SKKN một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm trong chương trình hóa học trung học cơ sở - Pdf 42

SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương
trình hóa
học Trung
họcKRÔNG
cơ sở
PHÒNG
GIÁO DỤC
& ĐÀO
TẠO
ANA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KRÔNG ANA
TRƯỜNG THCS DUR KMĂN

Tên sáng kiến :
MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÁC BÀI DẠY CÓ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG
CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC TRUNG HỌC CƠ SỞ
Thuộc bộ môn: Hóa học

Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Lành
Chức danh: Giáo viên
Trình độ chuyên môn cao nhất: Đại học sư phạm
Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Hóa học

Dur Kmăl, tháng 3 năm 2017
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

1


khuôn theo sách giáo khoa có thể chưa tạo được điểm nhấn, chưa có sức thu hút
học sinh dù tiến hành nhiều thí nghiệm. Vì vậy, tôi nhận thấy cần phải nghiên
cứu, thay thế một số thí nghiệm trong sách giáo khoa bằng những thí nghiệm
sinh động, hấp dẫn, kích thích tính tò mò, sáng tạo, khám phá kiến thức của học
sinh mà vẫn đảm bảo nội dung bài học.
Trên cơ sở Sáng kiến kinh nghiệm của bản thân từ năm học 2015-2016
cùng với sự nghiên cứu, đổi mới và sáng tạo trong quá trình dạy học nhằm giúp
học sinh học tập bộ môn hóa học hứng thú hơn, tăng khả năng vận dụng kiến
thức vào cuộc sống, nâng cao chất lượng dạy học hóa học; tôi đề xuất đề tài:
“Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm ở
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

2


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

chương trình hóa học Trung học cơ sở”. Mong rằng đề tài sẽ giúp học sinh học
tập bộ môn Hóa học một cách hứng thú, thêm yêu mến môn học này hơn.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
a) Mục tiêu:
Mục tiêu của đề tài là xây dựng kĩ năng thực hành thí nghiệm, tạo hứng
thú học tập và hình thành cho học sinh khả năng giải quyết vấn đề một cách
khoa học, sáng tạo, đưa hóa học và thực tế cuộc sống lại gần nhau hơn, góp phần
nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học môn Hóa học trong trường Trung học
cơ sở.
b) Nhiệm vụ:
Giáo viên lựa chọn, thay thế, thêm bớt các thí nghiệm trong mỗi bài dạy
sau đó tổ chức cho học sinh tiến hành theo từng nhóm nhỏ (nếu có nhiều thí

trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 8,9 trường THCS Dur Kmăn.
Thời gian: Năm học 2015 - 2016
5. Phương pháp nghiên cứu
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu: Qua việc nghiên cứu các tài
liệu bồi dưỡng giáo viên; tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng;
sách giáo khoa, sách giáo viên ; một số thiết kế bài dạy và tài liệu khác có liên
quan (phương pháp giảng dạy bộ môn hóa học) … đã giúp tôi định hướng được
cách thức, phương pháp tối ưu trong giảng dạy bộ môn Hóa học. Đặc biệt, một
nguồn tài liệu vô cùng phong phú, đa dạng về thể loại và hình thức – đó là mạng
Internet. Qua việc tìm hiểu các thí nghiệm ở trang điện tử này, tôi đã thu thập
được rất nhiều thí nghiệm vui, hấp dẫn (pháo hoa, làm sữa chua…).
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: giáo viên điều tra về việc học bộ môn hóa học
như: niềm yêu thích bộ môn, được làm thí nghiệm, thích làm thí nghiệm hóa
học, kết quả học tập bộ môn hóa học, đã hiểu biết/ ứng dụng thực tế kiến thức
hóa học vào thực tế cuộc sống.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: qua soạn giáo án và giảng
dạy trong thực tế, dự giờ, rút kinh nghiệm từ các tiết dạy của đồng nghiệp cũng
như thái độ học tập, kết quả học tập của học sinh, từ đó tổng kết kinh nghiệm
giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: thường xuyên trò
chuyện với học sinh để biết được tâm tư nguyện vọng về cách thức học tập của
các em, về những phương pháp giáo viên giảng dạy có tạo chuyển biến gì về
kiến thức, nhận thức, hành động của các em…
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm: Giáo viên yêu cầu học sinh tự
làm thí nghiệm dựa vào các hóa chất, dụng cụ mà giáo viên/ tự bản thân các em
chuẩn bị theo yêu cầu của giáo viên. Kết hợp với thí nghiệm mà giáo viên đưa

