tư liệu Tôn Đức Thắng - Pdf 43

TÓM TẮT TIỂU SỬ
CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG
Ngày 20 tháng 8 năm 1888, đồng chí Tôn Đức Thắng ra đời ở : Xã Mỹ Hòa Hưng, Tổng Đònh
Thành, Tỉnh Long Xuyên, nay gọi là xã Mỹ Hòa Hưng, thò xã Long Xuyên, Tỉnh An Giang.
Sinh ra trong hoàn cảnh nước nhà đang bò bọn thực dân Pháp xâm lược, nên ngay từ tuổi niên
thiếu, đồng chí đã tận mắt chứng kiến sự bóc lột thậm tệ, tội ác dã man của giặc đối với đồng bào mình
ngay tại nơi chôn nhau cắt rốn và trên mãnh đất quê hương Nam bộ thân yêu. Xót xa vì nước mất nhà
bò giặc dày xéo, biết bao nhiêu nhà yêu nước như Trương Đònh, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân...
đã lãnh đạo nhân dân Nam bộ vùng lên khởi nghóa, chống thực dân Pháp. Những phong trào yêu nước
đó, đã sớm khơi dậy lòng yêu nước, thương dân trong tâm tư, tình cảm của đồng chí Tôn Đức Thắng.
Vì không có điều kiện tiếp tục học bậc trung học, đồng chí quyết đònh rời quê hương và hành động
theo tiếng gọi của trái tim. Năm 1906, giữa tuổi 18 sung sức, đồng chí Tôn Đức Thắng trong lòng mang
nặng truyền thống yêu nước của quê hương và nỗi đau của người dân nô lệ bò mất nước, đến với thành
phố Sài Gòn – một trong hai trung tâm chính trò, kinh tế của nước ta. Cuộc đời bắt đầu từ tuổi trẻ và
chính từ những năm đầu tiên của cuộc đời, đồng chí đã đến ngay với giai cấp công nhân Việt Nam, lúc
đó đang trong quá trình hình thành. Từ đó, đồng chí hòa nhập trong phong trào đấu tranh chống bọn
thực dân Pháp đang gieo rắc khổ đau cho dân tộc mình. Tuy chỉ là người thợ học việc, đồng chí Tôn
Đức Thắng đã tham gia vận động anh em học sinh lính thủy bỏ học (1909), anh chò em công nhân Sở
Kiến trúc cầu đường và nhà ở Sài Gòn, chống bọn chủ, cai ký cúp phạt, đánh đập vô lý và đòi tăng
lương (1910). Sau đó đồng chí vào học ở Trường của những người thợ máy châu Á ở Sài Gòn
(eỏcole des mescaniciens Asiatiques de SaiGon), là trung tâm duy nhất đào tạo thợ máy tàu thủy chủ
Pháp ở Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp, đồng chí Tôn Đức Thắng vào làm việc tại Xưởng Arsenal de
SaiGon (Xưởng Ba Son). Năm 1912, đồng chí tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son
và vận động học sinh Trường Bách Nghệ Sài Gòn bãi khóa. Những cuộc đấu tranh đầu tiên đó của giai
cấp công nhân đã giành được thắng lợi và biểu lộ sức mạnh của lực lượng xã hội mới. Do đó, đã làm
cho bọn thống trò phải lo lắng, hoảng sợ, vì đã đến lúc chúng “... phải vừa cuốn gói ra đi, vừa vái chào
dân tộc Việt Nam đã được hồi sinh bằng những cuộc bãi công”
(1)
.
Bọn thực dân Pháp ra sức tìm mọi biện pháp để dập tắt phong trào và bắt những người lãnh đạo
đấu tranh, trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng. Chính vì vậy, để tránh khỏi sự truy nã của chúng, cuối

