Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài Ardisia thuộc họ Myrsinaceae ở Việt Nam - Pdf 43

MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Tiếng Anh

NMR

Nuclear Magnetic Resonance

1

H-NMR

Diễn giải
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân

Proton Magnetic Resonance Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
spectroscopy
proton

C-NMR

Carbon 13 Nuclear Magnetic Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
Resonance spectroscopy
cacbon 13

DEPT

Distortionless Enhancement Phổ DEPT
by Polarisation

Electron Spray
Mass Spectra

TMS

Tetramethylsilane

DMSO

Ionization Phổ khối lượng ion hóa phun
mù điện tử

Dimethyl sulfoxide

TT

Số thứ tự

MeOH

Methanol

EtOAc

Ethylacetate

EC50

Effective Concentration at Nồng độ gây tác động sinh
50%


Ung thư gan

LNCaP

Hormone dependent human Ung thư tuyến tiền liệt
prostate carcinoma

δH

Proton chemical shift

Độ dịch chuyển hóa học của


proton
δC
s: Singlet

Carbon chemical shift

d: Doublet
m: Multiplet

Độ dịch chuyển hóa học của
carbon
t: Triplet
dd: double doublet

DANH MỤC HÌNH

họ này là Ardisia có khoảng 98 loài [2]. Nghiên cứu về các loài thực vật này hầu
như chưa có ở Việt Nam, chúng chỉ mới được sử dụng trong phạm vi dân gian để
chữa bệnh. Các loài trong chi Ardisia thường có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu
thũng và được sử dụng trong dân gian để chữa các bệnh viêm khớp, đòn ngã tổn
thương, sưng đau hầu họng, trị ỉa chảy, lậu, sốt rét, viêm ruột, loét dạ dày, mụn
nhọt ghẻ lở và trị các bệnh về gan [3, 4]. Do đó, với mong muốn tìm kiếm các hoạt
chất ứng dụng trong Y-Dược từ nguồn dược liệu Việt Nam, chúng tôi đã chọn các
thực vật chi Cơm nguội (Ardisia) họ Đơn nem (Myrsinaceae) làm đối tượng
nghiên cứu cho đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học
của một số loài Ardisia thuộc họ Myrsinaceae ở Việt Nam”.
Mục đích của đề tài:
1. Phân lập các hợp chất từ các bộ phân khác nhau của một số loài Ardisia thu hái
ở Việt Nam
2. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chât phân lập được dựa vào các phương
pháp phổ hiện đại.
3. Thăm dò hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn, gây độc tế bào của một số hợp chất
phân lập được.


Chương 1. TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm hình thái và phân loại họ Đơn nem (Myrsinaceae) và chi Ardisia ở
Việt Nam
1.1.1. Họ Đơn nem (Myrsinaceae)

Họ Đơn nem là một họ lớn, trên thế giới có khoảng 35 chi và hơn 1400 loài,
phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của hai bán cầu như Ấn Độ,
Mianma, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia,
Philippin, New Zealand, Australia, Nam Phi, Nam Mỹ. Hệ thực vật trong họ này
chủ yếu là cây và những khóm cây bụi, đôi khi là những dạng leo bám. Tuy là 1 họ

khoảng 500 loài, phân bố phần lớn ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Á, số ít ở châu
Úc, các đảo Thái Bình Dương. Số lượng tuyệt đối của loài trong chi này, thêm sự
thiếu chính xác trong việc cập nhật số lượng loài đã phần nào gây ra những khó
khăn nhất định trong việc xác định mức độ loài trong chi này. Chi này được biết
đến như các vị thuốc dùng trong dân gian từ xa xưa, sử dụng lá, thân rễ, cành, đôi
khi là quả [25].
Ở Việt Nam chi Ardisia có khoảng 101 loài. Đặc điểm thực vật chung, cây
nhỏ, bụi hoặc nửa bụi gần với dạng cây thảo. Lá đơn, mọc cách, ít khi mọc đối
hoặc gần mọc vòng, phiến lá thường có điểm tuyến, mép nguyên hoặc khía răng
cưa tròn, giữa các răng có điểm tuyến, hoặc khía răng cưa nhỏ và nhiều. Cụm hoa
hình chùm, xim, tán, ngù ở đầu cành, nách lá hoặc ngoài nách lá. Hoa lưỡng tính,
thường mẫu 5, ít khi mẫu 4. Lá bắc nhỏ và sớm rụng. Lá đài thường hợp ở gốc, ít
khi rời, xếp van hay xếp lợp, thường có điểm tuyến. Cánh hoa hơi hợp ở gốc, ít khi
hợp đến 1/2 chiều dài, xếp vặn về phía phải, thường có điểm tuyến. Nhị đính ở


