Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - Pdf 43

Mục lục

Trang

1


MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mục tiêu và ước vọng của tất cả các
dân tộc trên thế giới, đây là vấn đề có tính vĩ mô mà không thực hiện tốt nó thì sẽ không
thể đưa đất nước thực sự đi lên. Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã
hội là mục tiêu "kép" của sự phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững mà nhiều quốc gia
trên thế giới đều mong muốn đạt tới. Tuy nhiên, trên thực tế, đây là bài toán khó, mà
không phải nước nào cũng có thể tìm ra lời giải thỏa đáng. Bởi lẽ để biến mục tiêu đó
thành hiện thực, thì phải có hàng loạt điều kiện khách quan và chủ quan cần thiết, phải
giải quyết nhiều mối quan hệ - đặc biệt là mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội – trong một mô hình phát triển nhất định. Với
nước Việt Nam, quan điểm của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ
và công bằng xã hội ngay từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Từ sau công cuộc
đổi mới, nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá và gần đây là
kinh tế thị trường chúng ta đã thực sự đạt được những thành tựu to lớn: nền kinh tế tăng
trưởng vào loại khá trong khu vực, lạm phát thấp, giáo dục và y tế có nhiều tiến bộ…
nhưng bên cạnh đó vẫn còn không ít những hạn chế như: sự thoái hoá biến chất của một
số cán bộ nhà nước, vấn đề an ninh,an toàn xã hội chưa được đảm bảo… Đó chính là
những biểu hiện của việc không giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội. Việc thực hiện cả hai mục tiêu trên quả là không đơn giản chút nào,
chúng ta không thể ngồi chờ kinh tế phát triển cao, dân giàu lên, mới thực hiện sự công
bằng và tiến bộ xã hội. Chúng ta cũng không thể hi sinh sự tiến bộ, công bằng xã hội để
phát triển kinh tế một cách thuần túy. Bài toán giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và công băng xã hội quả là một bài toán khó nhưng không phải là không
có lời giải.

cổ đại. Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch
luận” và “ngũ hành luận” của Âm dương gia. Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét nhất
của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm tù “vỗ ngã”, “vô thường”,
“nhân duyên”,… Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện một cách sâu sắc tinh thần
của phép biện chứng tự phát. Thế giới quan ban đầu lần đầu tiên đã được Heraclit trình bày
một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi,
mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong. Phép
biện chứng chất phác cổ đại nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng
trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, ngây thơ, nhưng còn thiếu sự chứng minh bởi
những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên.
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Can – tơ và hoàn thiện ở Hê
– ghen. Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép
biện chứng duy tâm một cách có hệ thống. Tính chất duy tâm trong triết học Hê-ghen biểu
hiện ở chỗ ông coi biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi
biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan. Theo Hê-ghen, “ý niệm tuyệt
đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó
trong tồn tại tinh thần, tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ
là một bản sao chép của ý niệm. Các nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao nhất là Hêghen, đã xây dựng phép biện chứng duy tâm với hệ thống phạm trù, quy luật chung, có
logic chặt chẽ của ý thức, tinh thần.
Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức cũng như trong triết học Hêghen là hạn chế cần phải vượt qua. C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã khắc phục hạn chế đó để
sáng tạo nên phép biện chứng duy vật. Đó là giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện
chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa trên tinh thần phê phán đối với phép biện chứng
cổ điển Đức. Ph.Ăng-ghen tự nhận xét: “Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là
những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó
vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử.”

3


2. Phép biện chứng duy vật

3. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động
và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi
sự vật, hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ
biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để
chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên
hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó
thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng. Đó là các mối liên hệ giữa các mặt đối
lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng,
… Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù,
vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định. Đồng thời, cũng tồn tại

4


những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những
mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định. Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù
và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong
tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
b. Tính chất của các mối liên hệ
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản
của các mối liên hệ.
Tính khách quan của các mối liên hệ: sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn
nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại
độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận
dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.
Tính phổ biến của các mối liên hệ: không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình
nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Đồng thời, cũng
không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm


5


thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện siêu hình
mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm triết trung, ngụy biện.

