Vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp ở việt nam hiện nay - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ VĂN MẠNH

VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Thúy Lâm

Hà Nội – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể



1.3.3. Vi phạm về nội dung hợp đồng lao động .................................................. 29
1.3.4. Vi phạm về trình tự thủ tục giao kết hợp đồng lao động ........................... 30
1.4. Hậu quả pháp lý của việc vi phạm giao kết hợp đồng lao động ................... 33
1.4.1. Hợp đồng lao động vô hiệu ........................................................................ 33
1.4.2. Xử lý giao kết hợp đồng lao động vô hiệu ................................................. 35
1.4.3. Các biện pháp xử phạt chính ..................................................................... 38
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ................................................................................... 40
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ....................... 41
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................................................ 41
2.1. Thực trạng vi phạm pháp luật về chủ thể giao kết ....................................... 42
2.2. Thực trạng vi phạm pháp luật về

ức hợp đồng lao động. ................ 47

2.3. Thực trạng vi phạm pháp luật về nội dung giao kết hợp đồng lao động .......... 53
2.4. Thực trạng vi phạm pháp luật về giao kết loại hợp đồng lao động .............. 56
2.5. Thực trạng vi phạm pháp luật về trình tự thủ tục giao kết hợp đồng lao
động ...................................................................................................................... 59
2.6. Thực trạng xử lý vi phạm về giao kết hợp đồng lao động ............................ 68
2.7. Đánh giá chung về vi phạm giao kết hợp đồng lao động.............................. 71
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VÀ HẠN CHẾ VIỆC VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ............................................................ 79
3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luậ

ợp


-NLĐ

Người lao động

-NSDLĐ

Người sử dụng lao động

-BHXH

Bảo hiểm xã hội


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong sự phát triển nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa
hiện địa hóa cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, kể từ năm 2007, trở
thành một thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã có
những bước tiến mạnh mẽ. Cùng với đó, sự ra đời của nhiều doanh nghiệp,
tập đoàn kinh tế nhà nước cùng với sự đầu của các Công ty nước ngoài đã góp
phần giải quyết việc là cho người lao động trên khắp cả nước. Đặc biệt, trong
lĩnh vực công nghiệp sản xuất và cung ứng dịch vụ, lao động phổ thông chiếm
số lượng lớn và vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp bên
cạnh lực lượng lao động trí thức, có trình độ cao. Pháp luật lao động Việt
Nam đã có những chế định về hợp đồng, nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi
ích của người lao động.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam chịu tác
động không nhỏ bởi suy thoái toàn cầu và các doanh nghiệp cũng không nằm
ngoài tác động đó. Doanh nghiệp buộc phải có những hành vi vi phạm pháp
luật về giao kết hợp đồng nhằm tăng lợi nhuận giảm thiểu chi phí... Và đối

thuê lại lao động và những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật lao
động Việt Nam”- PGS. Tiến sỹ Lê Thị Hoài Thu ... cùng với hệ thống giáo
trình: Giáo trình “Luật Lao động Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội,
nhà xuất bản Công an nhân dân (2008, 2011,2014); hay Giáo trình luật Lao
động Việt Nam, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, nhà xuất bản Đại học
quốc gia Hà Nội (1999).

2


Đây là các tài liệu tham khảo hết sức quý giá chủ yếu tập trung về hợp
đồng lao động nói chung và có đề cập về vấn đề giao kết hợp đồng lao động
trong các doanh nghiệp. Có thể thấy các công trình nghiên cứu cụ thể trên đã
tiếp cận nhiều vấn đề về pháp luật hợp đồng lao động cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
3. Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên những vấn đề lý luận và thực thực tiễn về vi phạm giao
kết hợp đồng lao động. Qua đó làm nổi bật thực trạng vi phạm giao kết về hợp
đồng lao động ở Việt Nam hiện nay và những biện pháp xử lý vi phạm. Cuối
cùng, đưa ra những kiến nghị hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về giao kết
hợp đồng trong pháp luật lao động Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện dựa trên những vụ việc
liên quan đến vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động của các doanh
nghiệp Việt Nam được phản ánh qua các kênh thông tin, các phương tiện
truyền thông đại chúng. Qua đó nhằm nêu bật những vấn đề chung nhất và
bóc tách, phân tích từng hành vi vi phạm cụ thể nhằm làm nổi bật thực trạng
vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay.
Luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các vấn đề lý luận về vi phạm giao kết hợp đồng lao động

