TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜI TRONG TẬP TRUYỆN
CON TÀU TRẮNG CỦA CHZ. AITMATOV
NHÌN TỪ LÍ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Lý luận Văn học
Sơn La, tháng 5 năm 2017
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜI TRONG TẬP TRUYỆN
CON TÀU TRẮNG CỦA CHZ. AITMATOV
NHÌN TỪ LÍ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Lý luận Văn học
Sinh viên thực hiện: Trần Hồng Nhung
Nam, nữ: Nữ
Dân tộc: Kinh
Lớp: K55 ĐHSP Ngữ văn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ........................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 6
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 6
4.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................ 6
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 6
6. Đóng góp đề tài ............................................................................................................ 7
7. Cấu trúc đề tài........................................................................................................................7
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI .......................................... 8
1.1. Một vài khái niệm về Sinh thái.............................................................................. 8
1.1.1. Sinh thái và Sinh thái học ............................................................................. 8
1.1.2. Tự nhiên ......................................................................................................... 9
1.1.3. Môi trường và môi trường sinh thái ........................................................... 11
1.1.4. Vấn đề sinh thái và môi trường trong xã hội hiện nay.............................. 13
1.2. Phê bình sinh thái ................................................................................................. 17
1.2.1. Khái niệm ...................................................................................................... 17
1.2.2. Lịch sử phát triển ......................................................................................... 19
1.2.2.1. Giai đoạn đầu (từ năm 1972 đến 1990)............................................ 19
1.2.2.2. Giai đoạn hai (từ năm 1991 đến 2007) ............................................ 20
1.2.2.3. Giai đoạn chuyển hướng (từ năm 2008 đến nay) ............................. 21
1.2.3. Khuynh hướng ............................................................................................. 22
Chƣơng 2. THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜITRONG TRUYỆN CỦA CHZ.
AITMATOV ................................................................................................................. 24
2.1. Thiên nhiên ............................................................................................................ 24
2.1.1. Tươi đẹp và hiền hòa ................................................................................... 25
làm thay đổi thái độ của nhân loại với tự nhiên thông qua hệ thống lí thuyết của mình.
Vậy ta có thể hiểu phê bình sinh thái là xem xét mối quan hệ giữa con người và những
yếu tố tự nhiên từ đó cảnh tỉnh về nguy cơ của khủng hoảng sinh thái, phân tích số
phận con người trong cuộc khủng hoảng sinh thái chỉ ra những căn nguyên của những
thảm họa môi trường. Mặt khác vấn đề tự nhiên bao giờ cũng có mối liên hệ với xã
hội, kết nối tính sinh thái với các vấn đề xã hội. Thực trạng suy thoái môi trường c ần
thức tỉnh ý thức sinh thái và ta ̣o ra những góc nhìn khác về sự số ng mà có thể cung cấ p
nề n tảng đa ̣o đức và kiế n thức cho cách hiể u đúng đắ n về tương quan giữa các tồ n ta ̣i
trên trái đấ t.
Có rất nhiều nhà văn quan tâm đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
nhưng mỗi người có một cách viết, cách cảm khác nhau. Một trong những nhà văn ấy
ta phải kể đến người con của nước cộng hòa Kirghizia nhà văn Chinghiz Aitmatov.
Người đặc biệt dành tình cảm của mình cho thiên nhiên cho đất nước con người Nga.
Mỗi tác phẩm của ông là một bức thông điệp, mang đến tay bạn đọc không chỉ là hình
ảnh những con người Nga với đủ dáng vẻ, tính cách mà còn đưa ta đến thiên đường
đầy màu sắc, vẻ đẹp của thiên nhiên Nga, đến với những truyền thuyết những huyền
thoại lung linh huyền ảo. Bên cạnh vẻ đẹp ấy, tác phẩm của ông mang đậm lý tưởng
1
nhân văn, hướng thiện, tràn ngập tình cảm sâu kín mà rất nhân bản trong cuộc sống
con người và đặc biệt là các tác phẩm của Aitmatov đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết mang
triết lí sinh thái sâu sắc về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người.