6


II. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
1. Tăng trưởng kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản
lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo thời
điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế
nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ tăng trưởng luôn là cặp đôi trong
khái niệm tăng trưởng kinh tế.
- Các chỉ tiêu để đo tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng là mức tăng tổng sản phẩm quốc
nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp khác.
2. Công bằng xã hội
- Công bằng xã hội là khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của
mỗi giai cấp, mỗi quốc gia. Công bằng xã hội là sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của
công dân, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ
hội. Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội.
- Những thước đo chủ yếu về công bằng xã hội là: Chỉ số phát triển con người (HDI); Đường
cong Lorenz; Hệ số GINI; mức độ nghèo khổ; Mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con
người...
3. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

tế tăng nhanh bằng mọi giá nhiều hậu quả trong trung và dài hạn là cái giá quá đắt cho mục
tiêu này. Tăng trưởng nóng thường dẫn đến gia tăng khoảng cách giàu nghèo, nảy sinh
nhiều mâu thuẫn giai cấp và đây chính là nguồn gốc của những cuộc cách mạng đòi hỏi sự
bình đẳng, công bằng trong phân phối thu nhập… Việc dồn mọi nguồn lực xã hội cho tăng
trưởng cũng có nghĩa là phải hy sinh một số mục tiêu xã hội, bỏ rơi người nghèo, phát sinh
xu thế làm giàu của một số cá nhân và cuối cùng là nguy cơ khủng hoảng xã hội.
b. Sự tác động của công bằng xã hội đến tăng trưởng kinh tế.
Công bằng xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích. Khác với các nguyên tắc phân
phối lợi ích nói chung, thước đo của nguyên tắc phân phối lợi ích công bằng chính là sự
bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ
với tiêu chí cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau. Nguyên tắc phân phối lợi ích
công bằng kích thích sự cống hiến tự nguyện của mỗi cá nhân vào hoạt động chung của xã
hội vì lợi ích của mình và của cả cộng đồng. Nói cách khác, sự bình đẳng giữa người và
người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ đã khiến cho không một cá nhân nào
cảm thấy thiệt thòi, tạo ra một xã hội ổn định, thúc đẩy mỗi người hoạt động hơn nữa, từ đó
thúc đẩy xã hội tiếp tục vận động và phát triển. Theo nghĩa đó, công bằng xã hội là một
động lực tích cực tạo nên sự vận động và phát triển mạnh mẽ của xã hội nói chung, cũng có
nghĩa công bằng xã hội chính là một động lực tích cực cho tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, công bằng xã hội quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế ở hai khía cạnh:
vừa là động lực, vừa là thành quả của tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự phân phối thành quả
của tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở và điều kiện vật chất để thực hiện công bằng
xã hội. Đến lượt mình, công bằng xã hội là động lực, mục tiêu của tăng trưởng kinh tế.
Không đảm bảo công bằng xã hội sẽ gây ra cản trở cho tăng trưởng kinh tế ở những giai
đoạn tiếp theo.
c. Các mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Mô hình tăng trưởng trước bình đẳng sau của A. Lewis. Ông cho rằng sự bất bình
đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó sẽ giảm bớt khi đã đạt được tới mức độ phát triển nhất
định. Trước hết, sự bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu bởi vì cùng với việc mở rộng
quy mô sản xuất công nghiệp, số lượng lao động được thu hút vào làm việc ở khu vực này
ngày càng tăng nhưng tiền công của công nhân vẫn ở mức tối thiểu. Như vậy, trong khi

