HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG VĂN TẠO
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT,
ĐẶC TÍNH CHỊU HẠN VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN
CHO MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN GIA SÚC
TẠI NGHĨA ĐÀN, NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG VĂN TẠO
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT,
ĐẶC TÍNH CHỊU HẠN VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN
CHO MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN GIA SÚC
TẠI NGHĨA ĐÀN, NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 62.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS. TS. TRẦN ĐỨC VIÊN
2. GS. TS. VŨ CHÍ CƯƠNG
HÀ NỘI - 2015
Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ công nhân viên Công ty Rau quả 19/5 tỉnh
Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho tôi suốt thời gian thực hiện
đề tài.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
động viên, giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận án này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Tác giả luận án
Hoàng Văn Tạo
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ hòa thảo thí nghiệm
6
1.1.3
Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ đậu thí nghiệm
10
1.2
Tình hình nghiên cứu và chọn tạo cây thức ăn xanh trên thế giới và ở
Việt Nam
12
1.2.1
Trên thế giới
12
1.2.2
Ở Việt Nam
13
1.5.3
Đặc điểm địa hình
29
1.5.4
Đặc điểm khí hậu
30
1.5.5
Tài nguyên
31
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
33
2.1
Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
33
2.1.1
2.2.1
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu tính năng sản xuất và chất lượng của một
34
số giống cỏ và cây thức ăn gia súc cho bò sữatại huyện Nghĩa Đàn,
tỉnh Nghệ An
2.2.2
34
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của hạn đến một số chỉ tiêu liên quan khả
năng quang hợp của một số giống cỏ họ hòa thảo (Poaceae) và cây họ
đậu (Fabaceae) thức ăn gia súc cho bò sữa
2.2.3
Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của các mức bón đạm khác nhau đến khả
năng sản xuất của một số giống cỏ trên vùng đất Nghĩa Đàn, Nghệ An
2.2.4
39
Thí nghiệm 4: Xây dựng mô hình sản xuất của bộ giống cỏ thí nghiệm
tại vùng đất Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1
Đặc điểm quang hợp liên quan đến chịu hạn của một số cỏ họ hòa thảo
(Poaceae) và họ đậu (Fabaceae) thức ăn gia súc cho bò sữa
55
3.2.1
Cường độ quang hợp và các yếu tố liên quan qua các giai đoạn
55
3.2.2
Khả năng tích lũy vật chất khô của các giống qua các giai đoạn
64
3.3
Ảnh hưởng của các mức đạm bón khác nhau đến khả năng sản xuất
của một số giống cỏ trên vùng đất Nghĩa Đàn, Nghệ An
66
3.3.1
Ảnh hưởng của phân đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
66
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADF
: Xơ axit
CIAT
: Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế
CTAX
: Cây thức ăn xanh
NDF:
: Xơ trung tính
NS
: Năng suất
NSCX
: Năng suất chất xanh
NSVCK
34
2.2
Bộ giống cỏ/cây thức ăn trong Thí nghiệm 2
36
2.3
Các giống cỏ/cây thức ăn trong Thí nghiệm 3a
39
2.4
Các giống cỏ/cây thức ăn trong Thí nghiệm 3b
40
2.5
Ký hiệu các công thức thí nghiệm đối với các giống cỏ
42
2.5
Diện tích sử dụng trong thí nghiệm 4
56
3.6
Độ dẫn khí khổng của các giống ở các giai đoạn
59
3.7