Nhà văn Aitmatov đã tạo cho tôi một rung cảm sâu lắng bởi những vẻ đẹp từ
những điều bình dị, quen thuộc về thiên nhiên con người trong các sáng tác của ông.
Đó là một bức tranh sinh động mà tôi chưa bao giờ được đặt chân, vậy mà nó khiến tôi
mê mẩn văn của ông, giống như tôi được yêu vậy. Không cần bất cứ chuyến tàu nào
hay chuyến bay nào, tâm chí tôi được những dòng văn của Aitmatov chở đến những
vùng thảo nguyên xanh mơn mởn, đến với những vùng hoang mạc khô cằn. Bởi vậy
nữa” [1;6]. Các tác phẩm của Aitmatov luôn đổi mới, hấp dẫn thu hút bạn đọc, tiếp
nhận tác phẩm luôn phải tự đổi mới tư duy chạy theo sự “suy tưởng” và “khái quát”.
Tác phẩm của ông luôn chứa đầy triết lí, những thông điệp phản ánh được những mâu
thuẫn phức tạp của cuộc sống. Qua tác phẩm của mình ông luôn đưa ra trách nhiệm
của mỗi cá nhân, phê phán những mặt trái, nguy cơ và hậu quả để từ đó truyền tải điều
mình muốn nói đến bạn đọc. Một trong những điều mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc
đó, tôi nhận ra vấn đề cấp thiết của xã hội mà tác giả đã đã đề cập trong tác phẩm đó
là “vấn đề môi trường sinh thái” một vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay. Từ các
hình ảnh về thế giới động - thực - vật mà trong trong đó tiêu biểu là hình ảnh tự nhiên
được lấy làm hình ảnh trung tâm để khảo sát và nói lên mối quan hệ gắn bó giữa con
người và tự nhiên, đưa ra nguy cơ và ý thức trách nhiệm sinh thái những hiểm họa môi
trường, phản ánh nguy cơ sinh thái.
Bài viết của Hà Văn Lưỡng về Các kiểu thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết
Một ngày dài hơn thế kỷ của Chinghiz Aitmatov trên Tạp chí Sông Hương năm 2008
đã khẳng định giá trị, tài năng của Aitmatov và đồng thời đưa ra ý nghĩa qua sự gắn bó
giữa thiên nhiên và con người trong tác phẩm của ông: “Những sáng tác của
Ch.Aitmatov nổi bật ở tình yêu đối với con người, thiên nhiên và cả loài vật, vì vậy nó
mang ý nghĩa triết lý nhân sinh và giá trị nhân đạo sâu sắc. Hiện thực cuộc sống được
tái hiện một cách sống động bằng một tư duy nghệ thuật đặc sắc của ông đã tạo nên
một sự lôi cuốn, hấp dẫn và hứng thú đối với độc giả” [8].
Truyện Aitmatov mang đậm màu sắc huyền thoại là đặc trưng nổi bật được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Năm 2010, trong Bàn về huyền thoại, truyền thuyết
trong văn xuôi Aitmatốp, Hà Văn Lưỡng viết rất rõ về yếu tố “huyền thoại” mà trong
đó có đề cập đến một khía cạnh của vấn đề sinh thái, trong tập truyện Con tầu trắng
của Aitmatov: Vĩnh biệt Gunxarư là “bài ca của người thợ săn trong Vĩnh biệt
Gunxarư kể về số phận bi kịch của cha con người thợ săn dẫn đến cái chết của người
con và nỗi đau xót đến cực độ của người cha phải tự tay giết con mình. Khi đặt huyền
thoại trên bên cạnh cái chết của Trôsô và thái độ ăn năn hối lỗi trong cách cư xử của
3
của thiên nhiên: “Đan xem, hòa lẫn với lời kể chân thực là những lời tả chi tiết của
người kể chuyện về phong cảnh thiên nhiên và con người. Phong cảnh thiên nhiên
trong Vĩnh biệt Gunxarư được miêu tả gắn liền với khung cảnh quê hương Kirghizia
thân thuộc, yêu thương của tác giả. Đó là hình ảnh “chân dốc Alếchxanđrốpka, là
4
những thảo nguyên bao la, mênh mang vô tận. Nó tạo nên ấn tượng không dễ gì phai
