TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG CƠ SỞ II
******************
BÀI TIỂU LUẬN
Môn học: Kinh tế phát triển
ĐỀ TÀI: QUAN HỆ THƢƠNG MẠI
GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Giảng viên: Huỳnh Hiền Hải
Nhóm 5
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2015
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
Khái quát về quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc.......................... 2
I.
1.
Quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc trƣớc năm 1991 .............................................2
2.
Quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1991 đến nay.....................................2
II.
Thực trạng và các vấn đề đặt ra trong quan hệ Việt Nam–Trung Quốc ........... 4
IV- Kết luận .................................................................................................................... 21
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, quá trình hội nhập và tăng cường hóa quốc tế là xu thế
chung của các quốc gia trên thế giới. Và việc có mối quan hệ tốt với một nước có vị trí
đáng kể trên trường quốc tế như Trung Quốc và cũng là nước láng giềng là điều cần
thiết và tất yếu đối với Việt Nam. Đối với Việt Nam, trong suốt quá trình lịch sử của
mình, việc nghiên cứu và thiết lập quan hệ với Trung Quốc đã được lãnh đạo Đảng và
Nhà nước hết sức quan tâm. Tuy nhiên, do lịch sử và chính sách của hai nước có những
khác biệt nên dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng và mãi đến năm 1991 mới có thể bình
thường hóa mối quan hệ hai nước. Năm 1991 là sự khởi đầu cho quan hệ hai nước phát
triển trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và tạo điều kiện để phát triển
hơn nữa ở những giai đoạn sau. Từ đó đến nay, quan hệ hai nước nói chung và trên lĩnh
vực thương mại nói riêng đã phát triển ngày càng mạnh và bền vững và đang trở thành
một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Bài tiểu luận sẽ tập
trung tìm hiểu thực trạng trong mối quan hệ thương mại giữa Việt-Trung, đặc biệt
trong lĩnh vực xuất - nhập khẩu, cũng như những hạn chế còn tồn tại để từ đó có những
giái pháp, định hướng để thúc đẩy, phát triển hơn nữa quan hệ kính tế thương mại giữa
Việt Nam -Trung Quốc trong tương lai.
Do kiến thức còn hạn hẹp cũng như điều kiện khách quan nên trong quá trình
thực hiện tiểu luận khó tránh khỏi những sai sót và hạn chế, vì vậy nhóm rất mong
nhận được ý kiến đóng góp từ giảng viên để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
1
Khái quát về quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc
Quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1991 đến nay
Sau sự kiện bình thường hóa giữa Việt Nam – Trung Quốc vào đầu tháng 11-1991,
quan hệ thương mại giữa hai nước đã mở ra một trang sử mới. Từ đó đến nay, nhiều
văn bản hiệp đinh liên quan đến thương mại được ký kết giữa hai nước nhằm đẩy mạnh
2
quan hệ thương mại giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Năm 1995 Việt Nam chính thức trở thành hội
viên của ASEAN, thông qua cầu nối giữa Trung Quốc với ASEAN, Việt Nam và
Trung Quốc còn phát triển thêm nhiều loại hình kinh doanh. Bên cạnh việc thúc đẩy
hợp tác song phương, Chính phủ hai nước cũng chú trọng đến hợp tác đa phương.
Tháng 11 – 1995, Ủy ban hỗn hợp kinh tế - khoa học kỹ thuật Việt – Trung
được thành lập và đã có những đóng góp nhất định vào việc phát triển kinh tế giữa hai
nước.
Năm 2001 Trung Quốc chính thức gia nhập WTO, Trung Quốc đã dành cho các
nước đang phát triển được hưởng quy chế tối huệ quốc, trong đó có Việt Nam. Tạo cơ
hội cho Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và thị trường Trung Quốc.Bên cạnh
đó hệ thống chính sách của Trung Quốc cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu
của WTO. Đặc biệt là hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn đối với
hàng nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc yêu cầu ở mức cao hơn trước đây. Một số
chính sách ưu đãi đối với biên mậu cũng được chính phủ Trung Quốc loại bỏ dần.Điều
này đã gây tổn hại cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Tháng 5/2004, chính phủ hai nước chủ trương xây dựng “hai hành lang và một
vành đai kinh tế”, đây được coi là chương trình hợp tác trung và dài hạn giữa hai nước
nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển.
Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, điều này khẳng
định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Như vậy, Việt Nam và Trung Quốc đều
là thành viên của WTO, hệ thống hành lang pháp lý khá hoàn chỉnh tạo điều kiện thuận
trên cơ chế cấp giấy phép chuyến đối với hoạt động xuất nhập khẩu do đó đã làm hạn
chế hoạt động giao lưu thương mại, không khuyến khích được các thành phần kinh tế
tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, khiến các thành phần kinh tế tham gia vào
hoạt động xuất nhập khẩu còn ở phạm vi hẹp. Thực tiễn cho thấy, cơ chế này một mặt
đã làm hạn chế phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu theo thông lệ và tập quán quốc
tế mặt khác lại khuyến khích các thành phần kinh tế kinh doanh theo phương thức tiểu
ngạch biên giới, phương thức này lại hoàn toàn phù hợp với chiến lược phát triển kinh
tế biên mậu biên giới của Trung Quốc
4
Nhìn chung trong giai đoạn đầu sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, Nhà
nước ta chưa ban hành đầy đủ chính sách khung về buôn bán qua biên giới nên chưa có
cơ chế, chính sách cụ thể để quản lý điều hành hoạt động xuất nhập khẩu ở các cửa
khẩu biên giới. Trong điều kiện như vậy, hoạt động giao lưu kinh tế thương mại qua
biên giới Việt - Trung ta còn chịu thua thiệt hơn so với Trung Quốc.
Để đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế đối ngoại nói chung và phát
triển quan hệ kinh tế - thương mại với Trung Quốc nói riêng, ngày 15/12/1995, Chính
phủ đã ban hành nghị định số 89/NĐ về bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép chuyến đối với
hoạt động xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp được tự do kinh doanh xuất nhập khẩu
theo phạm vi ngành hàng trong giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ Thương
Mại cấp. Quyết định này tuy đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập
khẩu nhưng chưa thực sự khuyến khích được các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt
động xuất nhập khẩu. Đứng trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, năm
1997 Chính phủ đã ban hành luật thương mại và hàng loạt các văn bản pháp qui khác
nhằm điều chỉnh cơ chế quản lý hoạt động kinh tế, đặc biệt là kinh tế đối ngoại. Trong
đó nghị định số 57/NĐ-TTg của Chính phủ ban hành năm 1997 đã khuyến khích mọi
thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, tháo gỡ mọi trở ngại pháp
lý đối với hoạt động xuất nhập khẩu, từ thời điểm này các thành phần kinh tế đều được
tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời, Nhà nước đã ban hành các chính
Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý dối với mậu dịch biên giới, thúc đẩy mậu
dịch
biên giới phát triển lành mạnh.
-
Điều chỉnh, quy phạm hoá các biện pháp chính sách mậu dịch biên giới theo
hướng thể chế hoá kinh tế thị trường Xã hội Chủ Nghĩa
-
Thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế khu vực biên giới, tăng cường đoàn kết
dân tộc, phồn vinh và ổn định vùng biên giới, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị
láng giềng với các nước xung quanh.
Trong quan hệ buôn bán với các nước láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam,
Trung Quốc xây dựng chiến lược biên mậu biên giới, đồng thời tiến hành hai hình thức
buôn bán chính ngạch và biên mậu, áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, nhằm phát
huy mọi lợi thế về địa lý để phát triển kinh tế vùng biên giới. Với chính sách thương
mại trên, vào đầu những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu có sự thay đổi về chính sách
đối ngoại với Việt Nam. Tiếp theo sự tăng cường về quan hệ chính trị, Trung Quốc bắt
6
đầu coi trọng hợp tác kinh tế và thương mại với Việt Nam, nhất là sau khi Việt Nam ra
nhập ASEAN thì Trung Quốc coi Việt Nam là đối tác quan trọng trong khu vực.
