BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
------------------------------------------------
Nguyễn Thanh Minh
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
THEO CẤU TRÚC MODUL CHO ĐÀO TẠO NGHỀ
ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CÔNG NGHIỆP VIỆT ĐỨC
Luận văn thạc sĩ sư phạm kỹ thuật
Hướng dẫn khoa học: TS Lê Viết Khuyến
GS TS Hanno Hortsch
Hà nội 2007
1
LỜI CẢM ƠN
V
ới tình cảm chân thành của tác giả, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
sâu sắc tới Ban Giám Hiệu cùng các Giáo sư, Giảng viên hai trường Đại học
Bách khoa Hà nội và trường Đại học Tổng hợp kỹ thuật Dresden (CHLB Đức) và
các Giảng viên của Viện Chiến lược và Phát triển chương trình giáo dục đã tham gia
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH
ĐÀO TẠO THEO MODULE
1.1 .Tổng quan về chương trình đào tạo.
1.1.1 . Khái niệm chương trình đào tạo .
1.1.2. Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo.
1.1.3. Đổi mới nội dung chương trình đào tạo.
1.1.4. Chương trình đào tạo và cách tiếp cận.
1.1.5 . Những thuật ngữ liên quan đến chương trình đào tạo.
1.2 . Chương trình đào tạo theo modul và các quan điểm về modul.
1.2.1. Cơ sở lý luận khi thiết kế chương trình theo module.
1.2.2. Modul và khái niệm modul.
1.2.3. Các quan điểm về thiết kế chương trình theo Module.
1.2.4. Các mục tiêu của modul.
1.3. Đánh giá và các mục tiêu đánh giá trong các khoá học module.
1.3.1. Sự quan trọng của đánh giá trong đào tạo theo modul.
1.3.2. Đánh giá liên tục.
1.3.3. Nội dung đánh giá.
1.4. Cấu trúc của Modul đào tạo nghề.
1.4.1. Khái niệm về cấu trúc modul đào tạo.
1.4.2. Các kiểu cấu trúc chương trình đào tạo nghề.
1.4.3. Ưu điểm của đào tạo theo cấu trúc mô hình module.
1.4.4. Hạn chế của đào tạo theo modul (Đào tạo nghề theo modul).
1.4.5. Các dấu hiệu cơ bản trong đào tạo theo Module.
1.4.6. Các bước xây dựng chương trình đào tạo theo module.
1.5. Cấu trúc chương trình đào tạo nghề dựa trên Năng lực thực hiện.
1.5.1.Vai trò của người học nghề
1.5.2. Đào tạo nghề dựa trên Năng lực thực hiện.
1.5.3. Mối quan hệ của các thành phần trong chương trình đào tạo nghề
theo modul
40
41
42
3
Chương 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CĐCN VIỆT ĐỨC
2.1. Giới thiệu về trường CĐCN Việt Đức
2.1.1. Một số đặc điểm của nhà trường
2.1.2. Điều kiện khác đáp ứng cho việc dạy và học
2.2. Phân tích đánh giá chương trình đào tạo hiện hành
2.2.1. Khái quát về chương trình các môn học.
2.2.2. Về phân phối thời gian toàn khoá.
2.2.3. Về chương trình các môn học.
2.2.4. Đặc điểm nội dung và hình thức giảng dạy ngành Điện Công
nghiệp.
2.2.5 . Những hạn chế của chương trình đào tạo hiện hành.
2.2.6 . Đề xuất cấu trúc chương trình đào tạo theo Modul cho nghề
Điện công nghiệp.
Chương 3. ĐỀ XUẤT CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO
MODUL CHO NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP
3.1. Cấu trúc chương trình đào tạo ngành Điện công nghiệp theo Modul.
3.1.1.Một số cơ sở pháp lý về xây dựng chương trình đào tạo.