nhạt đối với độc giả khi chứng kiến những vẻ đẹp huyền ảo, yên bình mà không phải
nơi đâu cũng có được” [1;32]. Trong trong phần người kể truyện hữu hình tác giả viết
về sự đồng cảm của nhân vật, nhưng nó cũng có liên quan đến phê bình sinh thái về
việc bảo vệ thiên nhiên mà trong đề tài của tôi cũng sẽ đề cập đến: “Tấm lòng đồng
cảm với số phận của nhân vật thể hiện qua giọng trầm buồn của người kể chuyện còn
là khi Tanabai oan ức trong cảnh đàn cừu chết. Những khó khăn về thời tiết, sự thiếu
thốn về vật chất đã không được thấu hiểu, sự cố gắng của con người không thể chống
chọi được với sự khắc nghiệt của hoàn cảnh” [1;45]. Qua luận văn của Phạm Thì Ngọc
chúng ta hiểu được các kiểu loại người kể chuyện trong sáng tác của Chz. Aimatov,
đồng thời hiểu được các đặc điểm của từng kiểu loại người kể chuyện đó. Cụ thể các
đặc điểm đó là lời người kể chuyện, giọng điệu người kể chuyện và điểm nhìn của
người kể chuyện. Thấy được sự khác biệt giữa các kiểu người kể chuyện trong sáng
tác của Chz. Aimatov.
Nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái, luận án tiến sĩ của Trần Thị Ánh Nguyệt
viết về Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê
bình sinh thái (2015) nhắc đến một khía cạnh nhỏ lí thuyết phê bình sinh thái qua
truyện Vĩnh biệt Gunxarư của Aitmatov đó là: “Nhớ lại Vĩnh biệt Gunxarư (Aitmatov),
gia đình ông Tanabai cuống cuồng, đau đớn như thế nào khi không chăm sóc được
những con cừu mới đẻ. Cái tình thế đầy đau đớn, tiếng kêu của vật, sự biểu hiện khát
sữa thèm ăn… của con vật nhắc nhở con người về một trách nhiệm nặng nề mà anh ta
không làm tròn” [14;60].
phê bình sinh thái trên thế giới, nhiệm vụ của phê bình sinh thái.
- Làm sáng tỏ hình tượng thiên nhiên, con người và mối quan hệ giữa thiên
nhiên và con người trong truyện Aitmatov để thấy được âm hưởng sinh thái.
- Giải mã các kí hiệu sinh thái trong truyện Aitmatov từ góc nhìn huyền thoại,
tôn giáo để lí giải nguồn gốc, nguyên nhân của tư tưởng sinh thái trong truyện
Aitmatov.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài đã đề ra, trong quá tình thực hiện, bên
cạnh một số thao tác nghiên cứu cơ bản như thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, tôi
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phƣơng pháp liên ngành: Chúng tôi dùng phương pháp này để liên kết văn
học với lí thuyết phê bình sinh thái nghĩa là sinh thái học nhân văn, từ đó đáp ứng nhu
cầu giải quyết vấn đề của thực tiễn, vấn đề sinh thái hiện nay.
Phƣơng pháp loại hình học: Nghiên cứu truyện ngắn của Aitmatov chúng tôi
căn cứ những đặc trưng cơ bản của lí thuyết phê bình sinh thái để chỉ ra những đặc
6
điểm chung của tập Con tầu trắng với lí thuyết phê bình sinh thái, đồng thời chỉ ra
những nét riêng, độc đáo từ lí thuyết phê bình sinh thái trong tác phẩm này.
Phƣơng pháp thi pháp học: Nội dung ý nghĩa tác phẩm được thể hiện thông
qua tư tưởng sinh thái mang nghĩa. Chúng tôi tiếp nhận tập truyện Con tầu trắng dựa
trên các dấu hiệu hình thức độc đáo của phê bình sinh thái, từ đó khám phá ý nghĩa
bên trong, tư tưởng phê bình sinh thái ẩn bên trong mỗi hình thức (quan niệm về con
người - tự nhiên, tự nhiên - văn học). Nhận diện khuynh hướng văn xuôi sinh thái qua
điểm nhìn, motif cốt truyện, nhân vật, giọng điệu.