Trường tôi công tác là 1 trong 12 trường trên cả nước thí điểm mô hình
Trường học mới. Sự khác biệt của mô hình Trường học mới so với mô hình giáo
dục đại trà chủ yếu nằm ở 2 điểm quan trọng: Thay đổi cách thức tiếp cận tài
liệu của học sinh và phương pháp tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục của
giáo viên. Qua gần 3 năm dạy học theo mô hình này đã chứng minh việc đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực mang lại nhiều kết quả tốt đẹp.
Trong đó, học sinh đóng vai trò trung tâm của hoạt động dạy học còn giáo viên
là người trực tiếp tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập.
Do đó, phương pháp tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục của giáo viên gần
như quyết định hoàn toàn đến năng lực, phẩm chất của học sinh. Nếu giáo viên
biết vận dụng linh hoạt, khéo léo các phương pháp cũng như phương tiện dạy
học thì kết quả dạy học sẽ từng bước được nâng cao.
Qua việc nghiên cứu, áp dụng, khảo sát thực tiễn tôi nhận thấy đối với
môn đặc thù như Hóa học, nếu giáo viên khai thác được lợi thế của bộ môn (thí
nghiệm, thực hành) sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực: tạo hứng thú, rèn luyện
khả năng quan sát, tính cẩn thận, kĩ năng làm thí nghiệm, tư duy khoa học, gắn
kiến thức bài học vào thực tế cuộc sống.
Đề tài mà bản thân tôi muốn đề xuất phần nào cũng đã đáp ứng được yêu
cầu trên. Trước mắt là giúp học sinh nắm được nội dung trọng tâm của bài học,
tạo hứng thú học tập. Sau nữa là tạo cho học sinh tâm thế chủ động khám phá
kiến thức mới. Đồng thời, hình thành tư duy khoa học, năng lực giải quyết vấn
đề, các kĩ năng làm việc nhóm, góp phần hình thành phẩm chất và tăng khả năng
vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống cho các em học sinh.
a. Vai trò quan trọng của thí nghiệm trong dạy học hóa học

Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

5



xanh. Nếu không có thí nghiệm thì học sinh không thể hình dung được dạng keo
như thế nào. Màu xanh thì có nhiều màu xanh khác nhau.
+ Học sinh sẽ chóng quên khi không hiểu bài, không có ấn tượng sâu sắc
về các hình ảnh cụ thể...
Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tế. Nhiều thí nghiệm rất gần
gũi với đời sống, với các quy trình công nghệ. Vì vậy, thí nghiệm giúp học sinh
vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống.
Thí nghiệm giúp học sinh rèn luyên các kĩ năng thực hành (các thao tác và
cách thức tiến hành thí nghiệm), hình thành những đức tính của người lao động
mới: cẩn thận, khoa học, kỉ luật.
Thí nghiệm giúp học sinh phát triển tư duy, hình thành thế giới quan duy
vật biện chứng. Khi tự tay làm thí nghiệm hoặc được tận mắt nhìn thấy những
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