công bằng như thế nào. Điều này đã được H.Oshima giải quyết bằng mô hình tăng trưởng
đi đôi với bình đẳng.
Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng (H. Oshima). Theo H. Oshima sự bất bình
đẳng có thế được hạn chế ngay từ đầu. Như vậy, trước hết khoảng cách thu nhập giữa nông
thôn và thành thị sẽ được cải thiện ngay từ giai đoạn đầu nhờ việc đầu tư phát triển khu vực
nông nghiệp nông thôn. Tiếp đó là quá trình cải thiện dần khoảng cách thu nhập giữa xí
nghiệp có quy mô lớn và xí nghiệp có quy mô nhỏ ở thành thị, cũng như nông trại lớn và
ông trại nhỏ ở nông thôn. Tiết kiệm sẽ được tăng lên ở tất cả các nhóm dân cư kể cả các
nhóm có thu nhập thấp nhất và đó là điều kiện để phát triển sản xuất.
Như vậy, giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội luôn là yêu
cầu đặt ra trong suốt lịch sử phát triển kinh tế xã hội ở các nước. Thực tế ở nhiều quốc gia
cho thấy không thể thực hiện tiến bộ hay công bằng xã hội trước nếu như không bảo đảm
nền kinh tế tăng trưởng cao, liên tục theo hướng phát triển bền vững. Mặt khác, nếu sự tăng
trưởng kinh tế không bảo đảm thực hiện hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội thì sự tăng
trưởng này cũng không có ý nghĩa. Những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng kinh tế có thể
làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng. Mặt khác, những chính sách dựa trên ưu tiên mục
tiêu tiến bộ và công bằng xã hội có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế,
kết cục cả mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế đều không thực hiện được. Qua việc đánh
giá, rút ra kinh nghiệm từ các mô hình cũng như thực tế trên thế giới, chúng ta đang hướng
tới sự phát triển hài hòa, cân đối cả tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
4. Thực tế quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở các nước đang phát
triển.
Trên Thế giới có khoảng 145 nước thuộc thế giới thứ ba, các quốc gia sẽ có sự khác
nhau về văn hoá , các điều kiện kinh tế, cơ cấu chính trị và xã hội, v.v... Đồng thời, vì
những nước này đều là các nước đang phát triển, nên chắc chắn là họ cũng có những điểm
chung. Các quốc gia khác nhau thì có sự lựa chọn con đường phát triển của mình khác
nhau. Có nước thì đề cao mục tiêu tăng trưởng kinh tế, có nước đề cao công bằng xã hội,
có nước lại chọn kết hợp cả hai mục tiêu đó một cách hợp lý…để tiện trong vấn đề nghiên
cứu, Nigeria, Bhutan và Việt Nam là ba quốc gia được chọn là ba quốc gia đại diện.
 Cộng hòa Liên bang Nigeria: là quốc gia thuộc Tây Phi. Thủ đô là Abuja. Dân số 149,2

tỷ
USD
USD
USD
GDP/người
2400USD
5000 USD
1100USD
Tốc độ tăng trưởng kinh
6.8%
6.8%
6.78%
tế
Tình hình thực hiện công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế năm 2010
Quốc
Nigieria
Bhutan
Việt Nam
gia
Chỉ số
Gini
Chỉ số nghèo
khổ
HDI
Tuổi thọ trung
bình
Tỷ lệ biết chữ

0.437


Nigieria GDP theo đầu người tăng từ $692/người năm 2006 tới $1,754/người năm 2007 và
đến năm 2010 tăng lên 2400USD/ người.Ở Bhutan GDP bình quân theo đầu người tăng từ
$1.400năm 2003 lên đến $ 5000 năm 2010. ở việt nam, GDP bình quân đầu người từ
khoảng 200 USD năm 1990 tăng lên 1.200 USD năm 2010.

10


-

Về chỉ số Gini (chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và
hệ kinh tế trong một nền kinh tế )và chỉ số nghèo khổ
Theo Ngân hàng thế giới thì các quốc gia đang phát triển là những quốc gai có mức
thu nhập trung bình, chỉ số Gini là từ 0,4 – 0,6. Qua bảng số liệu trên ta thấy ở 3 nước trên
thì hệ số Gini ở mức phù hợp, thể hiện sự bất bình đẳng của các quốc gia này ở mức trung
bình. Đó là trên lý thyết, còn trên thực tế, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập vẫn
còn đáng báo động:
- Ở Nigieria: Dân số dưới mức nghèo khổ chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm tới 45%, hộ gia
đình thu nhập hoặc tiêu dùng bằng cách chia sẻ tỷ lệ : thấp nhất 10% là 2% và cao nhất
10% là 32,4%.
- Ở Bhutan: Theo một bảng xếp hạng mới đây của Anh, Bhutan là nước có điểm hạnh
phúc xếp thứ 8 thế giới. Dân số dưới mức nghèo khổ là 23,2%(2009) và hộ gia đình thu
nhập hoặc tiêu dùng bằng cách chia sẻ tỷ lệ : thấp nhất 10% là 2,3% và cao nhất 10% là
37,6%.
- Ở Việt Nam: Năm 2010, GDP bình quân đầu người của Việt Nam vượt ngưỡng thu
nhập 1.000 USD/người, đạt 1.100 USD/người. Tuy nhiên khoảng cách giàu nghèo giữa
người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn vẫn còn khá cao, 32,9 % người dân
Việt Nam sống dưới mức nghèo khổ.
Về Chỉ số phát triển con người HDI:
Các nước đang phát triển có chỉ số phát triển con người ở mức trung bình là 0,691.