gốc ống tràng (hoặc đính ở giữa); chỉ nhị ngắn hơn cánh hoa, ít khi dài bằng hoặc
dài hơn; bao phấn hai ô, mở dọc, ít khi mở lỗ, trung đới thường có điểm tuyến.
Bầu thường hình cầu hoặc hình trứng; vòi nhị, chỉ nhị thường ngắn hơn cánh hoa;
núm hình chấm; noãn 3-12 hoặc nhiều hơn, xếp thành một vòng đến nhiều vòng.
Quả mọng dạng quả hạch, hình cầu hoặc hình cầu dẹt, thường có màu hồng, có
điểm tuyến, có lúc có gân tuyến. Hạt hình cầu, lõm ở gốc, hạt bao phủ bởi một cái
màng còn lại của giá noãn; nội nhủ sừng, phôi hình trụ mọc ngang hoặc thẳng [2,
4].
1.1.2.2.
1.1.2.2.1.

Đặc điểm thực vật một số loài Ardisia nghiên cứu
Ardisia balansana – Cơm nguội balansa


dài 0,75 mm. Cánh hoa 5, dài 5-6 mm, hình thuôn, nhọn, mỏng, màu hồng; ống rất
ngắn. Nhị 5, dài 3 mm, chỉ nhị ngắn; bao phấn hình thuôn, nhọn ở đầu, lưng có
điểm tuyến to. Bầu hình cầu, cao 1 mm, vòi nhụy dài 6 mm, núm hình chấm. Quả
hình cầu, đường kính 5-7 mm [2, 4].
Phân bố: A. splendens mới thấy ở Đồng Nai
Mẫu nghiên cứu được thu hái tại Cát Tiên – Tân Phú – Đồng Nai:


Hình 1.2: Hình ảnh cây A. splendens
1.1.2.2.3.

Ardisia insularis – Cơm nguội đảo

Loài Ardisia insularis được Mez miêu tả khoa học lần đầu vào năm 1902. Là
loại cây bụi, cao 2-2,5 m; cành mảnh, cành non và trục cụm hoa có lông vảy màu
nâu, cành non hơi dẹt, vỏ màu xám, có đường khía dọc. Lá hình mác thuôn hoặc
bầu dục hẹp, 12-24x2,5-5 cm, chóp lá hẹp dần và nhọn, gốc hình nêm, mép hơi
gợn sóng, mặt dưới có nhiều điểm tuyến rõ; gân chính lõm ở mặt trên, gân bên
nhiều hướng lên, mảnh, nỗi rõ ở mặt dưới, gân cấp III hình mạng; cuống dài 0,51,5(1,8) cm. Cụm hoa hình chùy ở đầu cành, dài 12-15 cm, trục thứ cấp 8-10, dài
1-1,5 cm, trục tam cấp dài 0,8-2 cm; lá bắc dài khoảng 1 mm, hẹp, nhọn; cuống
hoa dài 0,3 cm. Hoa họp thành 8-12 chiếc, thành chùm ở đầu các trục chính, thứ
cấp và tam cấp. Hoa màu hồng, thơm. Lá đài 5, hình trái xoan, đầu tù hoặc nhọn,
dài 0,75 mm, có lông quanh mép, có điểm tuyến. Cánh hoa 5, hình trái xoan, dài
3-4 mm, hơi nhọn, có gân và có điểm tuyến ít rõ. Nhị 5, hình mác nhọn, bao phấn
lưng có ít điểm tuyến, chỉ nhị dài 1 mm. Bầu hình trứng, cao 0,75 mm, vòi nhụy
dài 5 mm; noãn nhiều, 3 vòng. Quả hình cầu, đường kính 4-5 mm, dẹp ở đầu.
Phân bố: Đồng Nai (Trảng Bom, núi Đỉnh). Còn có ở Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia.


Mẫu thực vật nghiên cứu thu tại Quảng Khê, Đăk Glong, Đắk Nông, Tây


Các loài thực vật thuộc chi Ardisia họ Myrsinaceae đã được nghiên cứu từ rất
sớm trên thế giới. Ngay từ năm 1968, Ogawa Hideko và các cộng sự đã tìm thấy
các hợp chất ardisiaquinon A, B, C từ loài Ardisia sieboldi của Nhật Bản [70]. Tuy
nhiên, các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các thực
vật thuộc chi này chỉ thực sự phát triển vào khoảng chục năm trở lại đây. Các kết
quả nghiên cứu gần đây cho thấy các loài Ardisia thuộc họ Myrsinaceae chứa
nhiều lớp chất thú vị, trong đó có nhiều hợp chất có cấu trúc mới, như các
tritecpen saponin, benzoquinon, flavonoid, isoflavonoid, steroid, polyphenolic, các
dẫn xuất của bergenin, các dẫn xuất của resorcinol… và có nhiều hoạt tính sinh
học đáng quý trong đó nổi trội nhất là hoạt tính gây độc tế bào, chống ung thư.


