Triết lý nhân sinh trong văn hoá ứng xử của người dân nam bộ - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

LÊ PHƯƠNG THANH

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------

LÊ PHƯƠNG THANH

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ

Chuyên ngành : Triết học
Mã số

: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN CHÍN



DANH MỤC CHỮ TỪ VIẾT TẮT

GS

: Giáo sư

NQ

: Nghị quyết

Nxb

: Nhà xuất bản

PGS

: Phó Giáo sư

TS

: Tiến sĩ

TW

: Trung ương

UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn

1.2.2. Lối sống của người dân Nam Bộ ................................................... 32
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 42


Chương 2: BIỂU HIỆN TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ ............................................................ 43

2.1. Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng của người dân Nam Bộ với
tự nhiên .................................................................................................. 43
2.1.1. Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam
Bộ với tài nguyên thiên nhiên ..................................................... 43
2.1.2. Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam
Bộ với bảo vệ môi trường thiên nhiên ........................................ 51
2.2. Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ
với môi trường xã hội............................................................................ 59
2.2.1. Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam
Bộ giữa con người với con người ............................................... 59
2.2.2. Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam
Bộ giữa con người với cộng đồng xã hội ................................... 74
2.3. Những giá trị và hạn chế triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử
của người dân Nam Bộ ......................................................................... 86
2.3.1. Những giá trị ................................................................................. 86
2.3.2. Những hạn chế .............................................................................. 90
2.3.3. Những giải pháp nhằm phát huy giá trị tốt đẹp về triết lý nhân
sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ giai đoạn
hiện nay ....................................................................................... 93
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................ 104
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 109



2
lực chất lượng cao thiếu về số lượng, thấp về chất lượng, chưa đáp ứng nhu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa;…
Tình trạng nói trên cũng có nguyên nhân từ triết lý sống, phản ánh
trong thực tế rằng tư duy và lối sống của một bộ phận người Việt ở Nam Bộ
có những điểm hạn chế, thậm chí có cả yếu tố tiêu cực như: tản mạn, cục bộ,
thiếu căn bản lý luận và tri thức khoa học, kinh nghiệm chủ nghĩa, lối sống
thực dụng, cá nhân,… Những hạn chế này là vật cản đối với yêu cầu đổi mới,
hội nhập phát triển của vùng đất Nam Bộ và cả nước.
Để phát huy những ưu điểm tích cực, khắc phục những hạn chế như đã
nói trên, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nguồn nhân
lực phục vụ cho quá trình đổi mới và hội nhập ở Nam Bộ, cần thiết phải
nghiên cứu cộng đồng người Việt ở Nam Bộ về biểu hiện triết lý nhân sinh
trong văn hóa ứng xử, phản ánh tư duy và lối sống truyền thống, những giá trị
tích cực và hạn chế của nó trước yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Đó cũng là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài “Triết lý nhân sinh trong
văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ” làm luận văn thạc sĩ triết học.
2. Lịch sử nghiên cứu
Chủ đề “Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam
Bộ” chưa được nghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ thống và toàn diện. Vấn
đề triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ mới được nhận diện, đề cập qua
một số bài viết của:
Đặng Trường Sơn, Nguyễn Thị Mỹ Hòa (2014), “Triết lý nhân sinh
trong đờn ca tài tử Nam Bộ”, Tạp chí khoa học Cần Thơ, (4), tr. 35-36. Trong
bài viết này, ngoài việc đề cập sơ lược nguồn gốc hình thành và phát triển của
đờn ca tài tử Nam Bộ, tác giả tập trung phân tích những triết lý nhân sinh tiêu
biểu qua việc khảo cứu lời của một số bài bản đờn ca tài tử, từ đó chỉ ra
những giá trị triết lý trong đời sống hiện thực của người dân Nam Bộ. Những