3.1.2. Xác định mục tiêu dạy học.
3.1.3. Xác định modul dạy học, nội dung và thời lượng các môn học
3.1.4. Phân tích nghề.
3.1.5. Phân cấp quá trình đào tạo.
3.1.6. Cấu trúc môn học.
65
66
67
68
69
70
70
72
76
76
76
78
79
84
86
88
2
4
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
CTM
Chương trình đào tạo theo modul
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Kỹ thuật
KTCS
Kỹ thuật cơ sở
KTV
Kỹ thuật viên
KNTH
Kỹ năng thực hành
LT
Lý thuyết
LTCS
Lý thuyết cơ sở
LTCM
Lý thuyết chuyên môn
MKH
Modul kỹ năng hành nghề
toàn thế giới. Tiến bộ khoa học công nghệ đã làm thay đổi kỹ năng lao động,
hình thức tổ chức công việc, mô hình quản lý trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Công nghệ thay đổi càng nhanh dẫn đến kỹ năng người lao động càng chóng
lạc hậu, người lao động cần thường xuyên cập nhật tri thức, kỹ năng và thái độ
trong nghề nghiệp để đáp ứng với vấn đề thay đổi đó. Mô hình sản xuất mềm dẻo
linh hoạt thì yêu cầu kỹ năng lao động cũng phải thay đổi theo.
Đặc biệt Việt nam gia nhập tổ chức thương mại kinh tế WTO chấp nhận nền
kinh tế thị trường vì vậy đã kéo theo những thay đổi về tính chất và nội dung của hệ
thống như hình thức tổ chức công việc, mô hình quản lý, mô hình sản xuất và có thể
nhiều nghề mới xuất hiện và cũng có thể nhiều nghề cũ dần mất đi đã đặt ra những
yêu cầu khác nhau về đào tạo đó là đào tạo lại và đào tạo thay đổi nghề nghiệp.
Bên cạnh đó ảnh hưởng của toàn cầu hóa của nền kinh tế thị trường đã đòi hỏi
người lao động phải có năng lực chuyển đổi kỹ năng (nghề), nghề nghiệp trong thị
trường lao động, tại nơi sản xuất các sản phẩm thường xuyên được thay đổi kéo
theo những mô hình sản xuất mới cũng thay đổi, để đáp ứng với sự thay đổi đó bắt
buộc người lao động phải chuyển đổi nghề cho phù hợp.
Khung luật pháp thay đổi dẫn đến những yêu cầu thay đổi về trình độ. Một
việc làm trước đây chỉ yêu cầu ở trình độ sơ cấp, nhưng những quy định mới ra đời
đòi hỏi người lao động để làm việc đó phải có trình độ trung cấp. Sự thay đổi về
công nghệ, những yêu cầu mới về kỹ năng đòi hỏi người ta phải học suốt đời, học
liên tục (lifelong learning) nhiều lần không phải học một lần để cập nhất kiến thức
mà phải học thường xuyên, để đáp ứng trước sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học
công nghệ nhất là trong điều kiện nước ta chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế
thị trường nhiều thành phần có định hướng.
6
7
Modul cho đào tạo nghề Điện và các nghề khác tại nhà trường, đáp ứng phần nào
trước nhu cầu thị trường lao động hiện nay nhất là nền kinh tế hội nhập.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Tiến hành nghiên cứu và hoàn thiện cơ sở lý luận - thực tiễn về chương trình đào
tạo theo cấu trúc Modul của đào tạo nghề Điện Công nghiệp tại trường CĐCN ViệtĐức.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Là cấu trúc chương trình đào tạo nghề Điện Công nghiệp theo cấu trúc modul tại
trường CĐCN Việt-Đức.
4. Khách thể nghiên cứu
Quá trình đào tạo nghề Điện công nghiệp tại trường CĐCN Việt đức.
5. Giả thiết khoa học.
Hiện nay chương trình đào tạo nghề Điện công nghiệp tại nhà trường còn
đang thực hiện theo chương trình truyền thống cũ (theo môn học) nên đã bọc lộ
nhiều nhược điểm trước sự phát triển mạnh mẽ của Khoa học- Công nghệ cũng như
trước thềm hội nhập.
Chương trình đào tạo nghề Điện công nghiệp tại nhà trường được khắc phục
những nhược điểm của chương trình truyền thống cũ nếu chương trình được xây
dựng theo cấu trúc modul dựa trên năng lực thực hiện.
6. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đề tài giới hạn chỉ tập chung nghiên cứu và hoàn thiện cơ sở lý luận - thực tiễn về
chương trình đào tạo về xây dựng chương đào tạo nghề Điện công nghiệp theo modul.
- Đánh giá chương trình đào tạo hiện tại.
- Đề xuất cấu trúc chương trình đào tạo với nghề Điện công nghiệp tại nhà trường.
• Phương pháp chuyên gia:Trao đổi lấy ý kiến từ chuyên gia có nhiều kinh
nghiệm trong thực tiễn đào tạo tại nhà trường. Lấy ý kiến bằng phiếu thăm dò với
đội ngũ giáo viên và doanh nghiệp sản xuất.
9
NỘI DUNG
Phần 2
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH
ĐÀO TẠO THEO MODULE
1.1. Tổng quan về chương trình đào tạo.
1.1.1 . Khái niệm chương trình đào tạo .
Tiếp cận modul trước khi trở thành một phương thức đào tạo là một ý tưởng
về tổ chức quá trình dạy học. Nó là thể hiện cụ thể của một cách tiếp cận trong giáo
dục và đào tạo. Chương trình đào tạo là sự thể hiện cuối cùng của các ý tưởng. Để
thực hiện một chương trình đào tạo có cấu trúc modul, khi thiết kế chương trình đều
có những ý tưởng về tiếp cận đào tạo, sau đó sẽ quyết định mục tiêu-nội dungphương pháp đào tạo. Tính hiệu quả của chương trình đào tạo phải được thể hiện
qua chất lượng "đầu ra" của người học. Người học phải có khả năng giải quyết
được nhanh chóng những nhiệm vụ do sản xuất và dịch vụ đặt ra.
Muốn vậy, chương trình đào tạo phải giúp người học phải có được các kỹ
năng thực hiện, nó phải thích hợp cho chuyển đổi và di chuyển nghề, cũng như
thích hợp cho việc kiểm tra, đánh giá.
Chương trình đào tạo là trong những thành tố quan trọng quyết định chất
lượng đào tạo và hiệu quả công tác đào tạo. Việc xây dựng một hệ thống chương
vi, quan niệm khác nhau song đều thừa nhận rằng các bộ phận cơ bản cấu thành
một chương trình đào tạo bao gồm:
- Mục tiêu đào tạo (trình độ đào tạo cần hướng tới)
- Nội dung đào tạo ( đối tượng lĩnh hội mà mục tiêu đề ra)
- Phương pháp, quy trình đào tạo (phương tiện và cách thức để đạt mục tiêu)
- Tổ chức đào tạo ( kế hoạch thực hiện)
- Cách thức kiểm tra đánh giá ( kiểm tra đánh giá kết quả dạy và học)
Chúng gắn kết chặt chẽ với nhau như một chỉnh thể để đảm bảo thực hiện tốt mục
tiêu, nội dung đào tạo và đáp ứng nhu cầu và lợi ích của người học.
1.1.2. Đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo
Trong thực tế, khi nói đến mục tiêu đào tạo cần đề cập đến diện đào tạo, trình
độ kiến thức, kỹ năng và thái độ theo yêu cầu của thực tế sử dụng mà người tốt
nghiệp phải đạt được, tức là phải đề cập đến và dựa vào tiêu chuẩn ngành nghề đào
tạo. Như vậy là cần phải xác định được mục tiêu đào tạo sao cho đáp ứng được nhu
cầu sử dụng nhân lực tại nơi làm việc và đáp ứng yêu cầu phát triển con người toàn
diện, bền vững trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội.
11
Việc đổi mới mục tiêu đào tạo phải đáp ứng yêu cầu trước mắt của thị trường
lao động đồng thời đảm bảo khả năng thích ứng của người học trước những thay đổi
do tiến bộ công nghệ, kinh tế và xã hội. Điều đó liên quan đến mức độ rộng hay
hẹp, nông hay sâu của mục tiêu đào tạo theo những lĩnh vực ngành nghề khác nhau.