động

4


Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM GIAO KẾT
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ VI PHẠM
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
1.1. Khái niệm và đặc trƣng của hợp đồng lao động
1.1. 1. Khái niệm hợp đồng lao động
Nền kinh tế thị trường ra đời cùng với sự vận động không ngừng của
các quan hệ xã hội trong đó quan hệ lao động được xem là có tính đa dạng và
phức tạp, gắn liền với một loại hàng hoá đặc biệt, đó chính là sức lao động.
Sự vận hành của quy luật cung cầu trong thị trường sức lao động đã dẫn tới
các bên có nhu cầu mua và bán đã tìm đến nhau. Và đây cũng là căn cứ để
phát sinh quan hệ pháp luật lao động. Các quan hệ hợp đồng mang tính chất
tự do, tự nguyện và bình đẳng. Trong đó các bên có quyền tự nguyện thỏa
thuận với nhau về các quyền và nghĩa vụ của mình. Hợp đồng lao động là
hình thức pháp lý linh hoạt, phù hợp với cơ chế thị trường, trong đó người lao
động có quyền lựa chọn công việc, người sử dụng lao động có quyền lựa chọn
nhân sự phù hợp làm việc cho mình.
Hợp đồng lao động được định nghĩa cụ thể tại Điều 15 của bộ luật Lao
động 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013 “Hợp đồng lao động là sự
thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả
lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao
động.”. Cách định nghĩa trên về hợp đồng lao động thông qua các yếu tổ chủ
thể, nghĩa vụ pháp lý và điều kiện lao động của các bên tham gia quan hệ lao
động. Một số quốc gia quan niệm pháp luật lao động thuộc hệ thống luật tư
nên họ cho rằng, hợp đồng lao động là loại hợp đồng dân sự, chịu sự điều


6


giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện
lao động, quyền và nghĩa vụ mỗi bên trong quan hệ lao động.”
Dưới góc độ kinh tế, hợp đồng lao động được xác định giữa người mua
và người bán một thứ hàng hoá đặc biệt được gọi tên là “sức lao động”. Loại
hàng hoá này “tồn tại ở mỗi con người cụ thể, nhưng hàng hoá sức lao động
không tồn tại độc lập mà gắn liền với các yếu tố khác như thể chất, trí tuệ,
nhân cách mỗi con người không thể định lượng được.” Nói một cách khác “
hợp đồng lao động là bằng chứng về một quan hệ đặc biệt- quan hệ mua bán
sức lao động, quan hệ mà trong đó việc mua bán sức lao động không mang
tính đoạn mại”.[17]
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử
dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ
của mỗi bên trong quan hệ lao động. Như vậy, so sánh với khái niệm hợp đồng
lao động của bộ luật lao động 1994, khái niệm về hợp đồng lao động Bộ luật
Lao động 2012 thể hiện tính khái quát hơn và phản ánh được bản chất của hợp
đồng lao động, các yếu tố cơ bản cấu thành lên hợp đồng lao động.
Nhằm tạo lập một hợp đồng lao động, các bên trong quan hệ lao động
phải xác định được công việc phải thực hiện, công việc này đòi hỏi người lao
động phải có khả năng đáp ứng, hoàn thành và đương nhiên cũng phải được
trả công một cách xứng đáng cho dù người sử dụng lao động không được lời
một đồng nào về công việc ấy.[7] Ngoài ra, các bên còn phải thống nhất về
một số nội dung khác như: điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của cấc bên
trong quan hệ lao động. Đây là những điểm mấu chốt cho sự mở đầu một quá
trình lao động gắn kết giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Như vậy, khái niệm về hợp đồng lao động trong thực tế có nhiều cách
tiếp cận khác nhau và tựu chung lại là kết quả của sự thỏa thuận giữa người