Tóm lại, Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống chính sách điều hành hoạt động
kinh tế thương mại với Việt Nam theo các định hướng cơ bản sau:
-
khẩu của Việt Nam.
2. Quan hệ xuất nhập khẩu Việt Nam- Trung Quốc
a) Thương mại với Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thương mại Việt
Nam
-
Tình hình: Thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc gia tăng liên tục, mạnh
mẽ trong mười năm qua. Trong tổng thể, kim ngạch thương mại với Trung Quốc chiếm
20% tổng thương mại của Việt Nam. Trung Quốc chiếm 25% kim ngạch nhập khẩu và
10% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
7
Đánh giá: Việc Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thương mại của Việt
-
Nam không phải là trường hợp ngoại lệ và cũng không đương nhiên gắn với những
nguy cơ phụ thuộc. Theo thống kê thì Trung Quốc chiếm tới 24% tổng thương mại của
Hàn Quốc và 40% tổng thương mại của Đài Loan. Với Đài Loan, Hàn Quốc, với năng
lực cạnh tranh mạnh, dù Trung Quốc có chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thương mại, các
khu vực này vẫn không phải quan ngại về vấn đề phụ thuộc kinh tế với Trung Quốc.
Tuy nhiên, Việt Nam lại có năng lực cạnh tranh thấp, và do đó mức độ ảnh hưởng của
một thị trường chiếm 20% thương mại Việt Nam lớn hơn và khả năng thoát khỏi ảnh
hưởng của Việt Nam cũng thấp hơn tương ứng. Những biến động từ đối tác này, nếu
có, sẽ ảnh hưởng trực tiếp và tức thời tới thương mại Việt Nam, với mức độ lớn nhỏ
khác nhau tùy thuộc vào từng ngành kinh tế.
Kim ngạch XNK hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2010-2014 (Đơn vị
17,9
18,0
18,9
20,6
72.236
96.905
114.529 132.175 150.200
7.743
11.613
12.388
13.105
14.800
Tỷ trọng(%)
10,7
11,9
32,8
Kim
Tổng số
ngạch Trung Quốc
2011
2012
2013
2014
xuất
khẩu
Kim
ngạch Trung Quốc
nhập
khẩu
Tỷ trọng(%)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ công thương, tính toán theo số liệu Thời báo kinh tế
Việt Nam)
Biều đồ 1 cho thấy, Việt Nam chưa cải thiện được nhiều về xuất khẩu sang
Trung Quốc nhưng lại gia tăng mạnh về nhập khẩu từ quốc gia này. Nói cách khác,
Việt Nam đang phụ thuộc ngày càng nhiều vào nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong giai
đoạn 2000 - 2013, tỉ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc chỉ dao động trong khoảng trên
dưới 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng tỉ trọng nhập khẩu đã tăng
từ 10% lên mức 28% trong cùng thời gian. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt
Nam, trong năm 2013 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng 13 tỉ USD và
10
nhập khẩu trở lại gấp gần 3 lần với con số 37 tỷ USD, sự chênh lệch này được dự tính
sẽ lớn hơn trong tương lai. Năm 2013, tỉ trọng nhập khẩu và xuất khẩu của Việt Nam
sang Trung Quốc lần lượt là 10,2% và 28%.