Nếu mục tiêu đào tạo quá chuyên sâu, quá nhấn mạnh đến kỹ năng thực hành thì
người học có thể dễ nhận được việc làm ngay sau khi ra trường song lại dễ gặp phải
rủi ro khi điều kiện tại nơi làm việc thay đổi.
Bất luận ở cấp trình độ đào tạo nào, ở ngành nghề nào, ngày nay chúng ta
đều cần đặc biệt nhấn mạnh những kỹ năng nghề nghiệp và thái độ ưu tiên cần có ở
người lao động, chúng phải được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo. Đó là kỹ năng
thay đổi thông qua tương tác với các nhóm liên quan khác nhau. Việc xây dựng
chương trình đào tạo sẽ tiến hành với sự tham gia của tất cả các nhóm liên quan tùy
theo nguồn lực và mối quan tâm của mỗi nhóm đó.
Cách tiếp cận nội dung: Coi chương trình đào tạo là tập hợp các môn học
được dạy theo một thứ tự định sẵn với thời lượng tùy chọn thuộc nội dung dạy học.
Nó không thể hiện được tính tích cực của người học.
Cách tiếp cận theo mục tiêu (objective approach): nhấn mạnh mục tiêu
chương trình đào tạo, sau đó nội dung chương trình đào tạo sẽ được thiết kế theo
mục tiêu.Theo cách này thì đã khẳng định trước những kiến thức, kỹ năng và giá trị
mà người học cần đạt được sau khi học xong chương trình.
Cách tiếp cận phát triển: Chương trình đào tạo có thể coi như một bản thiết
kế được xác định qua các bước kế tiếp nhau, kết hợp chặt chẽ mục tiêu, nội dung,
phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá nhằm khẳng định mức độ đạt được kết
quả học tập mong muốn của một khóa học hay một trình độ đào tạo
Hướng tiếp cận “năng lực thực hiện” và dựa vào tiêu chuẩn về kiến thức kỹ
năng thái độ của các hoạt động lao động nghề nghiệp được xác định rõ ràng để đảm
bảo chất lượng đào tạo toàn diện, đồng thời đảm bảo khả năng hành nghề của
người học sau khi tốt nghiệp.
13
Cách tiếp cận theo triển vọng của giáo dục, nội dung của các khoá học kiểu
modul có thể được đánh giá và công nhận một cách đơn giản, do đó việc học tập ưu
tiên và liên thông có thể thực hiện một cách dễ dàng.
1.1.5. Những thuật ngữ liên quan đến chương trình đào tạo.
Hiện nay có nhiều cách hiểu và diễn giải về chương trình đào tạo cũng như
các quan điểm của các nhà nghiên cứu về giáo dục, song theo luật giáo dục mới đã
điều chỉnh đưa ra một số thuật ngữ[4] :
- Chương trình giáo dục (CTDG) thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn
1.2.1. Cơ sở lý luận khi thiết kế chương trình theo module.
Hoạt động dạy học đã và đang chịu tác động mạnh mẽ của các khuynh
hướng nhân văn tới việc hình thành các triết lý dạy học đó là triết lý dạy học hướng
vào người học (Learner-Centered instruction) đào tạo hướng đến đảm bảo quyền và
cơ hội học tập cho mọi người làm nền tảng cho việc xây dựng xã hội tri thức.
Trong cuốn “Tiếp cận modul trong xây dựng chương trình đào tạo nghề”[8]
tác giả đã khẳng định “ Nội dung đào tạo lấy giải quyết vấn đề làm trọng tâm” Để
có thể giúp người học giải quyết vấn đề học tập của mình, trước hết chương trình
phải được cấu trúc trên các vấn đề của người học. Hơn thế chương trình đào tạo phải
hướng tới và giúp người học giải quyết trọn vẹn và thành công vấn đề học tập của
mình. Chương trình đào tạo không chỉ vì người học, theo vấn đề người học mà còn
phải cấu trúc sao cho thích hợp với khả năng giải quyết vấn đề của người học.