4

Trên thực tế, có không nhiều những tài liệu nghiên cứu trực tiếp về triết
lý nhân sinh của người dân Nam Bộ một cách hệ thống và tương đối hoàn
chỉnh. Những tài liệu trên đây bước đầu nhận diện những đặc trưng cơ bản về
triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ, phản ánh tư duy và lối sống mang
nét văn hóa đặc thù thể hiện trên một số lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, các
nghiên cứu này chưa có tính nhất quán cao, do đó cũng chưa có hệ thống giải
pháp đồng bộ để phát huy, phát triển các mặt ưu điểm trong triết lý nhân sinh
của người dân Nam Bộ, nhất là ảnh hưởng của nó đối với vấn đề đào tạo
nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Từ những kết quả nghiên cứu bước đầu nêu trên, chúng tôi kế thừa và
tiếp thu có chọn lọc để tiếp cận nghiên cứu về “Triết lý nhân sinh trong văn
hóa ứng xử của người dân Nam Bộ”.
Thực ra, đề cập về triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ, ngoài các
bài nghiên cứu đã nêu ở trên, chúng tôi còn tìm thấy bài viết của Lê Quang
Hiền (2014), “Vài suy nghĩ về triết lý sống của người dân Nam Bộ”, Tập san
Nghiên cứu văn hóa Đồng Nai và Cửu Long, (9). Trong đó, người viết đưa ra
một số nét đặc thù của con người Nam Bộ gồm: vì lợi ích con người; thực
tiễn, thực dụng; coi trọng tương quan; năng động, sáng tạo; đoàn kết, đùm bọc
nhau; dung hợp, hài hòa; yêu nước. Để minh chứng cho tư duy, cách ứng xử
mang nét đặc thù của người Nam Bộ, người viết đã lấy trường hợp của
Nguyễn Đình Chiểu, Petrus Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản làm tiêu biểu.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, giá trị học thuật của bài viết này không cao và
chúng tôi cũng bác bỏ hoàn toàn những quan điểm cá nhân mà người viết đưa
ra. Bởi vì, những quan điểm cá nhân của tác giả bày viết này mang yếu tố
xuyên tạc hiện thực một cách có chủ ý. Do đó, chúng tôi xác định loại bỏ bài
viết này ngay từ đầu, đồng thời cảnh báo những ai tiếp cận với bài viết này,
dù với mục đích gì, cần hết sức tỉnh táo.

6

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong vùng văn hóa Nam Bộ
giai đoạn hiện nay; với chủ thể chính được đề cập là tộc người Việt.
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử; phương pháp phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, đối chiếu, so sánh…
kết hợp sử dụng thêm tư liệu lịch sử, văn hóa học, văn học (thơ, truyện ngắn,
ca dao,…) để làm rõ các luận giải đề cập trong nội dung nghiên cứu.
9. Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
9.1. Các luận điểm chính của luận văn
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội đặc thù có ảnh hưởng quan
trọng đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân
Nam Bộ.
Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ với
môi trường tự nhiên, tính chất hòa hợp và thích nghi có phần nổi trội hơn so
với tính chất chế ngự và thống trị.
Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử giữa người với người của
người dân Nam Bộ thể hiện đậm nét tinh thần trọng nghĩa, chân thành, giản
dị, thực tế và phóng khoáng.
Trong quan hệ ứng xử với cộng đồng xã hội của người dân Nam Bộ nổi
bật lên triết lý sống dung hòa và tinh thần yêu nước sâu sắc.
Với giá trị nhân bản đậm nét, những ưu điểm triết lý nhân sinh trong
văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ cần thiết được phát huy trong giai
đoạn hiện nay nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
9.2. Đóng góp mới của luận văn
9.2.1. Về mặt lý luận
Cung cấp căn cứ lý luận, góp phần nâng cao nhận thức về lịch sử hình