8


trong điều kiện nhất định lao động sống vào sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để
tạo ra lợi nhuận.
- Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả lương
Để giao kết một hợp đồng nhất định thì phải xác định được đối tượng của
hợp đồng. Đối với hợp đồng lao động thì đối tượng là việc làm có trả công.
Việc làm theo quy định của pháp luật lao động có thể được hiểu theo nghĩa
chung nhất là sự tự thực hiện một công việc nào đó. Tuy nhiên để thực hiện
được công việc này thì người lao động phải trải qua một quá trình lao động.
Sức lao động của họ được kết tinh trong các sản phẩm và do đó, nó hoàn toàn
khác với với các loại hàng hoá thông thường. Hàng hoá sức lao động là hàng
hoá đặc biệt, thông thường trong quan hệ mua bán hàng hoá, người mua chỉ
quan tâm đến hàng hoá là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất còn
trong quan hệ lao động thì “ người mua hàng” quan tâm đến một quá trình
lao động. Khi một người lao động tham gia vào vào quan hệ lao động theo
hợp đồng lao động hoàn thành công việc đó như đã thoả thuận thì người sử
dụng lao động có trách nhiệm phải trả lương cho quá trình lao động đó, bất kể
người sử dụng lao động có lãi hay không. Về bản chất, lương là phản ánh giá
trị bằng tiền sức lao động của người làm thuê, được điều chỉnh bằng các quy
chế pháp lý tương đối đặc biệt không như giá những hàng hoá thông thường
(cụ thể mỗi năm nha nước quy định mức lương tối thiểu bắt buôc người sử
dụng lao động phải trả cho người lao động để đảm bảo quyền lợi của người
lao động).
- Hợp đồng lao động có tính đích danh
Điều 30 Bộ luật Lao động 2012 quy định “Công việc theo hợp đồng lao
động phải do người lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện. Địa điểm làm
việc được thực hiện theo hợp đồng lao động hoặc theo thỏa thuận khác giữa
hai bên”.

sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động và người được chuyển giao.

10


- Hợp đồng lao động phải được thực hiện một khoảng thời gian nhất định
hay vô hạn định.
Hợp đồng lao động được các bên thực hiện liên tục từ khi hợp đồng lao
động có hiệu lực cho đến khi hợp đồng lao động chấm dứt. Tính liên tục được
thể hiện qua việc người lao động và người sử dụng lao động thực hiện công
việc đã giao kết một cách ổn định, theo đúng thời giờ làm việc mà các bên
đưa ra. Tuỳ thuộc vào từng loại hợp đồng lao động mà tính liên tục được duy
trì trong một khoảng thời gian nhất định hoặc không xác định thời hạn kết
thúc. Điều này đồng nghĩa với việc các bên không được tự ý làm việc theo
thời gian của mình mà phải tuân theo hợp đồng lao động đã giao kết. Sự thực
hiện liên tục hợp đồng lao động không chỉ thể hiện qua quá trình lao động của
người lo động mà còn thể hiện sự quản lý của người sử dụng lao động đối với
người lao động và việc tuân thủ nội quy lao động.
- Sự thoả thuận của các bên trong quan hệ lao động phải trong khuôn khổ
của pháp luật
Tuy mang tính tự nguyện và bình đẳng, song sự thoả thuận của các bên
trong quan hệ lao động phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Các quy
định về hợp đồng lao động của nước ta mang tính bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của người lao động – bên yếu thế hơn ttrong quan hệ lao động. Cụ thể là các
bên được thoả thuận tối đa quyền lợi của người lao động, còn về phía nghĩa
vụ của người sử dụng lao động thì các bên không được thoả thuận thấp hơn
mức tối thiểu chứ không giới hạn mức tối đa. Các nội dung trong hợp đồng
lao động như tiền lương tối thiểu, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi … bị
khống chế bởi những giới hạn pháp lý được quy định trong Bộ luật Lao động,
hợp đồng lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể…