Biểu đồ 2: Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2010 đến
2014
Trên thực tế, từ năm 2001 Việt Nam bắt đầu nhập siêu từ Trung Quốc với quy
mô không ngừng tăng qua các năm với tốc độ chóng mặt, từ xấp xỉ 200 triệu đô la Mỹ
năm 2001 lên 23,7 tỉ đô la Mỹ năm 2013. Cần lưu ý, tổng nhập siêu của Việt Nam, sau
khi đạt đỉnh 18 tỉ đô la Mỹ vào năm 2008, bắt đầu xu thế giảm xuống từ năm 2009 đến
nay, thậm chí năm 2012 và 2013 Việt Nam còn chuyển sang xuất siêu. Trong khi đó,
chỉ riêng nhập siêu từ Trung Quốc 3 không những không giảm mà vẫn tiếp tục tăng
mạnh. Theo các số liệu từ Hải quan Việt Nam, trong năm 2013, Việt Nam đã nhập
khẩu lượng hàng hóa trị giá 36,95 tỷ USD từ Trung Quốc, tương đương 28% tổng giá
trị hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam. Năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu lượng hàng
hóa trị giá 13,3 tỷ USD sang Trung Quốc – tương đương 10% tổng giá trị hàng xuất
khẩu của Việt Nam. Trong khi đó, theo nhận định của Tổ chức Thương mại Thế giới
11
lại bấp bênh và thường có xu hướng giảm, giá so sánh tương đối thấp so với các sản
phẩm chế biến - chế tạo. Trong khi đó, các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc chủ
yếu là hóa chất, sản phẩm chế tác cơ bản, máy móc thiết bị, chiếm trên 80% tổng nhập
khẩu từ Trung Quốc.
-
Thứ tư, Việt Nam hầu như không có hàng rào kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu
Trung Quốc, từ yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với phẩm đến các tiêu chuẩn
kỹ thuật, an toàn sử dụng đối với máy móc, thiết bị, đồ gia dụng. Do đó, hàng hóa của
12
Trung Quốc bất kể chất lượng, phẩm cấp thế nào vẫn có thể nhập khẩu dễ dàng vào
Việt Nam. Trong khi đó, ngoài hàng rào kỹ thuật, Trung Quốc còn yêu cầu hàng Việt
Nam xuất sang Trung Quốc buộc phải qua một số cửa khẩu do Trung Quốc chỉ định để
dễ kiểm soát (như hải sản chỉ được đi qua Móng Cái; cao su chỉ được đi qua Móng Cái,
Lục Lầm; hoa quả tươi chỉ được qua Lào Cai, Lạng Sơn).
3. Hoạt động nhà thầu của Trung Quốc tại các dự án lớn của Việt Nam
-
Tình hình: Theo thống kê thì các nhà thầu Trung Quốc đang là tổng thầu EPC
(là Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình) của
5/6 dự án hóa chất, 2/2 dự án khai thác chế biến bô-xít, 49/62 dự án xi măng… Riêng
trong lĩnh vực nhiệt điện, có 21/36 dự án mà nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC
với công suất lắp đặt chiếm khoảng 55,3% tổng công suất các nhà máy lắp đặt theo các
dự án này.
-
gọi thầu những lô thăm dò dầu khí ngay trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam;
ngang nhiên cắt cáp tàu Bình Minh và Viking II; rượt bắt tàu thuyền của ngư dân Việt
Nam đang đánh bắt trên vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia; cấm đánh cá có thời
hạn (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm) trên vùng Biển Đông. Các sự kiện nguy hiểm
gần đây là việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển thuộc chủ quyền của
Việt Nam; đâm va tàu kiểm ngư của Việt Nam; xuất bản bản đồ lãnh thổ Trung Hoa
khổ dọc thể hiện đường lưỡi bò gồm 10 đoạn bao trùm gần như toàn bộ vùng Biển
Đông; khởi công xây dựng trường học, nhà ở trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng
Sa của Việt Nam; tiếp tục mở rộng, xây dựng và thay đổi nguyên trạng một số điểm tại