Nồng độ CO2 trong gian bào của các giống ở các giai đoạn
60
3.8
Chỉ số SPAD của các giống ở các giai đoạn
61
3.9
Hiệu suất sử dụng lượng tử của hệ quang hóa II của các giống ở các
giai đoạn
62
3.10
Hiệu suất sử dụng nước của các giống ở các giai đoạn
Ảnh hưởng của mức phân bón đến một số chỉ tiêu nông học của hai
giống cỏ họ đậu
70
vi
3.14b
Ảnh hưởng tương tác của giống cỏ họ đậu và mức đạm bón đến một
số chỉ tiêu nông học
3.15a
70
Ảnh hưởng riêng rẽ của các mức bón phân đạm và giống đến tỷ lệ lá/
thức ăn xanh và năng suất của các giống cỏ hòa thảo
3.15b
Ảnh hưởng tương tác của các mức bón phân đạm và giống đến tỷ lệ
lá/thân và năng suất của các giống cỏ hòa thảo
3.16a
92
mức phân đạm bón khác nhau của giống cỏ họ đậu
3.20a
86
Thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong phần chất xanh thu cắt tại các
mức bón phân đạm khác nhau của các giống thí nghiệm
3.19b
83
Ảnh hưởng tương tác của giống và mức bón phân đạm đến năng suất
tổng số của giống cỏ họ đậu trong mùa khô
3.19a
79
Ảnh hưởng tương tác của giống và phân đạm đến năng suất tổng số
của giống cỏ hòa thảo trong mùa khô
3.18
78
Ảnh hưởng của các mức bón phân đạm và giống đến tỷ lệ lá/ thức ăn
xanh và năng suất của các giống cỏ họ đậu
Trang
1.1
Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm trung bình tại Nghĩa Đàn
30
2.1
Sơ đồ thí nghiệm 1
35
2.2
Phương pháp gây hạn trong thí nghiệm
37
2.3
Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm 3
43
3.1
Tương quan giữa các mức phân bón đạm với tốc độ sinh trưởng của
3.6
Mối tương quan giữa các mức phân đạm và hiệu suất sử dụng đạm của
năng suất khô của 2 giống cỏ hòa thảo
3.7
93
Chi phí sản xuất cỏ xanh và tỷ lệ giảm chi phí so với đối chứng của 2
giống cỏ họ đậu
3.11
82
Chi phí sản xuất 1kg cỏ xanh và tỷ lệ giảm chi phí so với đối chứng
của 2 giống cỏ hòa thảo
3.10
82
Mối tương quan giữa các mức phân đạm và hiệu suất sử dụng đạm của
năng suất khô của 2 giống cỏ họ đậu
3.9
81
98
Số là của giống cỏ P.M. Mombasa sau khi gieo 20 ngày đến khi thu
cắt của các lứa trong năm
3.15
98
Ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng đến số nhánh của giống cỏ
B. Mulato II qua các lứa cắt trong năm
3.16
Ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng đến số nhánh của giống cỏ P.M.
Mombasa qua các lứa cắt trong năm
3.17
99
Chi phí sản xuất cho 1 kg cỏ xanh trong sản xuất đại trà
ix
99
104
1
cây. Các loài cỏ có khả năng cho năng suất chất xanh rất cao trong 5 - 8 đợt cắt/năm
nên có yêu cầu rất cao về phân khoáng nhất là phân đạm.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống
thực hiện để lựa chọn được bộ giống cỏ phù hợp với điều kiện sinh thái (nhất là khô
hạn) tại huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An, cũng như có những giải pháp kỹ thuật canh tác
thích hợp giúp cây cỏ sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao đáp
ứng được với yêu cầu của kế hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện là việc làm
rất cần thiết và mang tính cấp bách hiện nay.
2. Mục tiêu của đề tài
- Tuyển chọn một số giống cỏ (hòa thảo và họ đậu) năng suất cao, chất lượng
tốt có khả năng chịu hạn, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của huyện
Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Xác định mức bón phân đạm phù hợp cho các giống cỏ được chọn lọc để
đảm bảo năng suất cao, chất lượng tốt và giá chi phí sản xuất thấp.