Phƣơng pháp văn hóa học: Đặt các truyện ngắn trong tập Con tầu trắng
nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái liên hệ với văn hóa, tôn giáo góp phần hiểu sâu
sắc hơn ý nghĩa của tác phẩm và lí giải nguồn gốc hình thành của lí thuyết phê bình
con người làm ảnh hưởng đến môi trường sống, làm biến đổi hệ sinh thái, đe dọa đến
chất lượng cuộc sống và chính sự tồn tại của chính con người. Trước tình hình ấy con
người không thể vô cảm, dửng dưng được nữa. Mà yêu cầu đặt ra ngay lúc này là tìm
một biện pháp, phương pháp để khắc phục vấn nạn trên. Phải biết song hành giữa đổi
mới phát triển và giữ vững sự tồn tại phát triển của hệ sinh thái. Để đáp ứng được nhu
cầu của thời đại sinh thái học đã ra đời mở ra một chương mới trong cuốn sách diệu kì,
mang đến cho con người những kiến thức mới mẻ, tầm hiểu biết sâu hơn về môi
trường, về việc bảo vệ môi trường.
Sinh thái theo tiếng Hy Lạp là “oikos” có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh
sống. Cũng đưa ra khái niệm này Nguyễn Thị Tịnh Thy trong cuốn “Rừng khô, suối
cạn, biển độc và văn chương” viết: Ecological (sinh thái) bắt nguồn từ oikos (nơi ở)
trong tiếng Hi Lạp. “Ban đầu người ta hiểu “sinh thái” chỉ trạng thái sinh tồn của tất cả
sinh vật cho đến mối quan hệ mật thiết của chúng giữa chúng với môi trường” [14;20].
Còn sinh thái học là “oikoslogos” ở đây “logos” có nghĩa là khoa học, học
thuyết. Như vậy, sinh thái học theo nguồn gốc tiếng Hy Lạp chính là học thuyết về nơi
cư trú, về chỗ ở hay “điều kiện sinh sống” của sinh vật. Ngày nay tuy đã có hàng trăm
định nghĩa khác nhau về sinh thái học, song nguồn gốc thuật ngữ của nó vẫn còn giá
trị theo cách hiểu chung nhất được nêu ra trong các tài liệu khoa học và phổ biến kiến
thức thì định nghĩa sinh thái học (ecologi) các mối quan hệ qua lại và tác động lẫn
nhau giữa các cơ thể sống và môi trường xung quanh chúng. Cơ thể sống là toàn bộ
thế giới sinh vật. Đặc trưng chung của tất cả các cơ thể sống là sự sống, được biểu hiện
qua các quá trình trao đổi chất, năng lượng, thông tin; quá trình di truyền; biến dị; quá
trình thích nghi, biến đối; quá trình sinh, lão, bệnh, tử. Còn môi trường sung quanh hay
môi trường sống là toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự sinh tồn
của cơ thể sống” [3;9-10] đi vào làm sáng tỏ khái niệm sinh thái mà giáo sư Trần Lê
Bảo đưa ra thì sinh thái là khái niệm đã có từ lâu và bắt nguồn theo tiếng Hy Lạp nơi
8
Đi vào tìm hiểu khái niệm “tự nhiên” để từ đó chúng ta có được cái nhìn bao
quát về phê bình sinh thái, quan niệm của phê bình sinh thái giữa con người - tự nhiên,
9
tự nhiên - văn hóa.
Hiểu theo nghĩa hẹp tự nhiên là tập hợp các điều kiện khách quan sẵn có tồn tại
ngoài tác động của con người và những điều kiện vật chất cần cho sự tồn tại của xã hội
loài người do chính con người tạo ra. Để phân biệt với thế giới được bàn tay con người
tạo ra chúng ta có thể hiểu theo khái niệm về tự nhiên (nature) mà gốc Latin của nó là
natura, nghĩa là “đặc điểm thuộc về tự nhiên, vũ trụ” hay natus (sự sinh ra, được sinh
ra) khác những vật chất tồn tại do có bàn tay con người tác động. Khẳng định ý thức
sinh thái, thấy rằng nhân loại không phải là chủ nhân của tự nhiên, tự nhiên cũng
không phải đối tượng tiêu dùng của nhân loại, tự nhiên tồn tại độc lập.