Trong đó, có điều kiện sống, có những thế ứng xử phù hợp. Thông qua những
phương thức hoạt động khác nhau của ý thức, bao gồm lý trí, tình cảm, tâm
linh mà khoa học, kĩ thuật, công nghệ, nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo, đạo
đức, lối sống… ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, văn hóa
được hình thành và phát triển.
Văn hóa là sản phẩm của ý thức, xuất hiện và phát triển cùng với sự hình
thành và phát triển của xã hội loài người, làm cho con người trở thành người
và ngày càng người hơn. Do đó, văn hóa trở thành một hiện tượng phổ biến
gắn liền với mọi mặt của đời sống, tạo nên sự phát triển toàn diện trong bản
thân từng con người, bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực, mọi mối quan hệ với
gia đình, xã hội, tự nhiên, ước mơ, lý tưởng, niềm tin…
Như vậy, khẳng định ý thức là nguồn gốc của sự hình thành, phát triển
văn hóa, là nguồn gốc cơ bản của sự hình thành, phát triển yếu tố người
trong con người thì cũng có nghĩa là, nơi nào và lúc nào đang tồn tại sự vô
ý thức thì có thể sẽ dẫn đến tình trạng mất văn hóa. Rõ ràng, ở đâu có sự


9
tác động có ý thức của con người thì ở đó có văn hóa. Vì vậy, quanh chúng
ta đâu đâu cũng có thể thấy sự tồn tại của văn hóa. Tuy nhiên, văn hóa
không phải bản thân sự vật, hiện tượng cụ thể, mà là cái nằm bên trong sự
vật, hiện tượng mang tính trừu tượng. Do đó, muốn nói rõ cái nằm bên
trong mang tính trừu tượng như vậy là không đơn giản. Thực tế, văn hóa là
một khái niệm rộng, được xem xét dưới nhiều góc độ, rất khó để định nghĩa
một cách nhất nghĩa.
Có vô số cách định nghĩa khác nhau về văn hóa, với nhiều cách lý giải
khác nhau. Mỗi định nghĩa được hình thành trên cơ sở xem xét văn hóa thuộc
một lĩnh vực cụ thể nhất định, mỗi định nghĩa vạch ra các phương diện riêng
biệt của hiện tượng đa chiều đa khía cạnh này.
Nguyễn Nghĩa Trọng, khi phân tích khái niệm văn hóa đã dẫn lại định

tộc người khác” [60, tr.17].
Trần Ngọc Thêm cho biết: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình” [77, tr.27].
Giáo sư Trần Quốc Vượng, trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam đã
nhắc lại quan điểm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về văn hóa như sau:
“Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao
gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người
trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử…
cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất
của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm
chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý
thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức
chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [99, tr.21-22].


11
Có thể thấy, tùy vào quan điểm và góc độ tiếp cận mà mỗi định nghĩa
nhấn mạnh một khía cạnh nào đó của văn hóa. Song, các định nghĩa đều cho
thấy bản chất của văn hóa chính là làm cho hành vi, cuộc sống của con người
đẹp hơn lên. Và với ý nghĩa đó, có thể nói văn hóa, hiểu một cách bao quát
chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích
lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, qua mối quan hệ giữa con người với
con người, con người với môi trường tự nhiên và xã hội bằng ý thức và sự tự
giác cao nhất của mình.
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi chọn cách hiểu về văn hóa theo
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt

thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của
cá nhân, nhóm xã hội, toàn xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc
trưng, bản sắc của văn hóa một dân tộc, một quốc gia… được cá nhân, nhóm
xã hội, cộng đồng, toàn xã hội, thừa nhận và làm theo” [24, tr.34].
Ta thấy, ứng xử văn hóa của cá nhân phụ thuộc vào sự hiểu biết, kinh
nghiệm và yếu tố văn hóa của xã hội mà cá nhân đó đang sống. Đó là tập hợp
thái độ, hành vi, lời nói thích hợp trong quan hệ giao tiếp giữa người với
người, giữa người với thiên nhiên; là phản ứng của con người trước sự tác
động của người khác hay môi trường tự nhiên trong tình huống cụ thể; là biểu
hiện bản chất nhân cách của mỗi cá nhân thông qua ngôn từ, cử chỉ, thái độ,
hành vi trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Thế ứng xử của con người
không diễn ra một cách tùy tiện, ngẫu hứng ở mỗi cá nhân mà được lặp lại
thường xuyên bởi nhiều người trong cả không gian lẫn thời gian, tạo thành
những khuôn mẫu nhất định, thường gọi là khuôn mẫu ứng xử.
Khuôn mẫu ứng xử là sự thống nhất về hành động và cảm nghĩ được