- Đánh giá khả năng phát triển của các giống cây thức ăn xanh (CTAX) đã
được chọn để đưa ra sản xuất đại trà.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả ngiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị về
khả năng sản xuất cũng như các đặc tính sinh lý của các giống cỏ làm thức ăn gia
súc trong điều kiện sinh thái khô hạn của Nghệ An để cho năng suất chất xanh đạt
chất lượng cao đáp ứng cho chăn nuôi bò sữa quy mô lớn. Và luận án là tài liệu
tham khảo có ý nghĩa về mặt khoa học cho công tác giảng dạy, nghiên cứu về đồng
cỏ và phát triển thức ăn gia súc trong điều kiện sinh thái hạn.
- Hoàn thiện được quy trình canh tác một số giống cỏ có triển vọng trên cơ
sở nghiên cứu xác định được mức phân bón đạm thích hợp cho cỏ đạt năng suất
cao, chất lượng tốt, quy trình được khuyến cáo áp dụng cho các cơ sở trồng cỏ trên
sản phẩm sạch phục vụ cho xã hội góp phần xây dựng ngành chăn nuôi bò sữa phát
triển ổn định và bền vững.
4. Những đóng góp mới về học thuật và lý luận của đề tài
- Xác định được giống cỏ: Brachiria MulatoII; P.M. Mombasa; Stylosanthes
3
CIAT 184; Stylosanthes Ubon có khả năng chịu được điều kiện khô hạn, năng suất
cao, chất lượng tốt trồng thích hợp trên vùng đất đỏ bazan và điều kiện thời tiết khí
hậu thuộc huyện Nghĩa Đàn, bổ sung vào bộ giống cây thức ăn cho gia súc ăn cỏ
của tỉnh Nghệ An.
- Xác định được mức bón phân đạm phù hợp, có hiệu quả kinh tế cao là 250
kg N/ha/năm đối với cỏ hòa thảo, 125 kg N/ha/năm đối với cây họ đậu trong sản xuất
thâm canh các giống cỏ chọn lọc phục vụ chăn nuôi bò sữa và làm cơ sở cho việc xây
dựng các quy trình trồng các giống cỏ trong phạm vi toàn tỉnh.
- Xác định được hướng phát triển thâm canh một số giống cỏ trong sản xuất
đại trà phục vụ chăn nuôi bò sữa của huyện Nghĩa Đàn làm cơ sở khuyến cáo rộng
ra các vùng chăn nuôi gia súc ăn cỏ trong toàn tỉnh.
5. Giới hạn của đề tài
- Đề tài được thực hiện từ năm 2010 - 2013, tại huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.
- Giống cỏ nghiên cứu: 15 giống cỏ (8 giống cỏ họ hòa thảo và 7 giống cỏ họ
đậu) là vật liệu nghiên cứu ban đầu để đánh giá và tuyển chọn.
- Lượng đạm bón khác nhau cho 1 số giống cỏ là biện pháp kỹ thuật nhằm
nâng cao năng suất và chất lượng phục vụ chăn nuôi bò sữa.
4
Chương 1
cho con người và là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm, làm phân xanh,
cây cảnh và cây thuốc. Các loài trong họ này phát triển đa dạng như nhóm cây mọc
thẳng, cây bụi, thân thảo, dây leo, dây leo thân thảo. Một đặc trưng nổi bật của các
loài cây thuộc họ Đậu đó là các loại cây chủ cho nhiều loài vi khuẩn cố định đạm
Rizhobium cộng sinh có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa
nó thành các dạng NO3 hay NH4 cho cây hấp thụ. Hoạt động này được gọi là cố
định đạm trong vai trò của cây chủ, còn vi khuẩn nốt rễ với vai trò của nhà cung cấp
nitrat có ích (Watson and Dallwitz,1992).
1.1.2. Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ hòa thảo thí nghiệm
1.1.2.1. Brachiaria sp.
Chi Brachiaria có khoảng hơn 100 loài phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới của phía Đông và Tây bán cầu nhưng chủ yếu là ở châu phi (Renvoize,
1987). Bởi loài lâu năm nhất có nguồn gốc tại Châu Phi gồm Brachiaria arrecta,
B.brizantha, B.decumbens, B.dictyoneura, B.humidicola, B.mutica và B.ruziziensis
được sử dụng làm cây thức ăn gia súc, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới châu Mỹ (Argel et
al., 2007).
