VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HƯƠNG LAN
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HƯƠNG LAN
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60.38.01.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HỒ SỸ SƠN
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA TÌNH
HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................................................... 52
3.1. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa
bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề tăng cường nhận thức về
chúng ........................................................................................................... 52
3.2. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa
bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề dự báo tình hình tội này 53
3.3. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa
bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh và các biện pháp khắc phục........... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 69
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Trình độ học vấn của người phạm tội
Bảng 2.2: Hoàn cảnh gia đình
Bảng 2.3: Nghề nghiệp của người phạm tội
Bảng 2.4: Thói quen sở thích của người phạm tội
Bảng 2.5: Độ tuổi của người phạm tội
Bảng 2.6: Giới tính của người phạm tội
Bảng 2.7: Số người phạm tội có tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Bảng 2.8: Nơi đăng ký thường trú.
Bảng 2.9: Cách quản lý tài sản
Bảng 2.10: Về cách thức truy bắt
Bảng 3.1: Tình hình tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 10, từ năm
2012 năm 2016
Tình hình cướp giật tài sản đã và đang ảnh hưởng rất xấu đến trật tự an
toàn trên địa bàn Quận 10. Các vụ án xảy ra một cách công khai, thậm chí ở
chốn đông người, gây tâm lý hoang mang, lo sợ của người dân khi ra đường.
Đặc biệt nạn cướp giật trên đường phố đã làm xấu đi hình ảnh của một đô thị
năng động và thân thiện của Quận 10, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
trong các lĩnh vực du lịch, thương mại, đầu tư. Chính vì vậy, đấu tranh phòng,
chống tội cướp giật tài sản là yêu cầu cấp thiết hiện nay, hiệu quả của công tác
này là góp phần quan trọng bảo vệ quyền sở hữu, bảo vệ trật tự an ninh xã hội
và góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Đây thực sự là thách thức, là sự trăn trở của các cơ quan đấu tranh
phòng chống tội phạm tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cấp bách, cần có hoạt động nghiên cứu
một cách khoa học, đầy đủ và nghiêm túc, có hệ thống và toàn diện về nguyên
nhân và điều kiện tội cướp giật tài sản gắn với địa bàn tội phạm tức gắn với
đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội trên địa bàn, từ đó đưa ra các giải pháp
phòng ngừa loại tội này một cách có hiệu quả trong thời gian tới. Học viên
chọn đề tài “Nguyên nhân và điều kiện tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận
10, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có một số công trình về tội cướp giật tài sản làm
luận án thạc sỹ, tiến sỹ, như Nông Anh Vượng (2016), Tội cướp giật tài sản
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Việt
Quang (2016), Tình hình cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Nguyễn Minh Hiền (2010), Đấu tranh phòng, chống tội cướp giật tài sản trên
địa bàn thành phố Cần Thơ; Lê Ngọc Hớn (2012), Tội cướp giật tài sản trên
địa bàn tỉnh An Giang: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa.
2
thời gian từ năm 2012 đến năm 2016.
Ba là, dự báo tình hình tội này trong thời gian tới và đề xuất các giải
pháp phòng ngừa có hiệu quả tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 10, thành
phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quy luật phát triển tội cướp giật
tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh hay nói cách khác là
mối quan hệ phụ thuộc giữa tình hình tội cướp giật tài sản với các hiện tượng,
quá trình xã hội diễn ra trên địa bàn. Để thực hiện được điều đó, tác giả lấy
các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình sự hiện hành, thực
tiễn tình hình tội cướp giật tài sản cũng như thực tiễn nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội này và thực tiễn phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên
địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu đề tài này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dưới góc độ chuyên ngành tội phạm học và
phòng ngừa tội phạm.
Các số liệu được luận văn sử dụng là những số liệu thống kê của Viện
kiểm sát nhân dân Quận 10, Tòa án nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí
Minh trong giai đoạn 2012-2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng
và chính sách, pháp luật của Nhà nước về chiến lược phòng ngừa tội phạm.
Đề tài luận văn còn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp trong một tổng
thể các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu: Thu thập về tình hình cướp giật
4
tạo cử nhân luật và ở các cấp độ đào tạo cao hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
bảng biểu, phần nội dung của luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nguyên nhân và điều kiện
của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí
Minh;
Chương 2: Thực trạng nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp
giật tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ
năm 2012 đến năm 2016;
Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với phòng ngừa tình hình tội cướp
giật tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU
KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố
Hồ Chí Minh
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội pháp lý tiêu cực, được
thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất (hệ
thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và
khoảng thời gian nhất định. [32,Tr.14]
Với tính cách là hiện tượng xã hội, tình hình tội phạm có nguyên nhân
và điều kiện xã hội. Vậy, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là
quy luật của mức độ cao đó.