12


hành vi không thực hiện hoặc thực hiện trái các quy định của pháp luật lao
động, xâm hại hoặc đe doạ xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp cua người lao
động, người sử dụng lao động, của Nhà nước và xã hội.”[13]
Như vậy, bằng cách này hay cách khác, định nghĩa về hành vi vi phạm
pháp luật đều bao gồm những dấu hiệu như hành vi trái pháp luật, do chủ thể
có năng lực hành vi thực hiện một cách có lỗi và gây thiệt hại cho xã hội. Từ
những dấu hiệu cơ bản trên cùng với những cơ sở lý luận về hợp đồng lao
động, có thể đưa ra những định nghĩa về vi phạm pháp luật về giao kết hợp
đồng lao động như sau: Vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động là
hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng , không đầy đủ các quy
định của pháp luật về giao kết hợp đồng lao động, do chủ thể luật lao động
thực hiện một cách có lỗi, xâm hại quyền và lợi ích của người lao động,
người sử dụng lao động, nhà nước và xã hội.
Tính trái pháp luật được xét đến như một yếu tố đặc trưng của hành vi vi
phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động. Một hành vi chỉ bị coi là trái
pháp luật khi được pháp luật quy định. Tính trái pháp luật được biểu hiện
thông qua việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các
quy định của pháp luật hợp đồng lao động. Một dấu hiệu khác là năng lực của
chủ thể thực hiện. người lao động và người sử dụng lao động muốn trở thành
chủ thể của pháp luật lao động phải có năng lực pháp luật lao động và năng
lực hành vi lao động. Hơn nữa, chủ thể thực hiện hành vi phải có lỗi và gây ra
thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của người khác. Hành vi vi phạm pháp luật dù
ít hay nhiều cũng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của một người hoặc
một nhóm người nào đó, và ảnh hưởng đến xã hội.
b, Ảnh hưởng của vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao đồng
Hợp đồng lao động là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các

ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh, gây xáo trộn trong đời sống và
ổn định doanh nghiệp.

14


Chính vì vậy, việc bức thiết đặt ra là phải tìm hiểu thực trạng vi phạm về
giao kết hợp đồng lao động hiện nay, để có cái nhìn đúng đắn hơn về tính khả
thi của các quy định pháp luật cũng như việc vận dụng các quy định đó trong
thực tế, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế vi phạm giao kết hợp đồng
lao động của các chủ thể trong quan hệ lao động.
1.2.2. Phân loại các vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động.
Giao kết hợp đồng lao động là việc các bên bày tỏ ý chí theo những
nguyên tắc và cách thức nhất định nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ lao
động đồng thời đảm bảo cho người lao động cũng như người sử dụng lao
động được quyền tự nguyện bày tỏ ý chí của mình. Tham gia giao kết hợp
đồng lao động đồng nghĩa với việc các bên phải tuân thủ pháp luật. Điều này
thể hiện “ là sự tôn trọng cái riêng tư, cá nhân của các bên trong quan hệ tức
quyền có tham gia quan hệ hay không, tham gia trong bao lâu, với ai,nội dung
quan hệ bao gồm những quyền và nghĩa vụ gì do các chủ thể hoàn toàn quyết
định. Nhưng để được xã hội tôn trọng, để pháp luật chấp thuận và bảo vệ thì
cái riêng của các bên phải được đặt trong cái chung của xã hội tức là tuân thủ
nguyên tắc không trái pháp luật” [14].
Tuy nhiên, dù cố tình hay vô ý, bằng cách này hay cách khác, các bên
tham gia trong quan hệ lao động đều có những hành vi vi phạm pháp luật về
giao kết hợp đồng. Việc phân loại các hành vi vi phạm này giúp chúng ta
thấy được các dạng của hành vi vi phạm giao kết về hợp đồng lao động:
1.2.2.1. Căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi vi phạm.
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao
động có thể là người lao động hoặc người sử dụng lao động. Tuỳ vào vị trí