Brachiaria brizantha: Được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới của châu
Phi từ mức 0 đến 2.400m so với mực nước biển, lượng mưa hàng năm hơn 800 mm
(Bogdan, 1977). Ở Đông Phi, Bogdan (1955) cho rằng B.brizantha có rất nhiều
giống khác nhau. Mỗi vùng sinh thái khác nhau có các giống đặc trưng khác nhau.
B.brizantha có khả năng chịu hạn tốt và sinh trưởng nhanh (Stomayor-Rios et al.,
1960). Brachiaria brizantha cho năng suất cao trên môi trường đất có độ pH thấp
(Stomayor-Rios et al., 1960).
Brachiaria ruziziensis: Thích nghi với vùng nhiệt đới ẩm (Whiteman, 1980).
Khả năng sinh trưởng yếu hơn so với cỏ Para và Signal grass, chịu bóng râm tốt.
Brachiaria mutica: là một loại cỏ thân bò lâu năm được trồng rộng rãi ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm với lượng mưa 1250mm cỏ này đã trở thành
nguồn cung cấp thức ăn quan trong của ngành công nghiệp thịt bò ở Nam và Trung
cỏ sả lá lớn ở vùng Đông Nam Bộ) là giống cỏ cho năng suất cao, chịu hạn khá,
chịu được bóng râm, dễ trồng, phù hợp với chân ruộng cao, đất pha cát, không chịu
được ngập úng (Lê Hà Châu, 1999).
1.1.2.3. Sorghum bicolor cv.
Sorghum bicolor (L) Moench, tên thường gọi là Sorghum và ở Việt Nam
thường gọi là cao lương. Sorghum bao gồm một số giống trồng chính để lấy hạt làm
7
lương thực cho con người, một số giống trồng làm thức ăn xanh cho chăn nuôi và
một số giống bao gồm cả 2 mục đích trên (Harada et al., 2000). Sorghum có nguồn
gốc ở phía Bắc Châu Phi và hiện nay đã được phát triển rộng rãi trên khắp các nước
vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới. Thuộc nhóm cây C4, dòng Sorghum bicolor bao
gồm các giống cây hàng năm và cây lâu năm, thân đứng mọc thẳng đứng, cứng và
có thể mọc cao từ 0,6 đến 5m và đường kính thân rộng từ 5 - 30mm. Hệ thống rễ tự
sinh và có thể ăn sâu tới 90cm. Phiến lá rộng, không có lông giống như lá ngô
nhưng chiều dài lá ngắn hơn và rộng hơn lá ngô. Hoa chùy dài khoảng 60cm mang
tới 6000 bông con, hạt nhỏ có kích thước đường kính từ 3-4mm (Balole et al.,
2006). Sự khác nhau giữa các giống thể hiện lớn nhất là ở đặc điểm thân cây từ hình
thái mỏng đến dầy hoặc thấp hay kết bụi (Rattunde et al., 2001).
Hiện tại Viện Nghiên cứu Cây lương thực Quốc tế cho vùng nhiệt đới khô
hạn ở Ấn Độ đang lưu giữ 36.000 dòng từ tất cả các giống Sorghum chính trong
vùng trên thế giới (Balole et al., 2006). Là giống thích ứng với biên độ nhiệt độ
rộng, thích ứng rộng với các độ cao, đất bị độc tố và là cây có đặc tính sinh trưởng
bù sau những giai đoạn khô hạn. Các giống Sorghum được sử dụng làm thức ăn cho
gia súc hiện nay bao gồm 4 giống:
Sorghum: sản xuất hạt là chính nhưng thân lá, rơm (bông chùm hạt) sau khi
thu hoạch hạt có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại là nhóm thân mọc
đứng cao từ 2-4m, thân dày và là giống đa mục đích (Magness et al., 1971).