quần đảo Trường Sa của Việt Nam…
b) Tác động của vấn đề Biển Đông đến quan hệ thương mại Việt Trung và
nền kinh tế Việt Nam
Việc Trung Quốc hạ đặt trái phép vào vùng biển của Việt Nam đã tác động lớn
đến đời sống kinh tế của Việt Nam, chúng ta mất từ 1 – 1,5 tỷ USD, tương ứng khoảng
0,7% GDP của đất nước Tác động của sự kiện này không có tính trực tiếp mà chủ yếu
gián tiếp đến các ngành và lĩnh vực trong đó nặng nề nhất là ngành du lịch và nông,
thủy hải sản xuất khẩu. Đặc biệt, lĩnh vực du lịch chịu tổn thất lớn do lo ngại từ khách
du lịch quốc tế bởi tình hình bất ổn tại biển Đông. Theo thống kê, từ tháng 5 – 6/2014,
14
18 khách sạn lớn nhất ở Việt Nam, số lượng khách du lịch hủy tour là 10%, từ tháng 6
– 7/2014 là 30%, gây thiệt hại khoảng 18 triệu USD cho ngành du lịch
Với quy mô nền kinh tế nhỏ hơn và bất lợi khi phụ thuộc thị trường với Trung
Quốc ở 1 số ngành chúng ta rõ ràng bị ảnh hưởng. Chúng ta bị ảnh hưởng lớn từ mậu
dịch khi tâm lý doanh nghiệp hai nước nghi ngại và một số đơn hàng bị hủy. Tuy
nhiên, đây chỉ là vấn đề “thời vụ” vì rất nhiều DN Trung Quốc đã trở lại giao thương
ngay sau đó với DN Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác động của việc hạ đặt giàn khoan Hải dương 981 có ảnh hưởng
nhiều đến hoạt động của một số doanh nghiệp sản xuất của Hồng Kông, Đài Loan,
công bố điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và USD
áp dụng cho ngày 19/8/2015 từ mức 21.673 VND/USD lên 21.890 VND/USD (mức
điều chỉnh tăng 1%), đồng thời điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá từ +/-2% lên +/-3%. Diễn
biến thị trường trong nước, quốc tế và ngay tại Trung Quốc những ngày sau đó cho
thấy đây là một giải pháp kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế và được dư luận đánh
giá tích cực. Sau hai lần điều chỉnh tỷ giá, đồng Việt Nam có dư địa đủ lớn để linh hoạt
trước các diễn biến bất lợi trên thị trường quốc tế và trong nước không chỉ từ nay đến
cuối năm mà cả những tháng đầu năm 2016, tạo sự ổn định vững chắc cho thị trường
ngoại tệ và đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Về cán cân thương mại, Trung Quốc là nước có tỷ trọng thương mại lớn nhất
của Việt Nam. Hiện nay thâm hụt cán cân thương mại của Trung Quốc đối với Việt
Nam là rất lớn (-~17 tỷ USD). Do đó, việc điều chỉnh này của NHNN có tác động tích
cực đến xuất khẩu, hạn chế việc gia tăng thâm hụt cán cân thương mại với Trung Quốc
cũng như cán cân thương mại chung.
Mặt khác, sự phá giá đồng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc cũng ảnh hưởng tới
nền kinh tế của Việt Nam. Ảnh hưởng lớn nhất là xuất khẩu của Việt Nam vào Trung
Quốc. Hàng hóa Việt Nam trở nên đắt hơn tại Trung Quốc, sức cạnh tranh của hàng
Việt Nam tại Trung Quốc giảm, ảnh hưởng nhất định đến xuất khẩu của Việt Nam
nhưng những nhà nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc lại được lợi. Ta đang nhập khẩu
nhiều công nghệ, thiết bị từ Trung Quốc. Tuy nhiên nếu xuất khẩu sang các nước châu
Á thì bất lợi vì không chỉ Trung Quốc, các nước châu Á khác cũng buộc phải phá giá
16
đồng tiền, do đó ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. Thâm hụt thương mại giữa
Việt Nam và Trung Quốc có thể tăng lên. Việc điều chỉnh này của Trung Quốc chưa có
ảnh hưởng lớn đến dòng vốn đầu tư.
III.
