nghiên cứu thành phần hóa học có cấu trúc từ cây ngô thù du ở Việt Nam - Pdf 18

KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC
285
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CÓ CẤU TRÚC ALKALOIDS TỪ CÂY NGÔ THÙ DU VIỆT NAM
(EVODIA RUTAECARPA)
STUDY ON THE ALKALOID CONSTITUENTS OF VIETNAMESE
EVODIA RUTAECARPA
TRẦN MNH HNG*, MAI TH SƯƠNG SA*, V TH THƯƠNG*
DƯƠNG TH THUẤN*, NGUYN PHƯƠNG LAN*
NGUYN PHI HNG**
TÔ ĐO CƯỜNG***
TÓM TT
Ngô thù du (tên khoa học là Evodia rutaecarpa thuộc họ Cam, Rutaceae) là
một trong những dược liệu quý trong y học cổ truyền dùng để điều trị các bệnh viêm
nhiễm, sốt nóng, đau bụng… Bằng các phương pháp sắc ký, chúng tôi đã phân lập
được sáu hợp chất hóa học có cấu trúc dạng indolopyridoquinazolinone alkaloid có
tên là rutaecarpine (1), evodiamine (2), 7-hydroxyrutaecarpine (3), ketoyobyrine (4),
ketoyobyrine 16-methyl ether (5), và norketoyobyrine (6), dựa trên các đặc điểm hóa
lý, sự phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân và qua sự so sánh với các công bố khoa
học trước đó. Đây là những hợp chất quan trọng trong thực vật này và là sự công bố
cấu trúc chi tiết lần đầu tiên của dược liệu Ngô thù du của Việt Nam.
ABSTRACT
Ngo-thu-du (Evodia rutaecarpa, Rutaceae) is one of the most important traditional
plant in oriental medicine. It was used as anti-inammation, anti-fever, anti-apdominal
pain, and many other diseases. In our experiment, from the fruit of E. rutaecarpa, six
natural compounds as rutaecarpine (1), evodiamine (2), 7-hydroxyrutaecarpine (3),
ketoyobyrine (4), ketoyobyrine 16-methyl ether (5), and norketoyobyrine (6), with the
chemical structure belonging to indolopyridoquinazolinone alkaloid skeleton, were
isolated. They are the main constituents of this plant and this is the rst time those
compounds have been isolated from the Vietnamese original E. rutaecarpa.
1. Gii thiu

các hoạt tính sinh học như chống viêm, chống đông máu, chống tiêu chảy, làm tăng co
bóp cơ tim, chống béo phì và tăng khả năng miễn dịch [10-15].
Độc tính:
Nếu dùng lượng lớn NTD trong cùng một thời điểm thì sẽ gây tác dụng kích
thích thần kinh trung ương và có thể dẫn đến rối loạn thị giác, gây nên ảo giác [7, 8].
Tuy nhiên, độc tính của Evoxine rất thấp, liều chích tĩnh mạch gây chết (LD50) ở chuột
nhắt là 135g/kg [9].
Dược liệu này thường nhập của Trung Quốc vì nguồn cung cấp ở Việt Nam còn
thiếu và không được trồng và thu hái theo quy củ, luôn mang tính tự phát. Trong các
nghiên cứu của nhóm chúng tôi, dựa trên các kết quả sàng lọc sơ bộ, chúng tôi đã nhận
thấy cây NTD mọc ở Việt Nam cũng có các hoạt tính sinh học tương tự như của Trung
Quốc, do đó chúng tôi đã chọn NTD Việt Nam để nghiên cứu sâu hơn về thành phần
hóa học và tiến tới sử dụng các hợp chất này để kiểm tra hoạt tính sinh học trong điều
trị các bệnh.
2. Thiết bị, nguyên vt liu v phương php thc nghim
Để tiến hành phân tích thành phần hóa học của cây Ngô Thù Du Việt Nam, làm
cơ sở cho việc kiểm tra hoạt tính sinh học phục vụ điều trị bệnh sau này, chúng tôi đã
sử dụng một số thiết bị thí nghiệm hiện đại, một số nguyên liệu hóa chất và áp dụng
phương pháp tách chiết, cụ thể như sau:
1. Về thiết bị:
- Máy đo nhiệt Beotius: đo điểm nóng chảy
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC
287
- Máy Jassco DIP 1000 (Tokyo, Japan): đo độ quay cực (α
D
)
- Máy UV 1201 (Japan): ghi lại Phổ UV
- Máy FRIT Impact 410 (Korea): Phổ hồng ngoại (IR) ghi dưới dạng viên nén
KBr
- Máy VG Trio Mass Spectroscopy: ghi Phổ khối MS