Theo cách diễn đạt trong cuốn “Tiếp cận module trong xây dựng chương trình
đào tạo nghề”[8] “Cần tạo điều kiện cho người học đi từ cái chưa biết” (Letting the
learners go from known to the unknown) chứ không phải “dắt người học thụ động đi
từ cái đã biết đến cái chưa biết”(Taking the learners from the known to the
unknown). Cách diễn đạt này vận dụng qua việc xác định đặc điểm cơ bản của nội
dung dạy học trong đó:
* Nội dung đào tạo lấy giải quyết vấn đề làm trọng tâm (Problem-Centered) hơn là
lấy nội dung làm trọng tâm (Content-Centered).
* Khuyến khích sự tham gia tích cực của người học.
* Khuyến khích vận dụng kinh nghiệm sẵn có vào xử lý các tình huống mới.
15
* Đánh giá và hiệu chỉnh lại nhu cầu nguyện vọng người học.
Vì vậy một chương trình được cấu trúc trên các vấn đề trọn vẹn, thực chất là
một chương trình được cấu trúc từ các modul học tập, đơn vị học tập tron vẹn, giúp
người học giải quyết được vấn đề mà học mong muốn giải quyết.
16
tố khi thiết kế chương trình đào tạo cần quan tâm tới nội dung và năng lực của
người tốt nghiệp có thể xét bảng dưới đây:
Các phương án thay đổi các yếu tố trong thiết kế chương trình đào tạo.
Nguồn:Viện chiến lược và Chương trình giáo dục
Phương án
Nội dung
Thời gian
Sự thành thạo (năng lực)
1
Cố định
Cố định
Cố định
2
Cố định
Cố định
Khi thiết kế các khoá học modul cần thiết phải đảm bảo có đủ thời gian cho
việc giảng dạy lý thuyết cơ bản phục vụ cho hình thành kỹ năng và đủ thời gian
thực hành nhằm đảm bảo kỹ năng đã được hình thành ở người học.
Các kỹ năng giải quyết tình huống chỉ có thể trở thành hiện thực khi người
học hiểu đầy đủ về lý thuyết và cách áp dụng lý thuyết đó vào thực tiễn. Điều này
chỉ ra rằng những người thiết kế các môn học kiểu modul cũng cần phải lập kế
hoạch về nội dung và quá trình thực hiện một cách cẩn thận, luôn liên hệ với trình
độ thực tế của học viên cũng như mục đích của nghề nghiệp sẽ trang bị cho họ.
17
Cũng cần sự phối hợp của các chiến lược dạy và học nhằm giúp đỡ, củng cố
sự phát triển nhận thức của người học cũng như giúp người học có thể dễ dàng phát
triển nghề nghiệp tới mức độ cao hơn.
Như vậy chương trình đào tạo phải hướng tới và giúp người học có được kỹ
năng thực hiện, nó phải thích hợp cho việc chuyển đổi nghề.Tính hiệu quả của
chương trình khi thiết kế phải thể hiện qua chất lượng đầu ra của người học. Đó là
phải có khả năng giải quyết được nhanh chóng những nhiệm vụ do yêu cầu công
việc đặt ra.
1.2.2. Modul và khái niệm modul
Thuật ngữ modul (khối) xuất phát từ lĩnh vực công nghệ /sản xuất có xuất xứ
từ thuật ngữ La tinh “modulus” có nghĩa là thước đo dùng chủ yếu trong xây dựng.
Modul hoá là thuật ngữ được dùng để mô tả một quá trình cho phép việc chế tạo ra
sản phẩm cuối cùng dễ dàng hơn và giá thành rẻ hơn (lĩnh vực công nghệ- kỹ thuật).
Các khái niệm này được phát triển trong nhiều lĩnh vực, gồm cả lĩnh vực giáo dục
và đào tạo.
