ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
HÀ THỊ THƢƠNG
Tên chuyên đề:
QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG LỢN NÁI VÀ LỢN CON
TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN XUÂN DŨNG – BA VÌ – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2012 - 2016
Thái Nguyên, 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trong quá trình hướng tới thành công của mỗi con luôn có sợ giúp đỡ,
hỗ trợ của những người xung quanh. Và để có được kết quả của ngày hôm
nay ngoài sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân, em đã nhận được sự chỉ bảo
giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên cũng như sự giúp đỡ nhiệt tình của trại chăn nuôi Nguyễn
Xuân Dũng. Vì vậy em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:
Bán giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm
khoa cùng quý thầy cô khoa Chăn Nuôi Thú Ý đã tận tình truyền đạt vốn kiến
thức quý báu cho chúng em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Dũng – Ba Vì – Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ và chỉ bảo nhiều kiến thức thực tế, giúp em hoàn thành tốt quá trình
thực tập tại trại.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Lê Minh
Châu đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè,
những người luôn ở bên và ủng hộ em giúp đỡ em hoàn thành tốt nhất khóa
luận tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày
tháng
Sinh viên
Hà Thị Thƣơng
năm 2016
MMA
: Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú, viêm tử cung
và mất sữa
Nxb
: Nhà xuất bản
PED
: Porcine Epidemic Diarrhoea – Dịch tiêu chảy cấp trên lợn
PRRS
: Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội chứng
rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
STT
: Số thứ tự
TT
: Thể trọng
iv
MỤC LỤC
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 32
3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................... 32
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện ...................................... 32
3.4.1Các chỉ tiêu theo dõi ................................................................................ 32
3.4.2 Phương pháp thực hiện........................................................................... 32
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 45
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại ............................................ 45
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại ....................................... 46
4.3 Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái
và lợn con tại trại. ............................................................................................ 47
4.4 Kết quả thực hiện công tác xác đinh lợn nái lên giống và phối giống. ..... 50
4.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất khác ................................................... 51
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 52
5.1. Kết luận .................................................................................................... 52
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 54
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta hiện nay đang hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới, nhằm
đưa kinh tế nước ta phát triển nhanh hơn mạnh hơn Đảng và Nhà nước đã đưa
ra nhiều chính sách mới trong sự phát triển của đất nước, đặc biệt quan tâm
chú trọng cho phát triển ngành chăn nuôi. Với tiền đề là một nước nông
nghiệp đi lên cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước cũng
như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chăn nuôi đang có những bước trở mình
mạnh mẽ. Không những giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn đang góp
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu
Trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Dũng thuộc địa bàn thôn Hương Canh,
xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Về địa lý, Khánh Thượng là xã miền núi nằm ở sườn tây núi Ba Vì, với
diện tích tự nhiên 2882,43 ha. Cách trung tâm huyện Ba Vì trên 35 km, cách
trung tâm thành phố Hà Nội 82km. Xã có địa bàn giáp gianh với 2 tỉnh (phía
Đông Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Tây cách con sông Đà là tỉnh Phú Thọ) có
trục đường giao thông Sơn Tây - Chẹ - Hợp Thịnh - Kỳ Sơn - Hoà Bình đi qua.
Dân số có 1.852 hộ với 8.219 nhân khẩu (tính đến 20/7/2011) được
phân bổ trên 13 thôn, làng trong xã, gồm 03 dân tộc cùng chung sống là Kinh,
Mường, Dao; trong đó dân tộc Mường chiếm 62% toàn xã.
Về khí hậu, Khánh Thượng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh
hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào
tháng 10 với nhiệt độ trung bình 23oC, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung
bình cao nhất là 28,6 oC. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3
với nhiệt độ xấp xỉ 20oC, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,8oC.
2.1.2. Quá trình thành lập
Trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Dũng là trại lợn gia công cho công ty CP
Việt Nam, nằm tại thôn Hương Canh, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội. Trại được xây dựng năm 2014 và đưa vào sản xuất từ năm 2015
cho đến nay, với quy mô xây dựng cho tổng số nái là 2000 con. Hoạt động
theo phương thức chủ trại đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân,
công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật.
5
bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống
cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh.
Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và
kho cám.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 quản lý trại.
02 kỹ thuật.
02 tổ trưởng (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu).