13
thực hiện ở đa số người, là thế ứng xử được tổng quát hóa, tiêu chuẩn hóa,
hợp thức hóa làm chuẩn mực phân biệt hành vi (ứng xử) chấp nhận được và
hành vi không chấp nhận được trong cộng đồng. Như vậy, ứng xử theo khuôn
mẫu có thể xem là ứng xử có văn hóa. Vì, khuôn mẫu ứng xử là sự khách thể
hóa những kiến thức, tư tưởng, tình cảm đã được đạt, mong muốn đạt được và
đã được tiêu chuẩn hóa, hợp thức hóa trong một nền văn hóa nhất định. Nói
cách khác, khuôn mẫu ứng xử là yếu tố then chốt để làm căn cứ cho sự xếp
loại, đánh giá cách ứng xử, và là những tiêu chuẩn trong các mối quan hệ để
đảm bảo sự hiện tồn và phát triển của xã hội. Vì thực tế, trong đời sống hằng
ngày, trên cơ sở các quan hệ vật chất, các cá nhân và các nhóm xã hội phải
ứng xử với nhau và ứng xử với tự nhiên theo những quy tắc nào đó để tồn tại
và phát triển. Và trong vô số thế ứng xử đó, con người sẽ tổng quát hóa, tuyển

ứng xử có những đặc điểm sau:
- Tính giá trị: văn hóa ứng xử miêu tả những hành vi được chấp nhận hay
không được chấp nhận trong xã hội. Tính giá trị để phân biệt giữa giá trị với
phi giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
- Tính cộng đồng xã hội: văn hóa ứng xử không thể tồn tại do chính bản
thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại, củng cố và vun đắp
của mọi thành viên trong xã hội. Tính xã hội quy định sự phổ quát chung các
khuôn mẫu ứng xử mang tính chuẩn mực, được cộng đồng xã hội thừa nhận
và tôn trọng, cung cấp mọi phương diện cần thiết để mỗi cá nhân ứng xử với
môi trường tự nhiên và xã hội.
- Tính nhân sinh: tính nhân sinh cho phép phân biệt ứng xử như một hiện
tượng xã hội với các giá trị tự nhiên. Do có tính nhân sinh, văn hóa ứng xử trở
thành sợi dây nối liền con người với con người, liên kết các thành viên trong
cộng đồng xã hội lại với nhau.


15
- Tính địa phương (vùng, miền): văn hóa ứng xử phản ánh nếp suy nghĩ
và cảm nhận của cộng đồng cư dân mỗi vùng, miền mà người thuộc vùng,
miền khác không dễ gì thấu hiểu hết được. Nhưng tính địa phương không trái
với tính dân tộc. Dân tộc là một cộng đồng, cố kết với nhau ở giai đoạn dân
tộc (quốc gia) được hình thành. Những sắc thái địa phương có nét riêng và nét
chung đều hợp lại với nhau và nâng lên thành sắc thái dân tộc, bảo lưu cái
riêng mà tôn thêm cái chung.
- Tính lịch sử: do văn hóa ứng xử là sản phẩm của một quá trình và được
tích lũy qua nhiều thế hệ cho nên nó mang tính lịch sử cao và tương đối bền
vững. Tính lịch sử tạo cho văn hóa ứng xử có bề dày và chiều sâu. Chính vì
vậy, những quan niệm trong văn hóa ứng xử không dễ gì phá bỏ được trong
một sớm một chiều dù cho bối cảnh xã hội có đổi thay.
- Tính kế thừa và tiến hóa: văn hóa ứng xử là sản phẩm của một quá