Trong lĩnh vực Đào tạo (dạy và học) từ nhiều năm trước người ta đã thiết kế
"các hệ thống modul" nhằm đơn giản hoá việc sử dụng, linh hoạt hơn với nhiều
cách khác nhau (so với cách dạy kiểu rập khuôn).
thế giới. Còn với Việt nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu từ thập kỷ 70 của
các nhà khoa học tại Viện chiến lược và chương trình giáo dục về modul cho dạy
nghề, vấn đề khó khăn nhất hiện nay là việc áp dụng rộng rãi vào các cơ sở đào tạo
bởi có nhiều yếu tố trong đó có yếu tố cơ sở vật chất.Và cũng có nhiều cách hiểu
khái niệm khác về modul đặc biệt là modul đào tạo theo những quan điểm :
♦
Trong cuốn “Modular Desing” O’Donnel M.[19] cho rằng “Modul là một
đơn vị học tập liên kết tất cả các nội dung (aspects) của các môn học lý thuyết
(academic disciplines), các kỹ năng (skills) và các kiến thức liên quan (relate
knowledge) để tạo ra một năng lực chuyên môn (specified capability”.
Modul là đơn vị học tập trọn vẹn và có thể được thực hiện theo cá nhân hóa
và theo một trình tự xác định trước để kết thúc. Mỗi đơn vị module (modular unit)
là đơn vị trọn vẹn về mặt chuyên môn.Vì vậy nhờ những điều kiện cơ bản mỗi
modul tương ứng với khả năng việc làm (employability). Điều đó có nghĩa là việc
19
kết thúc một modul sẽ tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho tìm việc làm.
Đồng thời mỗi modul có thể hình thành một bộ phận nhỏ của chuyên môn của
người thợ lành nghề (qualified craftsman).
♦ Trong Ensuring Effective Learning from Modular Courses[17] đưa ra và xác
định modul đào tạo như:
Mỗi modul được xác định bởi mục tiêu, các kỹ năng cần đạt được, nội dung
và độ dài modul. Các nội dung cần phát triển có tầm quan trọng hơn các kiến thức
cần đạt được, nhằm thích nghi được với các tình huống đa dạng trong nghề nghiệp.
- Các yếu tố chung của " Kỹ năng mới/ năng lực/ khả năng chuyên môn"
- Triển vọng của "Kỹ năng mới/năng lực/ khả năng chuyên môn" đối với học
liên quan đến các hành động tự tổ chức bên trong chu kỳ "tổ chức học tập" (ví dụ
như tiến hành các nhiệm vụ của tự tổ chức), với tầm quan trọng các tiêu chuẩn chất
lượng chung cho việc phát triển chương trình và công việc đánh giá.
Tích hợp các năng lực hành động (integrierte handlungskompetenz) với các
năng lực nghề nghiệp cơ bản (fachkompetenz), năng lực xã hội (socialkompetenz),
làm chủ các tình huống thay đổi trong công việc (methodenkompetenz), gắn liền với
thiết kế khoá học tuân theo cách tiếp cận toàn bộ chương trình.
Tuy có những quan điểm khác nhau về Module, nhưng đều thống nhất ở chỗ:
Modul là những phần trình độ xác định, được kiểm tra, đánh giá, xác nhận. Đào
tạo theo modul mang tính linh hoạt, mền dẻo. Nó cho phép thích ứng liên tục
chương trình nhằm bảo đảm sự phù hợp của nó trước nhu cầu đào tạo của thị
trường lao động. Đào tạo theo modul vừa mang tính độc lập tương đối vừa mang
tính liên thông đảm bảo nguyên lý tích lũy trình độ. Modul có thể ảnh hưởng tới
việc tổ chức, kết cấu của quá trình đào tạo. Nó được thực hiện bởi thứ tự các giờ
học dưới hình thức giờ học định hướng vấn đề, giờ học dự án.
Ngoài ra, module mang tính chất trọn vẹn, tích hợp, tự hoàn thiện và có thể
lắp ghép phát triển.Vì vậy giúp người học hoàn thiện trình độ ở mức độ tổng thể cao
hơn.
1.2.4. Các mục tiêu của modul
Các nghĩa vụ về mặt kinh tế: Làm tăng trách nhiệm của hệ thống để thay đổi
các kỹ năng cần thiết. Các module dễ dàng được chỉnh sửa cũng như cập nhật hơn
21
so với các khoá học truyền thống. Các module "điều khiển bởi kết quả" rất thuận
tiện cho việc lập kế hoạch cho các chương trình đào tạo nghề nghiệp.