bộ trên cột silica gel với hệ dung môi hexane-acetone theo tỉ lệ (50:1 ~ 1:1) thành 15
phân đoạn nhỏ, ký hiệu là H.1 ~ H.15. Từ phân đoạn nhỏ H-10, chúng tôi tiếp tục sử
dụng cột silicagel, rửa giải bằng hệ dung môi hexane-ethyl acetate với tỉ lệ 10:1, sau đó
thu lại các phân đoạn nhỏ hơn và dùng phương pháp kết tinh lạnh để thu được hợp chất
1 (18 mg), 2 (4.6 mg), và 3 (11.2 mg). Tiếp theo, phân đoạn H-12 được đưa vào hệ sắc
ký lỏng trung áp (MPLC, Yamazhen, Japan) dùng hệ dung môi chloroform:methanol
(20:1 và 10:1) với đầu dò UV 254 nm, thu được các hợp chất 4 (2.4 mg), 5 (7.5 mg) và
6 (11.4 mg). Các hợp chất này đều được kiểm tra qua máy sắc ký lỏng cao áp HPLC
và có độ tinh sạch trên 95 %.
Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường Đại học Duy Tân
288
3. Kết qu v tho lun (Results and Discussion)
Cao chiết methanol của quả NTD được hòa tan trong nước và phân tách lần
lượt trong các dung môi theo tính phân cực tăng dần là n-hexane, ethyl acetate và
n-buthanol. Phân đoạn n-hexane đã được tiếp tục nghiên cứu bằng các phương pháp
sắc ký (column chromatography) hiện đại sử dụng silica gel pha thường và pha đảo
thu được sáu hợp chất tinh sạch (1–6) (Hình 1). Các chất này có phản ứng dương tính
với thuốc thử Dragendoff, chứng tỏ chúng đều là các hợp chất có chứa nguyên tử nitro
(nitrogen, N)
Hợp chất số 1: Theo phân tích trên phổ khối (ESI-MS), mũi phân tử (molecular
peak) m/z 287.1 [M]
+
ứng với công thức phân tử (molecular formula) C
18
H
13
N
3
O. Các
mũi cơ bản khác trên phổ này đặc trưng cho sự phân mảnh của hợp chất quinolone

N
N
O
N
H
N O
N
H
N O
N
H
N
O
1 2
3
4
5 6
OH
MeO
Hình 1. Cấu trúc hóa học của các hợp chất được chiết ra từ quả Ngô thù du (1–6).
Hợp chất số 2: Dựa trên phân tích trên phổ khối (ESI-MS), mũi phân tử (molecular
peak) m/z 307.1 [M]
+
ứng với công thức phân tử C
19
H
19
N
3
O. Các mũi cơ bản khác trên

1
H NMR) và
carbon (
13
C NMR) giống như hợp chất số 1 và số 2. Tuy nhiên có một sự khác biệt lớn
là ở vị trí carbon số 7 (C-7). Trên phổ cộng hưởng từ
13
C NMR còn có sự xuất hiện của
một đỉnh hydroxy carbon (C-OH) ở vị trí 74.8 ppm, tại vị trí này, proton (H-7) có độ
dịch chuyển hóa học δ
H
6.91 ppm với hình dạng 2 mũi đôi (double doules) (1H, dd).
Đây là đặc trưng của nhóm hydroxylated carbon trong khung cấu trúc hóa học dạng
indolopyridoquinazolinone alkaloid. Dựa theo độ dịch chuyển hóa học và hằng số
ghép, hướng của nhóm hydroxy (OH) được xác định là beta (β orientation). Dựa trên
phân tích trên phổ khối (ESI-MS), mũi phân tử (molecular peak) m/z 305.12 [M]
+
ứng
với công thức phân tử C
18
H
15
N
3
O. Sau khi so sánh từng vị trí và tham khảo các bài báo
đã công bố trước đó, cấu trúc số 3 được xác định tên là 7-hydroxyrutaecarpine [7-13].
Hợp chất số 4: Hợp chất này có các đặc điểm trên phổ proton (
1
H NMR) và
carbon (

C NMR) giống như hợp chất số 4. Tuy nhiên có một sự khác biệt là có sự
xuất hiện thêm một nhóm methoxyl có độ dịch chuyển hóa học là δ
H
3.84 ppm (3H, s),
và δ
C
55.9 ppm trên phổ cộng hưởng từ
1
H và
13
C NMR. Dựa trên phân tích trong phổ
khối (ESI-MS), mũi phân tử (molecular peak) m/z 318.2 [M]
+
ứng với công thức phân
tử C
20
H
18
N
2
O
2
. Sau khi so sánh từng vị trí và tham khảo các bài báo đã công bố trước
đó, cấu trúc số 5 được xác định tên là ketoyobyrine 16-methyl ether [15-17].
Hợp chất số 6: Hợp chất này có các đặc điểm trên phổ proton (
1
H NMR) và
carbon (
13
C NMR) giống như hợp chất số 4 và số 5. Tuy nhiên có một sự khác biệt lớn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status