6


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

hiện tượng hóa học xảy ra, học sinh sẽ tin tưởng vào kiến thức đã học và cũng
thêm tin tưởng vào chính bản thân mình.
Khi làm thí nghiệm rất dễ gây húng thú học tập. Học sinh không thể yêu
thích bộ môn và không thể say mê khoa học với những bài giảng lí thuyết khô
khan. Thí nghiệm cùng với những hiện tượng thí nghiệm kì lạ, hấp dẫn chính là
thuận lợi riêng của bộ môn hóa học so với các bộ môn khoa học khác. Nếu giáo
viên biết tận dụng, phát triển một cách sáng tạo, linh hoạt trong quá trình dạy
học thì kết quả của hoạt động dạy học hóa học trong trường phổ thông chắc chắn
sẽ được nâng cao.
b. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống thí nghiệm trong chương trình


29,2%

QUAN TRỌNG

25,5%

Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

RẤT QUAN TRỌNG

4,7%

7


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

Biểu đồ 1: Nhận thức của học sinh trường Trung học cơ sở Dur Kmăn về tầm
quan trọng của thí nghiệm trong tiết học hóa học
CÁC HÌNH THỨC TIẾP XÚC THÍ NGHIỆM HÓA HỌC CỦA HỌC SINH
Chưa bao giờ làm thí nghiệm,chỉ xem các bạn làm

30,6%

Trực tiếp làm thí nghiệm

27,8%



8


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

nghiệm. Nguyên nhân, qua tìm hiểu là do các em yếu kĩ năng thực hành, sợ hóa
chất độc hại, cháy nổ và chưa tìm thấy niềm vui, sự cần thiết phải học bộ môn
Hóa học.
Thứ ba: Do điều kiện cơ sở vật chất của trường
Ở một số thí nghiệm, do một số hóa chất khó bảo quản (dung dịch
AgNO3, CaC2, dung dịch Br2…), một số dụng cụ thí nghiệm đắt tiền, dễ hỏng
(thiết bị điện phân nước, cân Robecvan…) nên giáo viên không làm/ cho học
sinh làm thí nghiệm được mà phải dạy chay hoặc chiếu thí nghiệm ảo trên màn
hình chiếu. Điều này đã làm giảm khả năng thuyết phục học sinh tin tưởng vào
khoa học, làm giamt hứng thú học tập của các em
Thứ tư: Do thời lượng của tiết học
Vì thời lượng của một tiết học tương đối ít (bao gồm ổn định lớp, kiểm tra
bài cũ, sửa bài tập, dạy bài mới, củng cố, dặn dò, giải quyết một số tình huống
sư phạm- nếu có) nên làm giáo viên ngại chuẩn bị thí nghiệm cho học sinh làm.
Nếu để học sinh tự mình tiến hành thí nghiệm thì có thể giáo viên không dạy
hết bài (vì học sinh làm thí nghiệm chậm).
Thứ năm: Do giáo viên dạy bộ môn Hóa học
Nguyên nhân chủ quan đến từ giáo viên: một số giáo viên chưa chịu khó
đổi mới phương pháp dạy học, thường xuyên tránh các tiết học thực hành, chưa
đầu tư nhiều vào bài dạy cũng như việc chuẩn bị thí nghiệm, làm thí nghiệm trên
lớp làm giảm hứng thú học tập của học sinh và chất lượng dạy học, giáo dục.
Một nguyên nhân nữa xuất phát từ giáo viên, đó là chưa thực sự quan tâm đến
các em học sinh: chưa đi sâu, đi sát để tháo gỡ khó khăn cho các em; chưa kịp