Theo nguồn Wikipedia định nghĩa:““Tự nhiên” hay còn được gọi thiên nhiên,
là thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên (tiếng Anh: nature) là tất cả vật
chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất. “Tự nhiên” nói đến các hiện tượng xảy
ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung. Phạm vi bao quát của
nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới những khoảng cách lớn trong vũ trụ”[21]. Nghiên cứu
về tự nhiên là một mảnh ghép lớn trong thế giới khoa học. Trong đó có nghiên cứu về
tự nhiên đặt trong văn học qua đó ta có thể thấy được quan hệ giữa con người và tự
nhiên là quan hệ phát triển hài hòa, cộng sinh, cùng có lợi. Vì vậy phải đặt ý thức bảo
vệ tự nhiên lên hàng đầu. Con người phải biết nhận thức đầy đủ hơn khi những ảnh
hưởng về hoạt động của nhân loại với tự nhiên là quá lớn. Dù cho con người hiểu thiên
nhiên là một phần của tự nhiên, những hoạt động của con người thường được phân biệt
rạch ròi khỏi những hiện tượng tự nhiên. Nhưng tự nhiên cũng là cái bị con người sở
hữu và chiếm hữu theo nhiều cách. “Tự nhiên” do đó đã không còn là nó một cách
nguyên thủy, mà các yếu tố cấu thành nó ít nhiều đều bị quy định bởi con người.
Một cách hiểu khác từ nature có nguồn gốc trong tiếng Latin natura, có nghĩa là
hay “toàn thể tự nhiên”. Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi
ngày nay vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự nhiên và nhân tạo, với
những thứ nhân tạo được ngầm hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người. Phụ thuộc
vào từng ngữ cảnh, thuật ngữ “tự nhiên” cũng có thể khác hẳn với từ “không tự nhiên”
hay “siêu nhiên””[21].
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa Thiên nhiên là: “Tổng thể nói
chung những gì tồn tại chung quanh con người mà không phải do con người tạo
ra”[16;924]. Ví dụ: Thảm thực vật, vi sinh vật, đất đá, không khí, và các hiện tượng tự
nhiên…
Qua các khái niệm trên ta hiểu được tự nhiên hay còn gọi là thiên nhiên là những
gì tồn tại trên trái đất, xung quanh con người, không phải do con người tạo ra, gắn liền
với cuộc sống của con người. Có sự ảnh hưởng tác động qua lại đến cuộc sống
của con người.
11
1.1.3. Môi trường và môi trường sinh thái
Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Môi
trường rất quan trọng đối với cuộc sống của con người, môi trường là nguồn sống của
con người, cung cấp điều kiện cho con người sống và tồn tại, nếu không có những yếu
tố về môi trường tác động thì con người không thể tồn tại và phát triển được. Môi
trường có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển của con
người. Như môi trường thiên nhiên thì nó vốn cung cấp những thứ chúng ta cần một
cách vô điều kiện, cung cấp thức ăn, lương thực, ánh sáng, cảnh quan, nguồn tài
nguyên giúp thúc đẩy kinh tế tạo ra của cải vật chất… Còn môi trường xã hội lại là nơi
đưa chúng ta theo một khuôn phép chuẩn mực quy định để chúng ta dần hoàn thiện,
hình thành nhân cách con người hoàn chỉnh. Như vậy, ta thấy môi trường là tất cả
những điều kiện mà trong đó con người tồn tại và phát triển. Để hiểu sâu hơn về khái
niệm môi trường chúng ta đi vào tìm hiểu những khái niệm có liên quan qua các tài
sống, sản xuất của con người như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh
sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội... và theo nghĩa hẹp “không xét tới tài nguyên thiên
nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng
cuộc sống con người, do con người đưa ra và tuân thủ theo” [22].