1.2.1.1. Các hợp chất có khung tritecpen saponin

Tritecpen saponin được biết đến như một lớp chất phổ biến phân bố rộng
rãi ở rất nhiều cây lớn, sinh vật biển, sự đa dạng về cấu trúc của lớp chất này đã
đem lại những hoạt tính thú vị như kháng nấm, kháng khuẩn và đặc biệt hơn là có
tác dụng ức chế tế bào ung thư rất tốt [60]. Ghi nhận trên các báo cáo từ trước cho
đến nay cho thấy lớp chất này rất phổ biến trong họ Myrsinaceae và đặc biệt rất
nhiều trong chi Ardisia.
Ban đầu việc xác định thành phần hóa học của chi này được báo cáo bởi
Chaweewan và cộng sự năm 1986 với 2 hợp chất tritecpen saponin là
ardisiacrispin A (1) và ardisiacrispin B (2) phân lập được từ rễ của cây Ardisia
crispa [36]. Hỗn hợp 2 chất này được báo cáo có thể ức chế sự tăng sinh tế bảo
Bel-7402 bằng cách gây ra sự chết tế bào theo chương trình [51].

Tên chất

R1

α-L-

α-

Rhamnopyranosyl

OH
αOH


Ardisicrenoside
A
Ardisicrenoside
B

α-

(4)

OH

CH2OH

α-

(5)

OH

β-D-xylopyranosyl

α-L-

α-

Arabinopyranosyl

β-DGlucopyranosyl

(16) CH(OCH3)2
β-D-xylopyranosyl

Primulanin

(18)

H
CHO

Cyclaminorin

(19)

H

OH
=O
αOH

β-D-



(11)

Ardisicrenoside F
(9)

Ardisicrenoside G
(10)

β-D-xylopyranoyl

β-D-xylopyranoyl

H


Ardisicrenoside N
(17)

α-L-Rhamnopyranosyl

Từ rễ loài A. japonica, các tác giả đã phân lập được 24 hợp chất tritecpen
saponin và đã khảo sát hoạt tính của chúng, trong đó có hợp chất ardisicrenoside A
đã được phân lập từ A.crenata trước đó [17, 25, 51].

STT

R1

R2


(23)

S7

α-

Ardisianosides F

(24)

S3

OH

Ardisianosides G

(25)

S4

OH

Ardisianosides H

(26)

S1

CH3


S1

S2


S3

S5

S4

S6

S7
Nghiên cứu trên loài A. mamillata, Jing Hang đã phân lập được 8 hợp chất
triterpenoid saponin từ rễ được đặt tên là ardisimamillosides (A-H) [32, 33,34],
cùng với đó 17 hợp chất triterpenoid saponin đã thu được từ loài A. gigantifolia,
trong đó 13 hợp chất được phân lập từ phần rễ thân của loài này [29, 61, 62, 63,
90].


ST
T

R1

R2

(29)

(32)

(33) CH2OAc

β-DGlucopyranosyl

H

H

β-D-

α-L-Rhamnopyranosyl

Glucopyranosy
l

CH2OH

H

(35)

CHO

H
β-Dα-

Glucopyranosy



H

OH

H

H

Điều đặc biệt ở đây sau khi phân lập các hợp chất saponin từ loài này, tác giả
đã có sự đánh giá mối tương quan giữa hoạt tính và cấu trúc, sự ảnh hưởng và hiệu
quả giữa bộ khung aglycon (tritecpen) và phần đường tới hoạt tính của lớp chất.
Kết quả chỉ ra rằng sự kết hợp của nhóm C=O tại vị trí C16, phần đường Lrhamnose của R5, nhóm acetyl của 6-OH ở phần đường glucose, làm gia tăng
đáng kể hoạt tính ức chế trên 2 dòng tế bào A549, HCT-8 song cùng với đó là sự
suy giảm hoạt tính trên dòng tế bào Bel-7402 [69].
Nghiên cứu thành phần hóa học loài A. pusilla đã phân lập được một số
tritepen saponin mới và ardipusillosides (I-V). Tất cả các hợp chất được thử
nghiệm, đánh giá hoạt tính gây độc tế bào, trong đó ardipusillosides (I, II) thể hiện
hoạt tính đáng kể trong việc chống lại ung thư biểu mô ở phổi và gan [85]. Ba hợp
chất ardipusillosides (III-V) thể hiện tiềm năng gây độc tế bào U251MG ở người
[81,82].
Gần đây, 2 loài A. kivuensis, A. elliptica cũng đã được nghiên cứu, trong việc
nỗ lực nghiên cứu thành phần hóa học của loài, một lần nữa các tritecpen saponin
mới lại được tìm thấy trong 2 loài này [65,75].
1.2.1.2.