01 bảo vệ
14 công nhân (4 công nhân chuồng bầu, 6 chuồng đẻ, 1 cách ly và 3
công nhân vệ sinh)
02 cấp dưỡng
2.1.5. Tình hình sản xuất của trại
* Công tác chăn nuôi
Đặc điểm là trại gia công nên nhiệm vụ chính của trại là sản xuất giống
thương phẩm, xuất bán cho các trại nuôi lợn thịt.
Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2 – 2,5 lứa/năm. Số
con sơ sinh là 10,83 con/đàn, số con cai sữa: 9,18 con/đàn.
Tại trại, lợn con sẽ được nuôi theo mẹ cho đến khoảng 19 đến 21 ngày
tuổi, những lợn con chưa đủ khối lượng sẽ được ghép đàn nuôi với những đàn
có số ngày tuổi nhỏ hơn, còn những lợn con đã quá ngày suất bán nhưng chưa
có đợt sẽ được nhốt sang chuồng cai sữa. Những lợn con này sau đó sẽ được
chuyển tới các trang trại nuôi lợn thịt.
Trong trại có 19 lợn đực giống Duroc được công ty cung cấp theo nhiều
đợt đã được huấn huyện nhằm mục đích khai thác tinh và kích thích sự lên
. Sự thành thục về tính
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh
dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, con
7
vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năng
thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ, biểu hiện của con vật là lông
mượt, tai thính, thường xuyên phá chuồng và nhảy lên lưng những con khác.
Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, tính biệt và
các điều kiện ngoại cảnh như chăm sóc nuôi dưỡng.
- Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:
những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống
thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn
những giống có tầm vóc lớn.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầu
tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4-5 tháng khi khối lượng đạt từ 2025kg. Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở
lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50-55kg. Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc
động dục 6-7 tháng khi lợn có khối lượng 60-80kg. Tuỳ theo giống, điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau. Lợn
ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4-5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi)
các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn
hơn từ 7-8 tháng tuổi.
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý
tốt thì gia súc phát triển tốt, sự thành thục về tính sớm hơn và ngược lại.
- Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính gia
xuất hiện trạng thái rụng trứng như trên thì toàn bộ cơ thể cũng như cơ quan
sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo, chức năng sinh
lý. Các biến đổi lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên được gọi là chu kỳ động
dục (chu kỳ tính).
9
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [28], chu kỳ tính của lợn nái thường
diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày. Thời gian động dục thường kéo dài
khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia
làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực
(phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc).
Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa
cho phối và lợn chưa chịu đực. Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên
đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35-40h, với lợn nội là 25-30h.
Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên
lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên
khi có đực đến gần và cho đực nhảy. Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được
phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30h.
Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,
đuôi cụp và không chịu đực.
- Thời điểm phối giống thích hợp
Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2-3h.
Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30-48h. Thời điểm phối giống thích hợp
nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và
sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục.
Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ
3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn. Thời điểm phối giống có ảnh
hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con. Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả
yên tiết ra kích tố Oxytocin, kích tố Oxytocin đến tuyến bào kích thích làm
cho lợn nái tiết sữa.
Qua theo dõi, sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau
cũng không giống nhau, các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất
tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn. Theo Trương Lăng (2000)[16] cho
biết: Vú phía trước lượng sữa tiết nhiều hơn (nên cố định cho lợn con sơ sinh
11
có khối lượng kém bú), vì Oxytocin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm
hơn, kéo dài hơn lên vú trước nhiều sữa hơn.
Sản lượng sữa của lợn nái phụ thuộc vào số lợn và chất lượng thức ăn
vì thế trong giai đoạn lợn nái nuôi con thì thức ăn cho lợn nái cần đủ chất dinh
dưỡng. Chăm sóc lợn nái ăn với khẩu phần đẩy đủ chất dinh dưỡng không
những nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn nái.
Ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa
mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn nái qua khối lượng đàn con.
Theo Trương Lăng, (2003)[17], sữa lợn nái là nguồn thức ăn có đầy đủ
chất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh bằng và thay thế
được. Do đó để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trong
thời gian bú sữa.