hào hứng, bị lôi cuốn vào bài dạy. Những học sinh nhớ kiến thức thì lại không
áp dụng được vào thực tế cuộc sống. Đây là điều làm bản thân tôi luôn trăn trở,
tìm cách khắc phục.
Do vậy, bản thân tôi đã mạnh dạn thay đổi phương pháp, tìm tòi, nghiên
cứu và áp dụng đề tài này vào việc dạy học ở trường. Việc thay thế, thêm bớt
một số thí nghiệm trong sách giáo khoa bằng những thí nghiệm vui, đẹp mắt,
hấp dẫn sẽ làm cho các em háo hức chờ đợi đến tiết học môn hóa, hầu hết các
em học sinh bị lôi cuốn vào bài giảng, tạo động lực để các em khám phá kiến
thức mới. Mặt khác, nếu giáo viên thay thế một số hóa chất, dụng cụ ở các thí
nghiệm trong sách bằng những hóa chất gần gũi với cuộc sống sẽ làm cho học
sinh thấy được hóa học thật gần gũi với cuộc sống, thêm yêu mến môn hóa học
và tăng khả năng vận dụng của bộ môn hóa học vào thực tế cuộc sống. Để làm
được điều này đòi hỏi bản thân người giáo viên phải luôn chủ động tìm tòi qua
sách vở, qua thực tế cuộc sống và không ngại khó để đưa các thí nghiệm đó vào
bài dạy. Mặt khác, giáo viên đứng lớp luôn phải là người yêu nghề, trăn trở với
chất lượng giáo dục, mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học và đặc biệt là phải
gần gũi, quan tâm nhiều hơn đến các đối tượng học sinh.
Để áp dụng đề tài này vào bài dạy đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời
gian, công sức để chuẩn bị cho học sinh (vì giáo viên phải thay thế một số dụng
cụ, hóa chất trong sách bằng các hóa chất, dụng cụ khác). Thực tế có nhiều giáo
viên rất ngại làm thí nghiệm cũng như chuẩn bị thí nghiệm cho học sinh chứ
chưa nói đến việc tự mình đi tìm kiếm thí nghiệm, dụng cụ, thiết bị để thay thế
cho các thí nghiệm trong sách giáo khoa. Để khắc phục khó khăn nêu trên, chỉ
cần đội ngũ nhà giáo có tâm huyết, tất cả vì học sinh thân yêu, niềm vui của học
sinh là động lực phấn đấu của giáo viên thì chắc chắn sẽ đạt được kết quả như
mong đợi.
Thứ nữa là khi chuẩn bị các thí nghiệm cũng như đưa các thí nghiệm trên
vào bài học nếu giáo viên không chuẩn bị hệ thống câu hỏi dẫn dắt, gợi mở để
các em học sinh khám phá kiến thức mới một cách chu đáo thì thí nghiệm làm
cũng chỉ để các em xem cho vui mắt chứ không làm cho học sinh hiểu bài, nhớ

nhận thức của các em học sinh. Phải quan tâm sát sao đến từng đối tượng học
sinh, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của các em để các em mạnh dạn, tự tin
trong học tập và cuộc sống.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
a) Mục tiêu của giải pháp
Nhằm tạo cho học sinh có bầu không khí học tập sôi nổi, hứng thú, tự tin
tiếp thu và khám phá kiến thức một cách chủ động. Học sinh hiểu và ghi nhớ
kiến thức tốt hơn. Từ đó, hình thành cho học sinh kĩ năng thực hành, nhận biết,
phân tích, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, khoa học.
b) Nội dung và cách thức thực hiện của giải pháp
Giáo viên chủ động tìm tòi, thay thế một số thí nghiệm trong sách giáo
khoa bằng những thí nghiệm vui, hấp dẫn, tạo động lực khám phá kiến thức mới
mà vẫn đảm bảo nội dung bài học. Tiếp đến là thay đổi cách tổ chức hoạt động
học: học sinh sẽ hoạt động theo nhóm, tự làm thí nghiệm và rút ra kiến thức
dưới sự điều khiển của giáo viên.
+ Thí nghiệm phải gắn với nội dung bài dạy, tốt nhất là chọn được các
thí nghiệm giúp học sinh tiếp thu được các kiến thức cốt lõi, trọng tâm
Các thí nghiệm hóa học dù là ở dạng nào thì cũng nhằm giúp học sinh tiếp
thu tốt nội dung bài học và nắm vững hệ thống các kiến thức hóa học cần thiết
trong chương trình phổ thông. Mặt khác, để việc tiếp thu kiến thức của học sinh
có hiệu quả, không thể thí nghiệm một cách tràn lan mà phải có trọng tâm, trọng
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