Các hợp chất có khung quinone và alkyl phenol

Quinone là lớp chất hữu cơ bắt nguồn từ các hợp chất thơm ví như benzen
hoặc naphthalen, hợp chất này được xác định bởi sự hiện diện của 2 liên kết đôi

41

C2H5

9

42

C2H5

7

[1,4]benzoquinone
5-ethoxy-2-hydroxy-3-[(8Z)-tridec-8-en-1-yl][1,4]benzoquinone

Từ rễ và gốc loài A. viren đã phân lập được 31 hợp chất trong đó có 4 hợp
chất thuộc khung quinone và 27 hợp chất thuộc lớp chất alkyl phenol, các hợp chất
đều được thử hoạt tính gây độc tế bào trên 3 dòng tế bào MCF-7, NCI-H460 và
SF-268 và các giá trị IC50 đã được Hsun-Shuo Chang và cộng sự công bố năm
2009. Từ loài A. punctata, 3 hợp chất mới là dẫn xuất của 1, 4-benzoquinone cũng
đã được phân lập [48].
Trong những năm gần đây, loài A. kivuensis được nghiên cứu bởi nhiều nhà
khoa học. Từ năm 2011, những nghiên cứu về thành phần hóa học loài này đã
được công bố, từ lá và rễ đã phân lập được các hợp chất ardisiaquinone J-P (4350), trước đó các hợp chất ardisiaquinone (A-H) lần lượt được phân lập từ loài A.
sieboldii và A. teysmanniana [64, 65, 91].


Tên chất

STT


O

OH

CH3

10

Ardisiaquinone L

(45)

H

O

CH3

H

10

Ardisiaquinone M

(46)

H

O


OH

9

Ardisiaquinone P

(49)

OH

OCH3

OH

OH

10

Đánh giá về khả năng gây độc tế bào của dãy chất ardisiaquinone trên các
dòng tế bào HeLa, A431, MCF7 và Ishikawa, đồng thời đánh giá hoạt tính của
những chất này trên các chủng vi khuẩn đã cho kết quả rất thú vị, qua đó tác giả
cho rằng những dẫn xuất tự nhiên của lớp chất alkylphenol có hoạt tính hay, đó là
những ứng cử viên tiềm năng trong việc tìm ra những hợp chất mới trong điều trị
bệnh đặc biệt là các bệnh có liên quan tới bạch cầu và các bệnh truyền nhiễm gây
ra bởi vi khuẩn gram dương [64, 65, 70].
1.2.1.3. Các hợp chất có khung isocoumarin

Ngoại trừ các lớp chất đã nhắc đến trong chi này thì lớp chất isocoumarin
cũng rất đáng được quan tâm, điển hình như bergenin (50). Lớp chất này có nhiều


OH

OH

OH

11-O-syringylbergenin

(52)

Ome

OH

Ome

11-O-vanilloyl-bergenin

(53)

Ome

OH

H

11-O-(3-dimethylgalloyl)- bergenin

(54)

(60) 5-tridecylresorcinol

(59) ardisiphenol D

(61) 5-pentadecylresorcinol


(62) 5-[(8Z)-pentadecyl-8-en-1-yl] resorcinol
1.2.1.5. Các hợp chất có khung flavonoid
Cho đến nay, lớp chất flavonoid trong chi này được báo cáo rất ít. Năm 2005,
trong việc nghiên cứu hoạt tính ức chế PTP1B trên loài A. japonica, lần lượt các
lớp chất flavonoid phổ biến như quercitin, myricitin, kaempferol 3-O-α-Lrhamnopyranoside và rutin được tìm thấy trong loài này [52]. Đến năm 2009, từ
loài A. colorata trong một nghiên cứu của Kikuchi H và cộng sự đã phân lập được
11 hợp chất isoflavon (63-73), trong đó có một hợp chất mới coloratanin A(63)
cũng được phân lập [44].

Tên chất

STT

Cấu tạo

Gốc R

Coloratanin A
63

7,4’-dihydroxy-8-methoxyisoflavone
Genistein


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status