2.2.2 Đặc điềm sinh lý của lợn con theo mẹ
Đặc điềm bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ
Sau khi sinh, trong thời gian bú mẹ trọng lượng bộ máy tiêu hóa của lợn
con tăng từ 10 – 15 lần, chiều dài của ruột non tăng lên gấp 5 lần so với lúc mới
sinh. Dung tích của bộ máy tiêu hóa cũng tăng từ 40 đến 50 lần. Ở ngày tuổi
thứ 30 trọng lượng của tuyến tụy tăng lên 4 lần và gan tăng lên 3 lần so với lúc
mới sinh. Lúc mới sinh dạ dày của một lợn con trung bình nặng từ 6 – 8 gam
điều khiển thân nhiệt năm chưa hoàn thiện. Trong thời gian này lợn con có khả
năng điều hòa thân nhiệt do sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như
sự thay đổi tư thế của lợn. Vì vậy cần phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không
bị lạnh.
Đặc diểm về khả năng miễn dịch
Lợn con sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể, song lượng
kháng thể trong máu lợn con tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu,
cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động. Nó phụ
thuộc vào lượng kháng thể hấp thu nhiều hay ít từ sữa mẹ. Quá trình hấp thu
13
nguyên vẹn γ-globulin bi giảm nhanh theo thời gian. Lợn con có thể hấp thu
nuyên vẹn phân tử γ-globulin vì trong sữa đầu có kháng men Antitripsin nó làm
mất hoạt lực của men Tripsin của tuyến tụy. Đồng thời khoảng cách giữa các tế
bào vách ruột của lợn con rất lớn nên phân tử γ-globulin được chuyển qua bằng
đường ẩm bào. Xuất phát từ đó chúng ta thấy rằng cho lợn con bú sữa đầu là rất
quan trong và việc cho bú càng sớm càng tốt (Nguyễn Thiện và cs, 2005) [30].
2.2.3 một số bệnh thường gặp ở lợnnái và lợn con theo mẹ tại trại
Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Lợn
nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc
bệnh phụ thuộc vào yếu tốt vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu thực vật ở
mỗi vùng là khác nhau. Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó
phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn
thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm. Mặt khác, một số bệnh
truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường
viêm tử cung là do vi khuẩ n tu ̣ cầ u vàng(Staphylococcus aureus), Liên cầu dung
huyế t (streptococcus hemolitica) và các loạiProteus vulgais, Klebriella, E.coli….
Theo Lê Văn Năm và cs
(1999) [18] cho rằ ng , có rất nhiều nguyên
nhân từ ngoa ̣i cảnh gây bê ̣nh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiê ̣p
đỡ đẻ bằ ng du ̣ng cu ̣ hay thuố c sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đế n Muxin của chấ t
nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kế t hơ ̣p với viê ̣c chăm sóc
nuôi dưỡng bấ t hơ ̣p lý và thiế u vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá triǹ h thu teo si nh
lý của dạ con (trong điề u kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khố i lươ ̣ng
kích thước ban đầu khoảng 3 tuầ n sau đẻ ). Đây là điề u kiê ̣n tố t để vi khuẩ n
xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bênh . Biế n chứng nhiễm trùng do vi khuẩ n xâm
nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và
do thu ̣ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t.
Bê ̣nh còn xảy ra do thiế u sót về dinh dưỡng và quản lý
: Khẩ u phầ n
thiế u hay thừa protein trước , trong thời kỳ man g thai có ảnh hưởng đế n viêm
15
tử cung. Lơ ̣n nái sử du ̣ng quá nhiề u tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây
xát. Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đế n viêm tử cung
- Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt
tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang
vàng hay trắng và trong. Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai.
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu.
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone
giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó
bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát
triển kém hoặc chết lưu.
+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn
sữa. Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị
tiêu chảy, còi cọc.
+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể
vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone.
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở
lại được và không thải trứng được.
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau
khi sinh đẻ. Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ
sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử cung là một trong
các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi
17
sống thấp. Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh
hưởng tới hoạt động của buồng trứng.
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ
cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân.
Bảng 2.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Thể viêm
Chỉ tiêu
Phân biệt
Sốt
Dịch
Màu
viêm
Mùi
Viêm nội
mạc tử cung
Viêm cơ
tử cung
Viêm tƣơng mạc
tử cung
Sốt nhẹ
Sốt nhẹ
Sốt cao
ra ngoài. Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau. Nó
không những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện
tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết.
- Nguyên nhân
+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không
tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang
thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém. Trong quá trình đẻ, sức rặn
đẻ của lợn yếu, thậm trí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy
thai ra ngoài.