Nhìn chung, các chỉ tiêu đánh giá này ở các quốc gia này đều có xu hướng tăng dần
thu nhập bình quân đầu người và chỉ số HDI, giảm dần chỉ số Gini và chỉ số nghèo khổ.
Đây cũng là xu hướng chung mà các nước đang phát triển hiện nay đang hướng tới.
5. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay
a. Những thành tựu đạt được
Các chủ trương, quan điểm của Đảng đã được Chính phủ thể chế hóa thành các chính
sách, kế hoạch, chương trình dự án cụ thể để đưa vào cuộc sống. Nhờ vậy, qua gần 30 năm
đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc thực hiện kết hợp
tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Điểm quan trọng là đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
tiến bộ, công bằng xã hội. Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể đã chuyển
sang tinh thần năng động, chủ động và tích cực xã hội của tất cả các tầng lớp dân cư. Từ
chỗ đề cao quá mức lợi ích của tập thể một cách chung chung, trừu tượng; thi hành chế độ
phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là bình quân, cào bằng, đã từng
bước thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời
phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông
qua phúc lợi xã hội. Nhờ vậy, công bằng xã hội được thể hiện ngày một rõ hơn. Từ chỗ
không đặt đúng tầm quan trọng của chính sách kinh tế đã đi đến thống nhất chính sách kinh
tế với chính sách xã hội, xem trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện
chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực quan trọng thúc đẩy phát
triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước phát triển. Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã
dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và
người lao động tham gia tạo việc làm. Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói,
giảm nghèo, coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển. Từ chỗ
muốn nhanh chóng xây dựng một cơ cấu xã hội "thuần nhất" chỉ còn giai cấp công nhân,
giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức đã đi đến quan niệm về việc xây dựng một
cộng đồng xã hội đa dạng, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ,


8,44

8,17

8,48

6,18

5,32

Nguồn: Niên giám thống kê
Thế giới đánh giá rất cao những thành tựu gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ,
công bằng xã hội ở Việt Nam. Việt Nam đã thực hiện sự phát triển kinh tế hướng vào con
người, nhất là những người nghèo. Thực thi chiến lược phát triển toàn diện, cùng với việc
đạt được chỉ tiêu tăng trưởng GDP cao, thì tất cả các chỉ tiêu về xã hội, môi trường có liên
quan trực tiếp đến tăng trưởng và sử dụng kết quả của tăng trưởng đều hoàn thành và hoàn
thành vượt mức. Các chỉ tiêu xã hội có xu hướng được cải thiện rõ rệt. Chỉ số HDI đo sự
tiến bộ trung bình của một nước về phát triển con người bao gồm tuổi thọ, trình độ dân trí
và thu nhập GDP tính theo đầu người của Việt Nam năm 2007 đã lên tới 0,725, tăng hơn so
với năm 2006 (đạt 0,709) và thứ hạng HDI của Việt Nam được cải thiện 4 bậc (từ thứ
109/177 lên 105). Chỉ số phát triển con người của Việt Nam cao hơn một số nước có thu
nhập bình quân đầu người cao hơn nước ta.
Nhìn chung, sau gần 25 năm đổi mới mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta đã được giải quyết một cách
khá hiệu quả. Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp
dân cư. Đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối
đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định, quốc
phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng
cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất

25,1
9,2
6,6
Nông thôn
66,4
45,5
35,7
Người Kinh và người Hoa
53,9
31,1
23,1
Dân tộc thiểu số
86,4
75,2
69,3
Nghèo lương thực
24,9
15
9,96
Thành thị
7,9
2,5
3,61
Nông thôn
29,1
18,6
11,99
Người Kinh và người Hoa
20,8
10,6