Thứ nhất, năm 2014, mức tăng trưởng của Trung Quốc xuống mức thấp nhất
trong vòng 24 năm trở lại đây. Việc nền kinh tế này chậm bước lại, đồng thời với xu
hướng chuyển dịch của GDP theo hướng tăng tiêu dùng hộ gia đình sẽ có ảnh hưởng
mạnh tới các nhà xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, đặc biệt là đối với nguyên liệu
thô.
Tận dụng sự thiếu hụt về nguyên liệu và một số hàng hóa khác như nông sản,
thủy sản để tăng cường xuất khẩu sang thị trường này.
Một số mặt hàng xuất khẩu trọng điểm: Xơ, sợi dệt các loại, Sắn và các sản
phẩm từ sắn, Gạo, Gỗ và sản phẩm gỗ, Cao su, Giày dép các loại, Hàng thủy sản, Hàng
dệt, may, Hàng rau quả, Hạt điều, Thức ăn gia súc và nguyên liệu, Túi xách, ví, vali,
mũ, ô, dù, Cà phê, Sản phẩm từ cao su, Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
Thứ hai, định hướng các khu vực, thị trường xuất khẩu quan trọng:
-
Quảng Tây, Vân Nam và các tỉnh/ thành phố miền Tây Trung Quốc (Tứ
Xuyên, Trùng Khánh, Quý Châu)
-
Các tỉnh miền Đông Trung Quốc như: Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam,
Thượng Hải, Bắc Kinh, Chiết Giang, Sơn Đông
-
Đại Liên, Thành Đảo (đối với thủy sản)
b. Định hướng nhập khẩu
Định hướng nhập khẩu một số mặt hàng chủ đạo
-
và do đó sẽ hướng tới giảm nhập siêu từ Trung Quốc trong tương lai gần.
3. Giải pháp phát triển quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc trong
thời gian tới
-
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi
mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước, duy trì ổn định kinh
tế xã hội
-
Giải quyết những bất đồng trên Biển Đông với Trung Quốc
-
Tăng tốc xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là khu vực cửa khẩu biên giới, từ đó
ngăn chặn tối đa hiện tượng buôn lậu, lành mạnh hóa hoạt động thương mại.
Để thực hiện tốt giải pháp này, ta cần thực hiện ít nhất các nội dung sau:
19
Xây dựng khẩn cấp cơ chế kiểm soát buôn lậu hiệu quả
Tăng cường lực lượng và nguồn lực cho việc kiểm soát tình trạng
buôn lậu (cả xuất – nhập khẩu)
Cải cách thủ tục hành chính triệt để về thuế, hải quan, đảm bảo thông
quan nhanh chóng, thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu
Xử lý nghiêm, triệt để các trường hợp vi phạm (cả thương nhân và
cán bộ Nhà nước)
Các địa phương khu vực biên giới tạo điều kiện giải quyết việc làm
cho một bộ phận cư dân biên giới hiện đang bị các đối tượng buôn lậu
Tiến tới xóa bỏ hoàn toàn cơ chế tiểu ngạch, chỉ còn duy nhất và
thống nhất cơ chế xuất nhập khẩu thông thường
-
Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, hỗ trợ và khuyến khích xuất
khẩu
-
Chủ động thực hiện tốt công tác thị trường, thông tin, xúc tiến thương mại
-
Thanh tra kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật Việt Nam của nhà
thầu nước ngoài (đặc biệt là nhà thầu Trung Quốc). Bên cạnh đó, xử lý
nghiêm khắc các trường hợp vi phạm theo đúng quy định của pháp luật (đặc
biệt đối với các trường hợp vi phạm pháp luật lao động)
IV- Kết luận
-
Quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong thời gian vừa qua đã đạt
được những thành tựu đáng ghi nhận trong kim ngạch thương mại hai chiều.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập khó giải quyết:
cán cân thương mại mất cân đối, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại chưa
được ngăn chặn, cơ cấu hàng xuất nhập khẩu chưa hợp lý,…
-