Cần tìm các nguyên nhân trực tiếp của hành vi vi phạm pháp luật của
cá nhân ở các đặc điểm cá nhân của nhân thân người phạm tội, các tình huống
cụ thể trong đó chủ thể tồn tại. Ngược lại nguyên nhân của các hành vi vi
phạm pháp luật nói chung nằm ở mức độ cao hơn của hiện thực thực tế; trong
các quá trình và hiện tượng xã hội, kinh tế, tâm lý của xã hội đó. Mức độ cá
nhân và mức độ xã hội, tất yếu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. [32,Tr.84]
Tóm lại, nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm là những hiện
tượng, quá trình xã hội tiêu cực trong sự tương tác lẫn nhau của chúng ở hai
cấp độ làm phát sinh tình hình tội phạm.
Từ những phân tích khái quát trên đây có thể thấy nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội phạm nói chung được hiểu theo các cấp độ. Trước hết,
đó là những hiện tượng, quá trình xã hội tiêu cực trong sự tác động lẫn nhau
và tác động đến con người (phạm tội) hình thành ở họ những phẩm chất tiêu
8
cực, tức những con người “có tiềm năng phạm tội”. Khi tác động với tình
huống phạm tội (cũng là những hiện tượng xã hội tiêu cực có tác dụng làm
cho “tiềm năng phạm tội” ở cá nhân bộc lộ ra ngoài thành hành vi tiêu cực)
làm phát sinh tội phạm cụ thể.
Từ cách hiểu trên về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm,
có thể nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài
sản. Tội cướp giật tài sản được hiểu là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản
của người khác một cách công khai rồi tẩu thoát của chủ thể có năng lực trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Cần lưu ý rằng tại Điều
136 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều 171 BLHS năm 2015 nhà làm luật
không mô tả thế nào là hành vi cướp giật tài sản.
Thế nhưng cũng cần lưu ý rằng, hành vi cướp giật tài sản cũng như mọi
hành vi khác của con người, suy cho cùng là sự kết quả của sự tác động lẫn
của tội cướp giật tài sản đó là tâm lý thích phô trương những vật dụng đắt tiền
như đồng hồ, nữ trang; hoặc nạn nhân quá chủ quan, sơ hở mất cảnh giác khi
sử dụng, cất giữ những tài sản có giá trị như điện thoại di động, máy quay
phim, máy chụp hình...
Hai là, tệ nạn ma túy, đặc biệt ma túy tổng hợp, là chất kích thích, gây
ảo giác đối với người sử dụng, dẫn đến khi chủ thể thực hiện hành vi cướp
giật không làm chủ được hành vi của mình.
Ba là, ảnh hưởng của phim ảnh, mạng xã hội và các trò chơi bạo lực
trên internet…
Về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội thường vào buổi trưa
hoặc buổi tối, nơi vắng vẽ, các tuyến đường có nhiều hẻm thông nhau.
Cơ chế thực hiện hành vi phạm tội, đối với tội cướp giật tài sản thì việc
chuẩn bị phạm tội thường rất đơn giản, nhanh chóng. Đối tượng thường sử
dụng xe môtô hoặc đi bộ lòng vòng qua các tuyến đường tìm con mồi; đồng
10
thời tìm các nơi tiêu thụ tài sản cướp giật được tại các tiệm cầm đồ, tiệm mua
bán đồ cũ, các địa điểm kinh doanh trò chơi đánh bạc trá hình như game bắn
cá, cá độ đá bóng trực tuyến. Ngoài ra, đối tượng có thể tìm kiếm đồng bọn và
có sự phân công nhiệm vụ cụ thể trong việc thực hiện hành vi phạm tội như
người điều khiển xe, người trực tiếp giật và người cản địa nếu có sự truy bắt.
Về thực hiện hành vi phạm tội, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội công
khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của bị hại và nhanh chóng tẩu thoát.
Đối với hành vi che giấu tội phạm cướp giật tài sản có những đặc điểm
riêng biệt so với các loại tội phạm khác như: thường xuyên đổi biển số xe,
dùng biển số giả, tẩu tán tài sản ngay lập tức nếu bị truy bắt, nghiên cứu trước
đặc điểm địa bàn để dễ dàng tẩu thoát.