nghèo cũng đang chậm dần. Trong 5 năm đầu tỷ lệ nghèo giảm trung bình 4% một năm.
Nhưng trong 4 năm sau thì chỉ giảm 2% một năm. Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ
nông nghiệp. Với điều kiện về nguồn lực rất hạn chế, thu nhập của họ rất bấp bênh và dễ bị
tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng. Nghèo đói tập trung chủ
yếu ở nông thôn với trên 90% số người nghèo sinh sống, nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn
như vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao. Tỉ lệ đói nghèo đặc biệt cao trong các nhóm dân tộc
ít người. Ơ một phương diện nhất định, phân hoá giàu nghèo thể hiện rất rõ sự bất bình
đẳng xã hội. Nghèo không chỉ là vấn đề của các nước đang phát triển mà có tinh toàn cầu.
Ngay cả ở những nước phát triển cũng tồn tại một bộ phận dân cư nghèo đói`
6. Giải pháp cho mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Một là, do nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chậm phát triển, muốn
cho kinh tế phát triển nhanh, bền vững, có hiệu quả thì con đường duy nhất là thực hiện
kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên trong quá trình đó phải đề
phòng và khắc phục các tác động mặt trái của kinh tế thị trường. Định hướng Xã hội chủ
nghĩa là sự phát triển gắn liền với công bằng xã hội, bình đẳng trong phân phối, để dẫn tới
bình đẳng xã hội.
Hai là, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội dưới sự quản lý và
điều tiết của Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảngcó vai trò quyết định và vai trò quản lý trực
tiếp của Nhà nước phải được nâng lên tầm cao mới để vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
vừa đảm bảo công bằng xã hội. Nhà nước là chủ thể số 1 trong các chủ thể xã hội tham gia
vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năng lực quản lý của Nhà nước cần
được thể hiện rõ qua việc hoạch định một hệ thống chính sách xã hội, một hệ thống phúc

14


lợi xã hội tích cực, sao cho ''bao nhiêu lợi ích đều vì dân", đồng thời có khả năng và thực
hiện tốt việc điều tiết xã hội, giữ vững an ninh xã hội, đoàn kết các giai tầng xã hội. .., đảm
bảo môi trường chính trị - xã hội luôn luôn ổn định để phát triển đất nước theo con đường
XHCN.

trong những trọng điểm để tạo nên sự tăng trưởng kinh tế, làm lành mạnh các quan hệ xã
hội, đạt tới tiến bộ và công bằng xã hội. Muốn chống tham nhũng tốt, phải mở rộng dân
chủ, chống từ trên xuống dưới, từ dưới lên, rà soát lại đội ngũ cán bộ có chức có quyền, từ
trong nội bộ Đảng ra ngoài xã hội.

15


KẾT LUẬN
Bài tiểu luận đã góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước trên thế giới. Cùng với việc nêu
ra ưu điểm và hạn chế, tiểu luận cũng đưa ra những biện pháp thiết thực, phù hợp với tình
hình thế giới và đất nước ta. Công bằng xã hội của nước ta gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là
một trong những biểu hiện đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
sự thống nhất và phát triển biện chứng giữa giải phóng dân tộc và, giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội và giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội sẽ tiến tới xoá bỏ mọi áp bức bóc
lột, bất công và mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội. Đó là công
bằng xã hội lớn nhất triệt để nhất mà chúng ta đang phấn đấu. Mục tiêu lâu dài đó được cụ
thể hoá cho giai đoạn trước mắt ở nước ta bằng khẩu hiệu toàn dân đoàn kết phấn đấu vì sự
nghiệp “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bằng khẩu hiệu đó,
Đảng và Nhà nước ta chủ trương khuyến khích mọi người tham gia làm giàu chính đáng.
Kinh nghiệm thành công ở các nền kinh tế Đông Nam A cho thấy, không nên và
không thể tách rời các chính sách khuyến khích tăng trưởng kinh tế và các chính sách tạo
lập công bằng. Điều quan trọng những là tạo được một cơ chế mà tăng trưởng và giảm bất
bình đẩng là kết quả đồng thời và là điều kiện hộ trợ lẫn nhau.
Thực tiễn trong những năm vừa qua đã cho thấy: từ sau khi đổi mới đến nay Việt
Nam đã đạt được những thành tựu cao trong tăng trưởng kinh tế, đời sống nhân dân được
cải thiện rõ rệt, giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo có tiến bộ, trong công bằng xã
hội đang từng bước được xoá bỏ. Chế độ phân phối gắn với thành quả và hiệu quả lao động
đã tạo ra những động lực thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra công bằng.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status