Ta có thể gọi môi trường tự nhiên bằng nhiều tên khác như sinh quyển vùng
tồn tại sự sống trên trái đất hay môi trường sinh địa hóa học, môi trường sống… và
bao quát nhất gọi là môi trường sinh thái.
Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát
triển và nó cũng chính là một trong những đứa con nhỏ của môi trường sinh thái một
người mẹ có vai trò vô cùng quan trọng. Nói một cách cụ thể hơn ta có thể hiểu “môi
trƣờng sinh thái là môi trường sống hay cái nhà ở của sinh vật, bao gồm tất cả các
điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể” ta có thể hiểu nó bao gồm
tất cả mọi yếu tố đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu và
các yếu tố này luôn có sự gắn bó chặt chẽ, tác động đến nhau, là điều kiện thường
xuyên và tất yếu với sự tồn tại và phát triển của xã hội, qua từng bước phát triển qua
các giai đoạn khác nhau trong lịch sử phát triển của loài người thì nó lại thể hiện một
vai trò rất riêng cuả mình.
1.1.4. Vấn đề sinh thái và môi trường trong xã hội hiện nay
Chúng ta hiểu mâu thuẫn không đơn thuần là đối lập hay đối kháng, mà chỉ như
hai mặt của tờ giấy không có mặt nào tốt hay xấu hơn, nhưng chúng luôn tồn tại song
hành và luôn có nhau, tác động sâu sắc đến nhau, quy định lẫn nhau. Mâu thuẫn là
thuộc tính của tự nhiên: có lực hấp dẫn thì có ly tâm, có vật chất thì có phản vật chất,
có trái có phải, trên và dưới, nếu không thế thì không có điều kiện cân bằng để tồn tại.
Nhưng sự tác động nào cũng có mặt hạn chế của nó và một trong những hạn chế đáng
quan tâm nhất hiện nay là mâu thuẫn của vấn đề môi trường sinh thái, dưới góc độ triết
13
học- xã hội vấn đề môi trường sinh thái là một điều mới mẻ. Trong vài thập kỷ gần
và diện tích đất canh tác theo đầu người, con người luôn sử dụng lãng phí tài nguyên
14
đất mà không nhận ra, biển và tài nguyên biển đang dần cạn kiệt và suy giảm hơn hết
là hậu quả của con người gây nên làm ô nhiễm do dầu mỏ, do chất độc từ các chất hóa
học... Chúng ta chưa biết cách sử dụng tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh vật, các
hệ sinh thái… một cách khoa học và hợp lý làm nghèo tài nguyên của chính nước ta
một nước ban đầu được đánh giá là giàu tài nguyên thiên nhiên. Không chỉ những
nguyên nhân hiện nay mà còn từ xưa, nước ta phải đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh
đã khiến các chất độc hại đã và đang gây ra những hậu quả cực kì nghiêm trọng đối
với môi trường thiên nhiên Việt Nam.
Chúng ta cũng đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu để tìm ra những
nguyên nhân và phương án giải quyết tối ưu nhất về sự nguy cấp trầm trọng của môi
trường sinh thái, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của con người hiện nay. Đi vào
nghiên cứu vấn đề này thực chất cũng chính là đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên và xã hội. Con người phải làm rõ được các mối liên hệ giữa tự
nhiên - con người và nguyên nhân của sự biến đổi tự nhiên khiến con người cũng phải
thích nghi theo.