Tóm lại, xem xét mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện tội cướp
giật tài sản càng cụ thể, càng sâu sắc để có những dự báo chuẩn xác tình hình
quan trọng trong đấu tranh tội phạm, nhằm kìm chế, đẩy lùi loại tội này trong
xã hội. Thực tế đã chỉ ra rằng, không thể áp dụng biện pháp phòng chống khi
chúng ta không hiểu được từ đâu mà tội phạm sinh ra, dưới điều kiện nào mà
tội phạm được tồn tại, phát triển. Như vậy, hạt nhân của việc nghiên cứu các
biện pháp đấu tranh phòng, chống tình hình tội cướp giật tài sản là phải tìm ra
được nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội này. Nếu như không nêu
được, hoặc nêu không đúng, không chính xác nguyên nhân và điều kiện của
nó thì định hướng cho cuộc đấu tranh này cũng không đúng, việc giải quyết
những hiện tượng tiêu cực nói chung và tình hình tội cướp giật tài sản nói
riêng sẽ không đạt được hiệu quả.
Ngoài ra, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp
giật tài sản có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định các chính sách kinh
tế, xã hội trước mắt và lâu dài. Trong đó, cần phải khẳng định ý nghĩa quan
trọng của vấn đề này đối với việc hoạch định các chính sách pháp luật nói
12
chung và chính sách hình sự nói riêng. Thực tế đã chỉ ra nguồn gốc phát sinh
tội phạm không chỉ ở những hiện tượng tiêu cực mà ngay trong quá trình phát
triển đất nước. Trong quá trình xây dựng, nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa thể
hoàn thiện toàn bộ vấn đề đường lối, chính sách, chủ trương, tổ chức thực
hiện, mà tạo nên sơ hở để xảy ra tội phạm. Có những chính sách kinh tế xã
hội nếu đến từ một góc độ kinh tế thì đem lại hiểu quả nhất định, nhưng ở góc
độ khác thì nó lại tạo ra sơ hở và được coi là nguồn gốc làm phát sinh hoặc
tạo điều kiện cho tội phạm tồn tại. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương đúng đắn, tích cực, thúc đẩy nền kinh tế
đất nước thoát khỏi kinh tế kém phát triển. Thế nhưng, chuyển đổi cơ chế
quản lý mới của nền kinh tế tác động đến nhiều lĩnh vực khác, mà ở các lĩnh
vực này làm phát sinh tội phạm. Trong lĩnh vực kinh tế, việc thay đổi cơ chế
và nguyên nhân và điều kiện đặc thù của tình hình tội cướp giật tài sản.
Nguyên nhân và điều kiện tổng thể là hệ thống các dạng tổng thể gây ra hậu
quả. Nguyên nhân đặc thù là một bộ phận của nguyên nhân và điều kiện tổng
thể.
Căn cứ vào lĩnh vực hình thành nguyên nhân và điều kiện của tình hình
tội cướp giật tài sản có thể phân thành nguyên nhân và điều kiện kinh tế - xã
hội; nguyên nhân và điều kiện về chính sách pháp luật và nguyên nhân và
điều kiện trong công tác quản lý, tổ chức.
Nguyên nhân và điều kiện kinh tế - xã hội là những yếu tố thuộc về lĩnh
vực kinh tế- xã hội tác động, làm phát sinh tội cướp giật tài sản như thất
nghiệp, đói nghèo, các tệ nạn xã hội phát sinh, ảnh hưởng giáo dục, phim ảnh.
Nguyên nhân và điều kiện về chính sách pháp luật thể hiện những bất
cập chưa hoàn thiện trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội này, như
chưa có khái niệm về tội cướp giật tài sản, chưa mô tả cụ thể rõ ràng các dấu
14
hiệu cấu thành tội này, khoảng cách trong khung hình phạt này rất lớn, đã ảnh
hưởng đến việc định tội danh đúng, áp dụng mức hình phạt đúng trong công
tác truy tố, xét xử.
Nguyên nhân và điều kiện trong công tác tổ chức quản lý là những
thiếu sót, lỏng lẽo trong công tác quản lý của các cơ quan chức năng trong
từng lĩnh vực nhất định. Chẳng hạn công tác quản lý nhân khẩu chưa thực sự
chặt chẽ, quản lý các đối tượng nhập cư, đối tượng nghiện hút, đối tượng
không có việc làm, đối tượng sau khi chấp hành án được tái hòa nhập cộng
đồng.