11


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

điểm. Khi lựa chọn các thí nghiệm để đưa vào bài dạy, tốt nhất nên chọn các thí


12


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

Một trong những nguyên nhân chính làm cho học sinh chưa yêu thích bộ
môn hóa học là do thí nghiệm không hấp dẫn, không tạo được ham muốn hoạt
động. Do đó, thí nghiệm không những chỉ cần đem lại hứng thú cho học sinh mà
còn phải mang lại hứng thú cho người làm thí nghiệm.
Thông thường thì những thí nghiệm làm cho học sinh hứng thú cũng sẽ
gây cho giáo viên hứng thú. Khi nhìn học sinh của mình chăm chú dõi theo các
hiện tượng phản ứng xảy ra, thấy các em hoan hỉ cũng đủ làm cho giáo viên vui
rồi. Để xóa dạy chay, một trong những phương pháp quan trọng là phải tìm tòi,
thay thế, lựa chọn các thí nghiệm hấp dẫn, gần gũi với cuộc sống để đưa vào bài
dạy.
Ví dụ: ở bài Nước (hóa 8), khi giáo viên làm cho học sinh xem thí nghiệm
Na tác dụng với nước thì nên thiết kế để cho thí nghiệm hấp dẫn hơn bằng cách
thay thế bằng thí nghiệm“ Đốt cháy tàu chiến địch” như sau: Dùng 1 tờ giấy A4
để gấp tàu, chọc 1 lỗ thủng dưới đáy, đặt một mẩu Na vào tàu rồi đậy bên trên
bằng vài mảnh giấy dễ bắt lửa. Thả tàu vào chậu nước có sẵn vài giọt dd
phenolphtalein. Khi Natri gặp nước, tàu sẽ bùng cháy, trên mặt nước xuất hiện
vết máu giặc loang nhuộm hồng cả khúc sông. Có một lưu ý khi tiến hành thí
nghiệm: Vì Natri được bảo quản trong dầu hóa nên phía ngoài sẽ được bao phủ
một lớp vỏ cứng, nếu không gọt sạch lớp vỏ cứng này trước khi cho vào nước,
viên Natri sẽ gây nổ, bắn ra mang theo dung dịch xút gây bỏng, cháy áo quần.
Nếu giáo viên tiến hành được thí nghiệm như đề xuất ở trên vừa tạo sự hứng thú
cho học sinh, vừa có tác dụng giáo dục lòng yêu nước thông qua bài học. Để học
sinh dự đoán được trong sản phẩm sinh ra có khí H 2, giáo viên phải hướng cho

phản ứng cháy mạnh hơn. Các em hãy dự đoán chất khí này (Dựa vào công thức
Phản ứng
cháy
tàu chiến
Natri
vớikhí
nước
có ra
chứa
muối
đem“đốt
nhiệt
phân,
học địch”:
sinh có
thểtác
dựdụng
đoán
sinh
là dung
oxi) dịch phenolphtalein

Phản ứng “vết lửa màu nhiệm”:phân hủy muối KNO3 được viết lên tờ giấy A4 (đã phơi khô)

Ở bài Cacbon (hóa 9), phản ứng cháy của Cacbon có lẽ học sinh cũng đã
gặp nhiều trong cuộc sống nhưng để tạo hứng thú học tập, giáo viên thay thế thí
nghiệm đốt cacbon trong bình kín chứa khí oxi bằng thí nghiệm “Súng phun
lửa”: Trộn bột than gỗ nghiền nhỏ với KMnO4 theo tỉ lệ 1: 1. Lấy vài muỗng hỗn
hợp trên cho vào ống nghiệm khô, đun ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn. Một
lúc sau trong ống nghiệm bắn ra những tia lửa sáng rực như súng phun lửa. Vì



SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

Ở bài 18 (hóa 9): Khi dạy tính chất nhôm tác dụng với oxi, giáo viên có
thể làm cho học sinh xem thí nghiệm đẹp mắt như sau: Trộn nửa muỗng thủy
tinh nhỏ bột nhôm với 1 muỗng thủy tinh KMnO4 (gói trong tờ giấy, đặt trong
bát sứ). Dùng bật lửa hoặc diêm châm vào cho tờ giấy cháy. Đứng cách xa thí
nghiệm khoảng 1 mét để hóa chất không bắn vào người. Ta sẽ quan sát thấy bột
nhôm cháy trông như pháo hoa, rất đẹp mắt. Tôi tin rằng, nếu thấy được hiện
tượng thí nghiệm hấp dẫn như trên, học sinh sẽ háo hức, bị lôi cuốn vào nội
dung bài học. Sẽ có động lực, ý chí, mong muốn giải thích hiện tượng. Chắc
chắn hiệu quả bài dạy sẽ được nâng cao, học sinh sẽ nhớ kiến thức rất lâu và liên
hệ được những hiện tượng các em thấy trong cuộc sống “Pháo hoa” (trong thành
phần pháo hoa có bột nhôm).
Hiện tượng pháo hoa: Phản ứng của bột nhôm với oxi (oxi sinh ra do phân hủy KMnO4)

Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

16


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

Bên cạnh lựa chọn hệ thống các thí nghiệm đưa vào bài dạy để tạo hứng
thú cho người học, giáo viên cũng nên chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi để dẫn
dắt học sinh giải thích hiện tượng xảy ra, rút ra được kiến thức bài học.
+ Thí nghiệm dễ kiếm hóa chất, đơn giản, dễ làm

SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

Bằng những thí ngiệm về các chất gần gũi xung quanh các em (miếng
chanh, bột giặt…)như trên, các em mới thấy sự lí thú của hóa học, hiểu hơn về
các chất mình tiếp xúc, sử dụng hàng ngày, cảm nhận đúng hơn về vai trò của
hóa học- Khoa học của cuộc sống!

Sự thay đổi màu của quỳ tím khi nhỏ dung dịch bột giặt (dung dịch có tính kiềm) lên

Ví dụ: Khi cho học sinh làm thí nghiệm muối tác dụng với axit, giáo viên
có thể dùng phấn viết bảng hay vỏ trứng (thành phần chính là CaCO 3) tác dụng
với dung dịch axit.Trong phòng thí nghiệm ở trường Trung học cơ sở có hóa
chất CaCO3 nhưng ở dạng bột. Nếu cho CaCO 3 tác dụng dd axit thì khó để quan
sát hiện tượng xảy ra. Bằng việc thay hóa chất CaCO 3 bằng vỏ trứng hoặc viên
phấn học sinh sẽ thấy hóa học thật gần gũi với cuộc sống và thêm hiểu biết về
các chất xung quanh các em.

Phản ứng của CaCO3 (thành phần chính trong vỏ trứng, phấn viết bảng) với dung dịch HCl
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

18

Dụng cụ điện phân dd NaCl bão hòa (gồm 3 pin 1,5V; 2 đoạn bút chì; dây dẫn điện và băng keo)


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

Hoặc giáo viên có thể hướng dẫn để học sinh làm thiết bị điện phân dung

CuSO4) nhạt dần như hình ảnh thí nghiệm
ở bên. Bên cạnh đó, khi quan sát màu sắc
dung dịch thì giáo viên cũng phải để ý
phông quan sát.
Những chất có màu thì dùng phông trắng,
chất màu trắng dùng phông màu đen.
Ví dụ ở bài Tinh bột và xenlulozơ
(hóa 9), khi làm phản ứng màu của tinh
bột với iot GV cắt một lát khoai lang (đã luộc chín) rồi nhỏ lên vài giọt cồn iot
(dùng để sát trùng -mua ở tiệm thuốc tây). Các em sẽ quan sát thấy khi nhỏ cồn
iot lên, miếng khoai đã luộc chín sẽ chuyển màu xanh đen