Môi trường là yếu tố quyết định sự tồn tại của con người và con người hiện nay
đang tác động mạnh vào môi trường gây ra những hậu quả nghiêm trọng, mất cân
bằng, mà con người lại phải gánh chịu ngược lại những hậu quả ấy. Chúng ta biết môi
trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên và xã hội.Trong môi trường
đó con người chúng ta sinh tồn và phát triển. Nếu một trong hai yếu tố tựu nhiên hoặc
xã hội bị ảnh hưởng thì sẽ gây ra hiệu quả mất cần làm biến đổi trật tự, mất cân bằng
xảy ra thiên tai, vậy mà hiện nay con người đang trực tiếp làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến môi trường tự nhiên. Vì vậy chúng ta phải hiểu được thực trạng môi trường
hiện nay từ đó mới ý thức được việc bảo vệ môi trường sao cho hiệu quả, do tôi không
thể đưa ra được số liệu cụ thể bài viết sẽ đưa ra tình trạng chung của môi trường hiện nay:
đáng kể trong những năm vừa qua đang làm cho thế giới không an tâm. Biến đổi khí
hậu trên thế giới dẫn đến thiên tai, động đất, sóng thần, lũ lụt ngày càng xuất hiện với
mật độ nhiều và nặng hơn.Những báo cáo về sự tăng nhiệt độ trong mùa hè, mùa đông
không đủ lạnh và khối lượng đất đóng băng cũng giảm. Ảnh hưởng của nó không chỉ
gây tử vong cho con người mà còn cho các loài khác sống ở hành tinh.
Con người trực tiếp quản lí các chất thải nguy hại: dân số ngày càng tăng, vì
vậy mà lượng tiêu thụ ngày càng lớn và lượng chất thải, thải ra môi trường ngày càng
nhiều, việc quản lí nó cũng được đặt ra như một vấn đề cấp thiết. Con người đã đưa ra
nhiều hình thức xử lý như phân loại ra, một loại có thể phân hủy sinh học và một loại
không thể phân hủy. Nhưng không phải hầu hết được xử lí triệt để, do một phần là vấn
đề mất gốc trong lối sống của con người chúng ta, đó là chuyển động nhanh và nhẫn
tâm trong suy nghĩ và hành động. Vấn đề này thể hiện rõ ràng hơn xung quanh các
16
vùng đô thị của thế giới. Các giải pháp sửa chữa nhanh chóng của các bãi chôn lấp và
các trung tâm tái chế không được chứng minh. Trong thực tế, tràn đầy các bãi chôn
lấp, đặc biệt là ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới, đang gây ra sức khỏe nghiêm
trọng hơn và các vấn đề môi trường trong khu vực.
Chúng ta không thể không đồng ý với việc bước theo đà phát triển của xã hội,
hay nghiên cứu về thiết bị khoa học xã hội để đáp ứng sự thay đổi cuộc sống của
chúng ta nhưng việc bảo vệ môi trường là vô cùng quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến
con người chúng ta. Vấn đề thách thức khó khăn nhất đặt ra là làm thế nào để tuyên
truyền nâng cao nhận thức và giáo dục người dân về sự thoái hóa các nguồn lực màu
xanh. Nhiều vấn đề mà nguyên nhân là bởi chúng ta làm theo lối sống, mà không có
một ý thức về hậu quả.. Bạn hãy hiểu chúng ta chỉ có một hành tinh, chỉ có một nhà,
chúng ta không thể mất nó để thõa mãn sự tham lam của chúng ta!
1.2. Phê bình sinh thái
Như ở trên chúng ta đã biết môi trường là yếu tố vô cùng cần thiết cho cuộc
niệm sinh thái học cho việc đọc ,giảng dạy và sáng tác văn học để từ đó phát triển
thành môn văn hóa sinh thái” [18;139].
Năm 1990 trong công trình (Những) giá trị văn học, James S.Hans đưa ra định
nghĩa: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác) từ
bối cảnh xã hội và địa cầu. Văn học không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và khác
và khác biệt với thế giới bên ngoài. Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn
trong bản thân nó thì sẽ làm cản trở mối liên hệ rất quan trọng của văn học với các hệ
thống khác, mà chính những mối liên hệ đó đã kết hợp biểu đạt mối quan hệ của chúng
ta” [18;139-140].