Xô) và 40ovĩ độ Nam và các vùng cao 1000m so với mực nước biển (Ecoport,
2011). Nhiệt độ thích hợp cho Sorghum sinh trưởng là 25-30oC, giai đoạn phát triển
hạt là 30oC, lượng mưa trung bình trong thời gian sinh trưởng là 400 - 750mm,
trồng thích hợp trong điều kiện lên luống và trên đất có khả năng thoát nước nhanh,
đất có độ pH từ 5,5 - 7,5. Là cây chịu được điều kiện khô hạn cao là nhờ bộ rễ phát
triển mạnh và ăn sâu do vậy nó được trồng trên các loại đất mà không thể trồng ngô
được (FAO, 2011). Mức độ chịu mặn phụ thuộc vào từng giống khác nhau, giống
Sweet Sorghum có khả năng chịu được điều kiện mặn cao (Cook et al., 2005) và
một số giống chịu được đất mặn hơn các giống cỏ hòa thảo và một số giống có thể
chịu được ngập úng trong thời gian ngắn nhưng rất mẫn cảm với sương muối. Các
giống Sorghum phản ứng với phân bón khá cao nhất là phân đạm có thể bón đến
400 kg N/ha (NRC, 1996).
9
Năng suất xanh bình quân khoảng 20 tấn/lứa/ha (Balole et al., 2006) nhưng
có thể đạt 75 tấn/ha trong điều kiện sinh trưởng tối ưu. Trong điều kiện chăn thả độ
cao thảm không nên thấp hơn 15 cm, ít nhất độ cao đạt 0,45m (Undersander et al.,
2003) hoặc từ 0,8 đếm 1,1 m (Vignau et al., 2008). Tuy nhiên hàm lượng HCN
chứa trong thân lá Sorghum, nhất là thân lá non, sẽ gây ngộ độc cho gia súc ăn cỏ.
Hàm lượng HCN biến động từ 100-800 mg/kg VCK trong khi đó mức độ an toàn
cho gia súc khoảng 2mg/kg khối lượng gia súc (Pedersen et al., 2000). Một trong
những biện pháp kỹ thuật ủ chua hoặc làm cỏ khô là các giải pháp hữu hiệu tránh
ngộ độc thức ăn cho gia súc (Undersander et al., 2003).
Hàm lượng protein biến động từ 12,9 - 19% theo VCK và tùy thuộc vào
trạng thái sinh lý hoặc mục đích sử dụng. Ở trạng thái chín sáp hàm lượng protein ở
thân lá giảm mạnh chỉ còn khoảng 6,9%; hàm lượng ADF khoảng 31,2-37,4%
(INRA, 2007) khi ở trạng thái trưởng thành hàm lượng ADF có thể đến 40,3%
(Contreras et al., 2010).
đồng bằng Bắc Bộ, núi Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ (Nguyễn Thị Mùi, 2011).
Stylosanthes guianensis cv Ubon là giống cỏ cho năng suất khá cao, 13; 18
và 17 tấn VCK trong năm thứ nhất, thứ hai và năm thứ 3 tại Thái Lan và cao hơn
giống Stylo Verano từ 2-6 lần và là giống có khả năng sản xuất hạt cũng cao
(Sukkasame and Phaikaew, 2001). Giống cỏ cho NS VCK tương đương với giống
cỏ hòa thảo Brachiaria spp. Trong nghiên cứu của Hare et al. (2005) và Digitaria
milanjiana cv. Jarra trong các kết quả nghiên cứu của Hare et al. (2004). Hiện tại
giống cỏ họ đậu này đang được các hộ chăn nuôi ở Thái Lan lựa chọn và phát triển
(Hare et al., 2007).