1.3. Cơ chế tác động của các nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
Như trên đã phân tích, nguyên nhân và điều kiện tình hình của tội cướp
giật tài sản là sự tương tác giữa hiện tượng, quá trình xã hội tiêu cực làm phát
giật tài sản phải nghiên cứu tất cả các yếu tố bắt nguồn từ khía cạnh xã hội và
nguyên nhân xuất phát từ phía cá nhân người phạm tội, sự tác động qua lại
giữa các yếu tố đó. Từ đó, có cái nhìn toàn diện, khách quan, khoa học hơn
khi đánh giá về nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tình hình tội cướp giật
tài sản, cần tránh kiểu duy ý chí, chủ quan.
1.4. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh với tình
hình và nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn nói trên
Việc phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài
sản chỉ ra rằng không thể nhận thức, hiểu biết được nguyên nhân và điều kiện
đó mà thiếu hiểu biết về tình hình tội này vốn được hiểu là tổng thể các
trường hợp phạm tội cướp giật tài sản đã xảy ra và những người đã thực hiện
chúng đã bị xét xử về hình sự về tội này. Việc hiểu biết nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội cướp giật tài sản cũng sẽ không đầy đủ nếu không nhận
16
thức đúng các dấu hiệu (đặc điểm) của nó như tính xã hội, tính giai cấp, tính
lịch sử cụ thể, tính pháp lý hình sự, tính không gian và tính thời gian. Việc
hiểu biết nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản đòi hỏi
phải làm sáng tỏ các thông số phản ánh tình hình tội phạm hiện và tình hình
tội phạm ẩn của tình hình nói trên.
Nói cách khác, tình hình tội cướp giật tài sản vừa là cơ sở lý luận, vừa
là cơ sở thực tiễn để phân tích, đánh giá nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội này. Đồng thời việc phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình
tội cướp giật tài sản là không thể được nếu thiếu hiểu biết và cân nhắc đến
nhân thân người phạm tội, bản chất các đặc điểm và quá trình hình thành nó.
Nhân thân người phạm tội là một bộ phận cấu thành tất yếu và rất quan trọng
của cơ chế hành vi tội phạm. Còn các hoàn cảnh, sự hình thành các đặc điểm
tâm lý xã hội tiêu cực của cá nhân xuất hiện trước các đặc điểm của cá nhân
cướp giật tài sản với các khái niệm khác trong tội phạm học. Qua phân tích
những nội dung trên có thể rút ra những nội dung chính sau:
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý tiêu cực, được
thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất (hệ
thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và
khoảng thời gian nhất định.
Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, trước hết đó là sự
tương tác của những hiện tượng, quá trình xã hội tiêu cực trong xã hội với con
người, hình thành ở họ đặc điểm nhân cách lệch chuẩn (tiêu cực).
Nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm còn là những nhân tố xã
hội thuộc về cá nhân và những tình huống môi trường bên ngoài trong sự
tương tác lẫn nhau của chúng, quyết định sự hình thành động cơ và sự quyết
tâm thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi cướp giật tài sản cũng như mọi hành vi khác của con người,
18
suy cho cùng là kết quả của sự tác động lẫn nhau của cá nhân cụ thể nào đó và
hoàn cảnh khách quan bên ngoài. Trong sự tác động đó, quyết định thực hiện
hành vi cướp giật được thông qua và được thể hiện trong thực tế. Nguyên
nhân trực tiếp của việc thực hiện hành vi cướp giật thể hiện các nhu cầu, lợi
ích, quan điểm, quan hệ, hệ thống các định hướng và tính động cơ của cá
nhân đó; mặt khác thể hiện một cách tổng thể các hoàn cảnh bên ngoài quyết
định sự hình thành động cơ và sự quyết tâm thực hiện tội phạm.
Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình cướp giật tài sản là
những nhân tố xã hội thuộc về con người như thích hưởng thụ, ngại lao động,
thích kiếm tiền nhanh chóng và những tình huống thực tế bên ngoài như bị hại
sơ hở tài sản, sự lôi kéo rủ rê của các đối tượng xấu.
Do vậy, khi nghiên cứu về nguyên nhân, điều kiện tình hình tội cướp
giật tài sản phải nghiên cứu tất cả các yếu tố bắt nguồn từ khía cạnh xã hội và
chức, người lao động nói riêng về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
cướp giật tài sản ngày càng được nâng cao, góp phần hữu hiệu vào phòng
ngừa tình hình tội này trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nơi trước đây và
hiện nay tình hình tội này mặc dù diễn biến khá phức tạp, song đã giảm nhiều.
Tuy nhiên, ở mức độ nhất định có thể khẳng định, các biện pháp nhằm nâng
20