Trong Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh, triết lý được hiểu là
“Đạo lý về triết học” [3, tr.863]. Trong Từ điển tiếng Việt của Việt Ngôn ngữ
học, triết lý được hiểu theo hai nghĩa: một là “Lí luận triết học”; hai là “Quan
niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội” [94, tr.1069].
Đề cập về triết lý trong bài nghiên cứu “Triết lý nhân sinh của Nguyễn
Bỉnh Khiêm trong tác phẩm Bạch vân quốc ngữ thi tập”, PGS.TS Nguyễn Thị
Thọ nêu lại định nghĩa triết lý của GS Hoàng Trinh như sau: “Triết lý là những
nguyên lý đầu tiên, những tư tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm
tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã
hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong
các hành động sống hàng ngày… có những dân tộc đã có những triết lý từ lâu
mặc dầu chưa có triết học với hệ thống khái niệm của nó” [84, tr.13]. Đồng
thời, PGS.TS Nguyễn Thị Thọ cho rằng: “Hầu như, tất cả mọi quốc gia, dân
tộc trong tiến trình lịch sử lâu dài của mình thường bao giờ cũng có ít hoặc


17
nhiều những bộ óc thông thái thuộc các lĩnh vực khác nhau đó là nhà văn, nhà
thơ, nhà sử học, nhà hoạt động chính trị xã hội,… và cả những trí thức bình
dân thông tuệ. Ở những giai đoạn phát triển của lịch sử, triết lý là sự suy
ngẫm, đúc kết, tổng kết những điều cơ bản nhất về các mối quan hệ trong đời
sống thực tế, mọi mặt của cộng đồng, sự chiêm nghiệm rút ra những quy luật
khách quan của tự nhiên, phục vụ cho thực tiễn của đời sống” [84, tr.14].
Dân tộc Việt Nam có triết lý, và có cả triết lý bình dân. Nền triết lý bình
dân ấy không khác về nội dung so với triết bác học của những nhà tư tưởng có
bộ óc thông thái, mà chỉ khác về trình độ và ngôn ngữ (nói đúng hơn là
phương thức diễn đạt). Vì sao nói như vậy? Vì triết lý bình dân của dân tộc
Việt Nam tìm cái phi thường trong những cái rất bình thường. Chỉ bằng chiếc
bánh chưng bánh giày rất bình thường và quen thuộc mà người Việt Nam có
thể diễn đạt được cả đạo trời, đạo đất, đạo người. Đó chính là khả năng diễn

thường bảo nhau cái “đạo lý ở đời” là phải như thế này như thế kia, đạo làm
cha, đạo làm con, đạo vợ chồng,… và phải sống sao cho phải đạo. Những đạo
lý để khuyên răn, dẫn lối cho con người trong cuộc sống chính là triết lý được
đúc kết từ quá trình suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhiều thế hệ. Những đạo lý
ấy thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến trong cộng đồng xã hội,
được chứng minh tính đúng đắn bằng chính thực tiễn đời sống xã hội nên
được chấp nhận một cách tự nhiên của đại đa số.
Đến đây chúng ta có thể tạm kết luận rằng, triết lý là những quan niệm
cơ bản, cốt lõi nhất về cuộc sống được đúc kết từ sự tư duy, suy ngẫm, chiêm
nghiệm trong hoạt động thực tiễn đa dạng của con người trong xã hội, thể
hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm của một cộng đồng, khẳng định những
chân giá trị và có tác dụng định hướng cho cách ứng xử, phương châm sống,
suy nghĩ và hành động của con người trong đời sống xã hội.
1.1.2.2. Triết lý nhân sinh
Trong Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh, nhân sinh là “Đời



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status