16


tình huống cụ thể mà có thể phân chia thành vi phạm nội dung toàn phần hay
vi phạm từng phần của hợp đồng lao động. Điều này khiến hợp đồng lao động
có thể bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ nội dung hoặc từng phần khi nội dung của
phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại.
Hình thức của hợp đồng lao động chứa đựng những điều khoản đã thoả
thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Thông thường, hợp
đồng lao động thường được giao kết dưới 02 hình thức đó là: bằng miệng và
văn bản. Tuỳ theo tính chất của từng loại hợp đồng mà pháp luật sẽ quy định
những hợp đồng lao động nào phải giao kết bằng miệng, những hợp đồng lao
động phải giao kết bằng văn bản. Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không
tuân thủ quy định này thì sẽ bị coi là vi phạm về hình thức hợp đồng lao động.
Như vậy căn cứ vào nội dung và hình thức của hợp đồng lao động có thể
xác định vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động bao gồm các hành
vi: giao kết không đúng loại hợp đồng, vi phạm nội dung giao kết hợp đồng…
Tóm lại, có thể phân loại các hành vi vi phạm pháp luật về giao kết hợp
đồng lao động theo nhiều các khác nhau. Việc phân loại hợp đồng lao động
như đã phân tích ở trên có ý nghĩa lớn trong việc nghiên cứu và thực hiện các
quy định của pháp luật về hợp đồng lao động trong thực tiễn, đồng thời tạo cơ
sở để kiến nghị hoàn chỉnh chế định về giao kết hợp đồng lao động.
1.2.3. Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động.
Cấu thành vi phạm pháp luật là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách
quan và chủ quan) do từng ngành luật tương ứng quy định thể hiện một hành
vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là vi phạm pháp luật. Thông thường một hành
vi vi phạm pháp luật bao gồm bốn yếu tố: khách thể, chủ thể, mặt khách quan,
mặt chủ quan. Là một loại vi phạm pháp luật nên vi phạm pháp luật về giao
kết hợp đồng lao động nên cũng gồm có bốn yếu tố cơ bản trên.

giao kết hợp đồng lao động cũng đều chứa tính chất trái pháp luật. Đây được

18


xem là dấu hiệu đặc trưng của hành vi vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng
lao động.
- Một hành vi vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động nhìn
chung đều gây thiệt hại cho xã hội, có thể là thiệt hại về vật chất hay tinh
thần. Nếu một trong hai bên không thực hiện hay thực hiện không đúng và
không đầy đủ những cam kết đã ghi trong hợp đồng lao động đều dẫn đến ảnh
hưởng nhất định đến xã hội. Có thể thấy, khi thực hiện hợp đồng lao động,
các cá nhân đang mang lại những lợi ích cho bản thân và thông qua đó đã tạo
ra của cải, vật chất cho xã hội. Vì vậy, các hành vi vi phạm pháp luật khác
nhau có thể gây thiệt hại cho xã hội ở những mức độ không giống nhau.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật về giao kết hợp
đồng lao động và hậu quả do hành vi đó gây ra là dấu hiệu quan trọng của mặt
khách quan. Quan hệ nhân quả ở đây được hiểu là hành vi vi phạm gây ra hậu
quả và hậu quả xảy ra bắt nguồn trực tiếp từ hành vi vi phạm. Hành vi vi
phạm và hậu quả của nó gắn bó chặt chẽ với nhau, là nguyên nhân và kết quả
của nhau Nếu hậu quả xảy ra không liên quan hoặc không xuất phát trực tiếp
từ hành vi vi phạm hợp đồng lao động thì không phải là mối quan hệ nhân
quả. Việc xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp
đồng lao động và hậu quả gây ra có ý nghĩa trong việc xác định hành vi vi
phạm cũng như trách nhiệm của người thực hiện hành vi.
1.2.3.2. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động.
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về giao kết hợp đồng lao động là
mặt bên trong của sự xâm hại nguy hiểm cho xã hội đến từ khách thể được
bảo vệ bằng pháp luật lao động. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về giao
kết hợp đồng lao động được đặc trưng bởi yếu tố lỗi, động cơ và mục đích của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status