Để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên cứu tư tưởng,
văn hóa, mô hình Phê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn
hóa và văn học được hình thành rất sớm theo tài liệu dịch phê bình sinh thái cội nguồn
của sự phát triển trong tuyển tập văn luận văn học sinh thái Trung Quốc và thế giới có
cho biết phê bình sinh thái với tư cách là phê bình văn hóa và văn học đã được hình
thành ở Mỹ vào giữa những năm 90 của thế kỉ 20, và xuất hiện ở nhiều nơi trên thế
giới. Và người đưa ra được khái niệm phê bình sinh thái và cũng là người khởi sướng,
phát triển sinh thái là người Mỹ tên là Cheryll Glotfelty, trong những thuật ngữ đưa ra
về phê bình sinh thái thì định nghĩa của ông được nhiều người tiếp nhận nhất:“Phê
bình sinh thái là phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên”[18;145].
Chính học giả văn học người Mỹ Karl Kroeber là giáo sư tiếng Anh và văn học
so sánh tại Đại học Columbia người đã viết rộng rãi trên phê bình văn học và mối quan
hệ của nó đến môi trường sinh thái, văn học truyền thống và lịch sử nghệ thuật ông
cho rằng: “Phê bình sinh thái không phải đem phương pháp nghiên cứu sinh thái
học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương pháp nghiên cứu của bất kì khoa học
18
tự nhiên nào khác vào phân tích văn học. Nó chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất
của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi”[18;145] quan điểm này đã
19
và diễn biến văn học. Năm 1978 thuật ngữ phê bình sinh thái chính thức được đề xuất
do William Rueckert người đầu tiên sử dụng khái niệm “phê bình sinh thái”
(ecocriticism), đề xướng một cách rõ ràng “kết hợp hợp văn học và sinh thái học”,
nhấn mạnh rằng nhà phê bình “phải có cái nhìn sinh thái học”, cho rằng nhà lí luận
văn nghệ nên “xây dựng đƣợc một hệ thống thi học sinh thái”[18;181] trong bài viết
có tiên đề “văn học và sinh thái” sau đó sinh thái học phát triển với nhiều bài viết mới.
Nhưng tóm lại ở giai đoạn này phê bình sinh thái mới bắt đầu manh nha, việc
nghiên cứu phê bình sinh thái nhằm mục đích phê phán thuyết con người là trung tâm
(Anthropocentrism) tồn tại trong tư tưởng nhân loại. Những bài viết chưa có những đặc
trưng nổi bật của phê bình sinh thái mới chỉ có những bài viết về “văn học môi trường”
(environmental literature) hoặc “lối viết tự nhiên” (Nature writing). Nhưng đó cũng là
tiền đề để phê bình sinh thái ngày càng phát triển ở giai đoạn sau.
1.2.2.2. Giai đoạn hai (từ năm 1991 đến 2007)
Nếu ở giai đoạn đầu sinh thái học mới bắt đầu manh nha thì đến giai đoạn này
phê bình sinh thái bước vào thời kì phát triển nhất với nhiều hội nghị hội thảo khoa
học bàn về phê bình sinh thái: năm 1991 có hội thảo khoa học bàn về “Phê bình sinh
thái: xanh hóa mối nghiên cứu văn học” do Harold Fromm tổ chức, Cùng Năm 1991
giáo sư Jonathan Bate Đại học Liverpool nước Anh cho xuất bản chuyên luận Sinh
thái học của chủ nghĩa lãng mạn: Wordsworth và truyền thống môi trường, nghiên cứu
văn học lãng mạn từ góc độ sinh thái học. Trong cuốn sách này, Bate cũng sử dụng
thuật ngữ phê bình sinh thái, ông gọi nó là “phê bình sinh thái của văn học” (literary
ecocriticism). Có học giả cho rằng, sự xuất hiện của chuyên luận này đánh dấu bước
mở đầu của phê bình sinh thái Anh. Cuốn sách có tính nền tảng cho phê bình văn sinh
thái ở Anh này đã “trở thành kinh điển”. Cũng năm đó, Hội Ngôn ngữ học hiện đại
tiến hành hội thảo khoa học với chủ đề “Phê bình sinh thái: xanh hóa nghiên cứu văn
học” [5] đến 1992 phê bình sinh thái trở thành thuật ngữ văn học được công nhận rộng
rãi qua việc thành lập tổ chức chuyên nghiệp mang tính quốc tế tại đại học Nevara Mỹ