Thay đổi sư phạm: modul khuyến khích lấy học viên làm trung tâm, tự điều
chỉnh, học tập tích cực và độc lập. Có 2 khía cạnh cần được lưu ý trong mục tiêu
trên:
lúc cuối.
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng việc lựa chọn một cách cẩn thận các nhiệm vụ
đánh giá nhằm đảm bảo tích hợp kiến thức từ các modul khác nhau với thời gian
thực hiện khác nhau không được coi là sự thay thế cho việc đánh giá cho mỗi
module, cũng không được coi đó là một module nhằm tích hợp lí thuyết và phát
triển các kỹ năng giải quyết tình huống.
1.3.2. Đánh giá liên tục
Sự đánh giá hợp lí và có hiệu quả liên quan đến tính chắc chắn trong hoạt
động nghề nghiệp trong mọi thời gian, trong các giới hạn tiếp cận học tập dựa trên
năng lực cũng như các giai đoạn phát triển kĩ năng hay nghề nghiệp. Mỗi modul
cho phép đánh giá các kỹ năng đã được trang bị và dẫn đến việc chứng nhận mức
độ mà người học đã đạt được.Tính chắc chắn trong hoạt động nghề nghiệp không
thể xác định được bằng một đánh giá. Qua một đánh giá không thể hiện hết và chính
xác được kỹ năng thực và ổn định mà người học đã được trang bị.
Nhiều vấn đề liên quan giữa đánh giá và học tập với các khoá học kiểu
modul có thể khắc phục bằng cách thực hiện nhiều đánh giá kết hợp. Các đánh giá kỹ
năng kết hợp cung cấp sự phản hồi tin cậy cũng như tạo điều kiện để điều chỉnh các
đánh giá hợp lí và tin cậy hơn. Các nghiên cứu về học tập kỹ năng cũng như sự phát
triển nghề nghiệp chỉ ra rằng sự phát triển các kỹ năng và kết hợp chúng để giải
quyết các tình huống kỹ thuật chính là mục tiêu của giáo dục và đánh giá giáo dục.
23
1.3.3 . Nội dung đánh giá
Nội dung đánh giá phải phản ánh chính xác mục tiêu đào tạo và tiêu chí
đánh giá được thay bằng các chuẩn đánh giá kết quả học tập và được trình bày rõ
trong mục tiêu để người học có thể biết trước ngay từ đầu để chuẩn bị việc học tập
của mình đạt kết quả cao. Bởi vậy nội dung đánh giá cho mỗi đơn nguyên học tập
cần trên cơ sở sau[6]:
các giới hạn mức độ kiến thức của những người học nghề. Độ phức tạp của kiến
thức được cấu trúc tăng dần từ thấp đến cao và các kỹ năng được thuần thục thông
qua các thực hành và phản hồi.Mô hình cấu trúc modul đào tạo trên hình 1.2.
Nguồn:Viện chiến lược và Chương trình giáo dục
Trình độ
Modul bao gồm:
• Học - Lý thuyết.
- Thực hành.
- Thí nghiệm.
• Thực tập xưởng.
• Kiểm tra-Kết thúc
Trình độ
đầu ra
đầu vào
Hình 1.2 - Mô hình cấu trúc modul đào tạo
Có thể phân chia nội dung một khoá học thành các modul theo yêu cầu quản
trị, tuy nhiên cần phải lưu ý xem các module đó có xung đột với nhau hay không?
dễ hiểu hay không? có mạch lạc hay không và có tích hợp thành một thể thống nhất
hay không? Việc lập kế hoạch một cách chi tiết về việc ôn tập và tích hợp kiến thức
là một vấn đề lớn đối với các khoá học modul bởi vì các modul thường được chia
nhỏ hơn nữa theo thời gian. Điều này đưa ra thủ tục học tập và sự tự động hoá kĩ
năng, loại bỏ nhiều yếu tố không cần thiết sau khi đã thực hành đáng kể.
- Mỗi modul đào tạo bao gồm nhiều thành phần từ mục tiêu, nội dung đến
cách thức thực hiện trong quá trình đào tạo. Có thể tóm tắt bằng sơ đồ hình1.3 [10]: