Chương 4. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
4.1. Đặc điểm chung và phân loại tài nguyên
4.1.1. Khái niệm về tài nguyên.
Nhiều ngưới cho rằng, tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu,
năng lượng, thông tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con
ngưới có thể sử dụng được để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Ngưới ta có thể phân loại tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố thiên
nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố hoạt động của con ngưới và xã
hội.
Trong thực tế sử dụng tài nguyên còn được phân theo các dạng của nó như tài
nguyên đất, tài nguyên khí hậu, tài nguyên sinh vật, tài nguyên nước, tài nguyên lao
động, tài nguyên thông tin, tài nguyên trí tuệ...
Dựa vào khả năng tái tạo, tài nguyên được phân thành tài nguyên tái tạo được và tài
nguyên không tái tạo được. Tài nguyên tái tạo được là những tài nguyên dựa vào năng
lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ vào Trái đất, dựa vào trật tự thiên
nhiên, nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành và tiếp tục tồn tại, sinh sôi; chỉ mất
đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin nói trên. Tài nguyên tái tạo được cũng có
thể định nghĩa một cách đơn giản hơn, đó là các tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ
sung một cách liên tục nếu được quản lý một cách khôn ngoan (Jorgensen S.E, 1981).
Nước, giờ, tài nguyên sinh vật ... là những tài nguyên tái tạo được. Tài nguyên không tái
tạo được tồn tại một cách hữu hạn sẽ mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đổi, không còn giữ
được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng. Các khoáng sản, nhiên liệu, các thông tin di
truyền bị mai một không giữ lại được cho đời sau là những tài nguyên không tái tạo được.
Trên lý thuyết thì với thời gian hàng triệu năm các tài nguyên này cũng có khả năng được
tái tạo một cách tự nhiên, nhưng xét theo tuổi thọ của con ngưới hiện nay thì phải xem là
không tái tạo được.
Như vậy, dưới sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của công cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ, khái niệm tài nguyên được mở rộng ra nhiều lĩnh vực hoạt động
của con ngưới. Vậy tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, năng
lượng, thông tin, có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử
lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất
gồm có : đá địa hình, khí hậu, nước, sinh vật và thời gian “.
Đây là định nghĩa đầu tiên khá hoàn chỉnh về đất. Sau này một số nhà nghiên
cứu cho rằng cần bổ sung thêm nột số yếu tố khác, đặc biệt là vai trò của con người,
chính con người khi tác động vào đất đã làm thay đổi khá nhiều khi đã tạo ra hẳn một
loại đất mới chưa hề có trong tự nhiên, đó là đất lúa nước .
Nếu biểu thị định nghĩa trên dưới dạng một công thức toán học thì ta có thể coi
đất là hàm của một số yếu tố hình thành đất theo thời gian:
Đ = f ( Đa , Đh, Kh, N, SV, CN) t
Trong đó : Đ : đất
Đa : đá
Đh : địa hình
Kh : khí hậu
N : nước
SV : sinh vật
CN : hoạt động của con người
t : thời gian
Thành phần cấu tạo của đất gồm: các hạt khoáng 40%, hợp chất humic 5%, không
khí 20% và nước 35%. Thành phần hóa học trung bình của đất được thể hiện trong bảng
4.1.
Bảng 4.1: Hàm lượng trung bình của các nguyên tố hóa học trong đá và đất tính theo %
trọng lượng ( Nguồn Vinograđôp, 1950)
Nguyên tố Đá Đất
O
Si
Al
Fe
Ca
0,46
0,46
-
2,0
0,08
0,09
0,10
[Nguồn: 10]
DT đất toàn cầu và quy mô sử dụng đất trên Trái đất như bảng 4.2 và 4.3
Bảng 4.2: Diện tích và sử dụng đất trên Trái đất
TT Hệ sinh thái Diện tích ( x 10
6
km
2
)
1 Rừng mưa nhiệt đới 7,11
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
2,101
6,947
15,210
Tổng số 130.428
Nguồn : Bouwman,1988
Bảng 4.3: Tỷ lệ % diện tích các loại đất trên thế giới (FAO,1990)
- Loại đất - Tỷ lệ%
- - Tuyết, băng, hồ - 11,5
- - Đất hoang mạc - 8,7
- - Đất núi - 16,3
- - Đất đài nguyên - 4,0
- - Đất podzon - 9,2
- - Đất nâu rừng - 3,5
- - Đất đỏ - 17,1
- - Đất đen - 5,2
- - Đất màu hạt dẻ - 8,9
- - Đất xám - 9,4
- - Đất phù sa - 3,9
- - Các loại đất khác - 3,2
Qua bảng trên cho thấy, những loại đất quá xấu (4 loại đầu) chiếm tới 40,5%.
Hiện trạng sử dụng đất của thế giới theo FAO như sau:
- 20% diện tích đất ở vùng quá lạnh, không sản xuất được
- 20% diện tích đất ở vùng quá khô, hoang mạc cũng không sản xuất được
- 20% diện tích đất ở vùng quá dốc không canh tác nông nghiệp được
- 20% diện tích đất đang làm đồng cỏ
- 10% diện tích đất ở vùng có tầng đất mỏng (núi đá, đất bị xói mòn mạnh)
- 10% diện tích đang trồng trọt
Tài nguyên đất thế giới như sau: Tổng diện tích : 14.777 triệu ha; Đất đóng
băng : 1.527 triệu ha; Đất không phủ băng : 13.251 triệu ha. Trong đó : 12 % DT đất
canh tác, 24% DT đất đồng cỏ, 32% DT đất rừng và 32% DT đất cư trú, đầm lầy. DT đất
41
5
14
13
40
7
12
-
30
7
rừng quá mức
- Do gặm cỏ
quá mức
- Do hoạt động
nông nghiệp
- Do hoạt động
công nghiệp23
29
9
30
66
-
34
28
-
Nguồn : Viện Tài nguyên thế giới, 1995
Bảng 4.5: Sự suy giảm diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam
Năm Dân số ( tr người) Diện tích đất NN (tr.ha ) Bình quân/ng ( ha/ng )
1940 20,2 5,2 0,26
1955 25,1 4,7 0,19
1975 47,6 5,6 0,12
1980 53,7 7,0 0,13
1985 59,7 6,8 0,11
1990 65,7 7,1 0,105
1995 74,0 7,0 0,095
Nguồn : Lê Thạc Cán
Bảng 4.6: Hiện trạng sử dụng đất đến hết năm 1998
Vùng Đất đang sử dụng Đất chưa sử dụng
Diện tích (ha) % so với đất
tự nhiên của
vùng
% so với đất
đang sử
dụng của cả
nước
loại cây gỗ giữ vai trò chủ đạo, đất và môi trường.
Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành các
thảm thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu. Sự phân bố của thảm thực
vật rừng là sự đồng nhất tương đối về địa lý, sinh thái và được hiểu như là một đơn vị
địa lý thực vật độc lập, chúng kết hợp với nhau theo vĩ độ và theo độ cao thành nhũng
đai rừng lớn trên Trái đất.