách đưa ra phần nào đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của
chủ rừng là các tổ chức kinh tế. Định hướng cho các chủ rừng thực hiện bảo vệ và
chưa tương xứng với tiềm năng.
Yếu tố quốc tế cũng tác động mạnh đến quyền và nghĩa vụ của chủ rừng .
Nhờ sự hỗ trợ đáng kể của cộng đồng quốc tế mang đến quyền lợi kinh tế cho chủ
rừng trong công tác bảo vệ, phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn
miền núi. Để tham gia hội nhập quốc tế nhà nước mình cũng dần hoàn thiện, điều
chỉnh các quy định, chính sách pháp luật phù hợp với Luật, các công ước quốc tế
trong đó cũng quy định rất rõ trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của chủ rừng.
17
Cho đến nay, phát triển lâm nghiệp chủ yếu dựa vào vốn ngân sách nhà nước,
chưa huy động tối đa các nguồn lực của khu vực ngoài quốc doanh và dịch vụ môi
trường. Đầu tư cho ngành Lâm nghiệp và nghề rừng còn rất thấp so với nhu cầu;
quản lý sử dụng các nguồn lực đầu tư chưa chặt chẽ, dàn trải và hiệu quả chưa cao.
Cơ cấu đầu tư chưa cân đối, đầu tư nhiều cho rừng phòng hộ và đặc dụng, ít chú
trọng đến rừng sản xuất; chưa quan tâm đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng lâm
nghiệp. Vấn đề đảm bảo quyền của chủ rừng nói chung và quyền khai thác lâm sản
của chủ rừng nói riêng còn nhiều bất cập, những ưu đãi về đầu tư và khai thác lâm
sản còn chưa thực sự thiết thực, điều này cũng dẫn đến nhiều chủ rừng không còn
động lực trong việc quản lý và khai thác rừng, nhiều đối tượng chủ rừng chưa thực
sự làm giàu được từ rừng. Bên cạnh đó vì đặc thù rừng là phải bảo vệ vì vậy không
thể chỉ tập trung phát triển kinh tế trồng rừng dẫn đến việc phát triển kinh tế bị hạn
chế nhiều.
Kết luận chương 1
Nhà nước nhận thức được rất sớm vai trò của chủ rừng trong công tác bảo vệ
và phát triển rừng. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các văn bản hướng
dẫn thi hành Luật đã công nhận quyền sử dụng, khai thác rừng của chủ rừng.
Tại chương 1, tác giả đã đề cập các nội dung cơ bản về quyền khai thác lâm
sản của chủ rừng. Trình bày một số khái niệm, yêu cầu về quyền và nghĩa vụ của
Nhà nước nhằm khuyến khích những hộ gia đình, cá nhân có khả năng quản lý, bảo
vệ, phát triển kinh doanh rừng. Bên cạnh việc thực hiện các trách nhiệm quản lý
rừng, hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền
sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được sử dụng rừng ổn
định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất,
cho thuê đất; được sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp theo
quy chế quản lý rừng (trừ rừng đặc dụng). Hộ gia đình , cá nhân được hưởng thành
quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất được giao, được thuê; bán thành quả
lao động, kết quả đầu tư cho người khác; được bồi thường thành quả lao động, kết
quả đầu tư khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng.
19
Ngoài ra, tuỳ thuộc vào loại rừng được giao hay được cho thuê hoặc diện
tích rừng được sở hữu hay được sử dụng mà hộ gia đình, cá nhân được hưởng các
quyền khai thác khác nhau.
2.1.1.2. Quyền khai thác lâm sản của hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao
rừng phòng hộ
Ngoài các quyền và lợi ích chung của chủ rừng như đã ghi nhận tại Điều 59
Luật BV&PTR 2004. Họ được quyền chuyển đổi diện tích rừng được giao cho các
hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, đối với cá nhân được để lại thừa kế quyền
sử dụng rừng theo quy định của pháp luật; Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là
hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng phòng hộ được quy định rõ ràng tại
khoản 3 Điều 69 Luật BV&PTR năm 2004 theo đó chủ rừng này được khai thác, sử
dụng rừng, tận thu lâm sản theo quy định như sau:
Đối với rừng phòng hộ là rừng tự nhiên được phép khai thác cây đã chết, cây
sâu bệnh, cây đứng ở nơi mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản lý
rừng. Được phép khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ mà không làm ảnh hưởng đến
khả năng phòng hộ của rừng, khai thác măng, tre nứa trong rừng phòng hộ theo quy