Phản ứng màu của hồ tinh bột (có trong khoai lang luộc) với iot (cồn iot)

Ví dụ: ở bài Protein (Hóa học 9): Ở mục 3 phần III (tính chất), giáo viên
có thể cho học sinh cùng làm thí nghiệm về sự đông tụ của protein như sau: Pha
½ cốc sữa (gồm sữa đặc có đường và nước đun sôi để nguội khoảng 70 0C theo tỉ
lệ 1 thể tích sữa: 2 thể tích nước , khuấy đều) . Để cốc sữa nguội đến nhiệt độ
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

20


SKKN: Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả các bài dạy có sử dụng thí nghiệm
trong chương trình hóa học Trung học cơ sở

phòng, lấy nước cốt của 1 quả chanh (đã bỏ hạt) cho từ từ vào cốc sữa trên. Sau
đó, dùng đũa (muỗng) khuấy thật nhẹ để nước cốt chanh và sữa được trộn đều.
Lưu ý: Không cho nước cốt chanh vào cốc sữa khi đang còn nóng vì sữa sẽ
không đông tụ mà bị vón cục, không thành sữa chua. Sau vài phút, học sinh sẽ

xảy ra chậm, giáo viên phải cho học sinh
tiến hành trước để không mất thời gian
chờ đợi. Ví dụ phản ứng của sắt với dd
CuSO4 (cần 10-15 phút để thấy màu của
dung dịch nhạt dần).

Phản ứng Fe tác dụng dd CuSO4

Ở một số bài dạy có nhiều thí nghiệm phải tiến hành, giáo viên nên cho
học sinh thực hiện các thí nghiệm đó nối tiếp nhau, quan sát và nêu hiện tượng
thí nghiệm, rồi mới rút ra các tính chất của chất, sau đó viết các phương trình
hóa học xảy ra. Ví dụ ở chương trình hóa học 9, bài 9: Tính chất hóa học của
muối; nếu giáo viên tiến hành lần lượt từng thí nghiệm rút ra từng tính chất, viết
phương trình hóa học cho mỗi tính chất rồi mới chuyển sang thí nghiệm khác thì
chắc chắn sẽ không đảm bảo về mặt thời gian. Do đó, giáo viên nên tổ chức cho
học sinh tiến hành đồng loạt các thí nghiệm, cho biết các hiện tượng xảy ra rồi
viết vào bảng sau:
Tên thí nghiệm

Cách tiến hành

Hiện tượng quan sát được

1) Muối tác Cho vài cây đinh sắt vào ống
dụng kim loại
nghiệm chứa dung dịch CuSO4
(Lấy 1 mẫu dung dịch CuSO4 để
đối chứng)
2) Muối
dụng axit


1) Tác dụng của
dd bazơ lên quỳ
tím và lên dd
phenolphtalein

Cho một mẩu giấy quỳ tím lên
đế sứ rồi nhỏ vài giọt dd NaOH
vào mẩu giấy quỳ tím

Hiện tượng quan sát được

Cho vài giọt dd phenolphtalein
lên đế sứ rồi nhỏ vài giọt dd
NaOH vào

2) Nhiệt phân Dùng đèn cồn nhiệt phân
bazơ không tan Cu(OH)2 trong chén sứ đặt trên
kiềng sắt.
Sau khi cho học sinh nêu hiện tượng quan sát được, giáo viên yêu cầu học
sinh nêu các tính chất hóa học của bazơ (kết hợp với kiến thức đã học về tính
chất hóa học của oxit, axit để nêu cho đầy đủ), rồi viết các phương trình hóa học
xảy ra. Nếu thực hiện như vậy giáo viên sẽ có thời gian để củng cố các kĩ năng
khác cho học sinh cũng như liên hệ thực tế qua bài dạy...
+ Thí nghiệm phải an toàn, càng ít độc hại càng tốt. Nên thay các thí
nghiệm độc bằng các thí nghiệm không độc hoặc ít độc hại hơn.
Thí nghiệm phải an toàn là một trong các nguyên tắc bắt buộc phải tuân
theo khi lựa chọn và tiến hành thí nghiệm. Mặt khác, một nguyên nhân làm cho
học sinh ngại làm thí nghiệm là do có thí nghiệm gây độc, tạo mùi khó chịu. Vì
vậy, để giữ gìn sức khỏe cho bản thân giáo viên cũng như các em học sinh, bên

Với đặc điểm học sinh ở trường tôi công tác, đa số học sinh là đồng bào
thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn, chất lượng đầu vào thấp, bố mẹ chưa quan
tâm đúng mức nên việc học của con em không thu được kết quả cao, việc dạy
của giáo viên cũng gặp không ít khó khăn. Song người giáo viên không được
dựa dẫm vào các nguyên nhân khách quan đó mà không chủ động, tích cực thay
đổi phương pháp dạy học. Hóa học là bộ môn khoa học có đặc trưng riêng, lại
được nghiên cứu muộn (bắt đầu học từ lớp 8) nên giáo viên dạy bộ môn hóa học
không thể vin vào bất cứ lí do gì. Việc dạy học sẽ thu được kết quả tốt nếu như
giáo viên chịu khó thay đổi phương pháp dạy học (dạy theo hướng tích cực, lấy
học sinh làm trung tâm…). Bên cạnh đó, giáo viên hóa học cũng nên khai thác
triệt để lợi thế của bộ môn (thí nghiệm trực quan) để giúp học sinh nắm được
nội dung bài học và vận dụng vào thực tế cuộc sống. Mặt khác, để phát huy tác
dụng của các thí nghiệm thì giáo viên cũng cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi dẫn
dắt học sinh khám phá nội dung bài học và liên hệ thực tế cuộc sống.
Đối với cả đối tượng học sinh yếu kém cũng như khá giỏi, mốn các em
học tốt môn học của mình thì người giáo viên cần sát sao, quan tâm, gần gũi các
em, tìm hiểu hoàn cảnh cũng như tâm lí lứa tuổi để lựa chọn phương pháp tốt
nhất cho từng đối tượng học sinh.
c) Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Phương pháp dạy học tích cực được hiểu là phương pháp lấy người học
làm trung tâm, khơi dậy lòng tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Sử
dụng phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo được mối quan hệ thầy- trò gần gũi,
gợi mở, tạo được không khí lớp học vui vẻ. Chúng ta có những phương pháp
dạy học tích cực như: Nêu ý kiến lên bảng, sàng lọc, thuyết trình, làm việc
nhóm, hỏi đáp, trược quan, tình huống…Mỗi phương pháp có những giá trị
riêng, vấn đề quan trọng là người dạy phải biết lựa chọn phương pháp nào là phù
hợp với nội dung và đối tượng học để phát huy hiệu quả của bài dạy môt cách
cao nhất.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn


Trong dạy học, vai trò của giáo viên vẫn là quan trọng nhất. Thành công
của tiết học suy cho cùng phụ thuộc vào người giáo viên với 4 yếu tố sau:
-

Lòng yêu nghề, say sưa sáng tạo, tìm hiểu trong nghề nghiệp
Kiến thức của giáo viên
Phương pháp sư phạm
Phương tiện dạy học

Tóm lại, giữa phương pháp dạy học tích cực và phương tiện dạy học có
mối quan hệ tương trợ lẫn nhau. Điều quan trọng là người giáo viên phải hiểu rõ
được những nguyên tắc khi áp dụng các phương pháp và phương tiện đó, để
phát huy một cách tối ưu vào công tác giảng dạy.
d) Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu,
phạm vi và hiệu quả ứng dụng
* Kết quả khảo nghiệm:
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên vào thực tế dạy học ở trường
Trung học cơ sở Dur Kmăn, qua khảo sát thực tế tỉ lệ số học sinh muốn tham gia
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Lành- Giáo viên trường Trung học cơ sở Dur Kmăn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status