1.1.3.2. Leucaena leucocephala
Keo dậu hay keo giậu (Leucaena leucocephala), là loại cỏ được trồng phổ
biến ở các vùng nhiệt đới trên thế giới, là nguồn thức ăn giầu protein quan trọng
trong chăn nuôi động vật nhai lại. Cỏ Leucaena leucocephala cho chất lượng cao,
ngon miệng, khả năng tiêu hóa và thành phần hóa học cân bằng, protein, khoáng và
axit amin (Jones, 1979). Hàm lượng chất xơ thấp và hàm lượng tannin vừa phải để
thúc đẩy quá trình phân giải protein (Wheeler, 1994).
11
1.2. Tình hình nghiên cứu và chọn tạo cây thức ăn xanh trên thế giới và ở
Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có tới hơn 11.000 giống cỏ tức là tính đa dạng sinh
học của các loài cỏ rất cao và có ý nghĩa rất lớn trong sự sống vì rất nhiều loài sinh
vật phụ thuộc vào nguồn thức ăn này. Trên thế giới nói chung và vùng Đông Nam
Châu Á nói riêng, một tập đoàn giống cỏ và cây thức ăn gia súc chất lượng cao đã được
chọn lọc và khẳng định tiềm năng của chúng trong sản xuất ở nhiều nước.
Ở miền Nam Thái Lan những hộ nông dân chỉ có 2 - 2,5 ha đã phát triển
và đến 1993 giống CIAT 184 đã phát triển tới 5200 ha và giống Stylo cv. Graham là
24.000 ha (Liu and Kerridge, 1997). Hàng năm diện tích trồng cỏ Stylo tăng 15-20%
riêng tỉnh Quảng Đông đã có hơn 100.000 hộ nông dân trồng cỏ Stylo cho chăn
nuôi đặc biệt là chế biến bột cỏ Stylo cho chăn nuôi gia cầm. Tại 2 tỉnh Quảng
Đông và Hải Nam, diện tích trồng ước tính 5000 ha với năng suất bột cỏ là 15
tấn/ha và người dân hàng năm đã thu được 140 $/1 tấn bột (Peters et al., 2001).
Nước Ấn Độ bắt đầu quan tâm chọn lọc và phát triển giống cỏ họ đậu Stylosanthes
vào năm 1974 với số lượng hạt giống ban đầu chỉ có 5 kg do Tổ chức Ngân hàng
thế giới giúp đỡ. Từ năm 1985 đến nay Ấn Độ đã tập trung vào các nghiên cứu
tuyển chọn giống thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là các giống
Stylo kháng được bệnh lở cổ rễ (Ramesh et al., 2004; Chakraborty, 2004; Rai and
Pathak, 1985) và các giống chịu được những vùng khô hạn (Rai and Pathak,1985).
Giống Stylo. Hamata và giống Stylo. Seabrana cho năng suất hạt cao và có khả năng
chống chịu sương muối. Giống Stylo. Scabra đã được sử dụng làm nguyên liệu
trong nghiên cứu để lai tạo ra các giống lai có năng suất cao chịu được điều kiện
khô hạn kéo dài (Peters et al., 2001). Đến năm 2000 huyện Reddipalli đã trở thành
vùng phát triển hạt giống cỏ Stylo chính của Ấn Độ và đã mở rộng ra 25 thôn với
diện tích 15000 ha tại huyện Anantpur. Các hộ nông dân tập trung sản xuất hạt 2
giống Stylo. Hamata và Stylo. Scabra và đã thu được 30 triệu Rs. Vào giai đoạn đó
Viện Nghiên cứu Đồng Cỏ (IGFRI) ở tỉnh Dharwad đã hoàn thiện quy trình phân
loại và làm sạch hạt giống theo hướng công nghiệp phục vụ sản xuất hạt Stylo
thương mại (Ramesh and Nagaratna, 2000).
1.2.2. Ở Việt Nam
Các nghiên cứu về CTAX cho gia súc đã được nhiều nhà khoa học tiến hành
trong suốt các thập kỷ qua. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về ngành đồng cỏ từ năm
13
1960 đến 2005 cho thấy chúng ta đã nhập và thử nghiệm 245 giống cỏ trong đó các