đấu tranh bảo vệ cách mạng tháng Mười và xây đắp tình hữu nghò Việt – Xô. Đồng thời, biểu thò tình
cảm lớn của nhân dân Việt Nam lúc đó còn là thuộc đòa của Pháp, chào mừng Nhà nước Công nông
đầu tiên trên thế giới. Với lòng khiêm tốn vốn có của một chiến só công nhân cách mạng, đồng chí Tôn
Đức Thắng đã nói : “... Cũng như tôi, những người lao động các nước khác qua kinh nghiệm bản thân,
đã hiểu rằng : Chống lại Cách mạng tháng Mười có nghóa là chống lại những lợi ích cơ bản của dân tộc
mình, chống lại những lợi ích của giai cấp mình và của những người thân yêu của mình. Tôi tin rằng,
bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân, được tham gia vào những giờ phút lòch sử đó
tại Biển Đen, không thể hành động khác tôi, bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có nghóa là
yêu cách mạng tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại cách mạng tháng Mười”.
(1)
Sau cuộc binh biến, hạm đội hải quân Pháp được lệnh trở về. Hàng loạt binh só, công nhân bò chính
phủ Pháp bắt và đưa ra tòa án quân sự xét xử. Đồng chí Tôn Đức Thắng buộc phải rời khỏi nước Pháp.
Về Sài Gòn, đồng chí làm công nhân cho hãng KROFF và CIE. Lúc đó, thực dân Pháp ở Đông
Dương đang tiến hành chương trình khai thác thuộc đòa lần thứ hai, nên nhiều nhà máy cũ được mở rộng
về quy mô, nhiều nhà máy mới được xây dựng. Vì vậy, đội ngũ công nhân thành phố cũng đông đảo
thêm nhiều.
Năm 1920, đồng chí Tôn Đức Thắng lại trở về Tổ quốc. Tuy là người Việt Nam đầu tiên đem về
mối cảm tình sâu sắc với cách mạng tháng Mười Nga, với giai cấp công nhân Pháp và trực tiếp chòu ảnh
hưởng của phong trào bãi công của công nhân Pháp sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhưng đồng
chí Tôn Đức Thắng chưa đem về được quan niệm về tổ chức Đảng của giai cấp công nhân. Nhưng thực
dân Pháp vẫn cứ hoảng sợ, đề phòng và toàn quyền Đông Dương đã ra chỉ thò “Cần phải chú ý theo dõi
tư tưởng của những người ONS
“*”
nhất là cái đám đã sống trong các nhà máy, gần gũi với công nhân
Pháp, khác hơn các người khác họ là những người không bò luật lệ kỷ cương nhà bình kiềm chế, có thể
là tư tưởng họ không tốt”.
Đồng chí Tôn Đức Thắng không chòu trở lại làm việc ở Trường Bách Nghệ Sài Gòn, theo yêu cầu
của thực dân Pháp. Đồng chí đã cùng với một số đồng nghiệp lập ra cơ sở sửa chữa xe hơi ở Phú
Nhuận, để làm nơi vừa kiếm sống vừa hoạt động và để liên lạc với các xí nghiệp, nhà máy khác trong
thành phố ! Cũng vào thời điểm đó, tháng 3-1920 có cuộc bãi công, tiếp sau đó là nhiều cuộc mít tinh

dân Trung Hoa đang sục sôi ở Quảng Châu. Mãi gần bốn tháng sau – 28-11-1929, con tàu đó mới nhổ
neo rời cảng Sài Gòn được. Cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son do Công hội của đồng chí Tôn Đức
Thắng lãnh đạo thực chất là một cuộc đấu tranh chính trò. Với mục đích chính trò rõ rệt, cuộc đấu tranh
của Ba Son đã nổ ra dưới khẩu hiệu kinh tế. Tiếng vang của nó đã vượt qua biên giới và đến với Đại
hội lần thứ VI của Quốc tế Cộng sản (1928) khi đại biểu của Đông Dương báo cáo trên diễn đàn :
“Công nhân Ba Son không chòu sửa chữa Michelet mà bọn đế quốc Pháp dùng để tàn sát nhân dân
Trung Quốc”
(1)
. Do vậy, cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son không chỉ nói lên trình độ tự giác, trình
độ tổ chức, tinh thần Quốc tế vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam, uy tín của tổ chức Công hội và
vai trò của đồng chí Tôn Đức Thắng, mà còn mở đầu cho một giai đoạn mới đánh dấu giai cấp công
nhân Việt Nam đã bước đầu đi vào đấu tranh tự giác. Đóng góp tích cực vào sự chuyển biến đó,
chúng ta không thể không nhắc đến vai trò người công nhân đầu đàn Tôn Đức Thắng vì : “... trong các
giới hoạt động cách mạng, cũng như trong bà con anh em lao động Sài Gòn, Chợ Lớn, nói đến “GIÀ
THẮNG” thì ít người không biết đến... “GIÀ THẮNG” lúc nào cũng chăm chăm bênh vực quyền lợi
chung, có ý thức giai cấp chắc mạnh, lại giàu lòng hào hiệp, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho nhau, cưu
mang giúp đỡ bạn nghề và anh em trong khi thiếu thốn hoạn nạn”
(2)
. Vì đồng chí Tôn Đức Thắng là lớp
công nhân công nghiệp đầu tiên ở nước ta tiếp thu và giác ngộ cách mạng, là người công nhân tiêu biểu
nhất của giai cấp công nhân Việt Nam.
Cũng chính ở những thời điểm ấy, công nhân Sài Gòn với tổ chức Công hội của mình, không chỉ
tiếp xúc, đọc những sách báo của Đảng Cộng sản Pháp, Tổng Công đoàn Pháp gửi sang, mà còn được
đọc một số sách, báo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được lưu hành bí mật tại Sài Gòn. Đồng chí Tôn
Đức Thắng kể lại tác dụng, ý nghóa của nó : “Phong trào công nhân Nam bộ đã từ chỗ tự phát, rời rạc,
nhờ ảnh hưởng của cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, báo Người cùng khổ và mấy tờ đầu của tờ
Việt Nam hồn, mà bước đầu lan rộng. Bước đầu có tổ chức để đến năm 1927, giai cấp công nhân đi
vào phong trào “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” một cách sâu rộng hơn”
(1)
. Chính vì vậy, đến năm

bò vở lở.
Thực dân Pháp hí hửng khi bắt được đồng chí Tôn Đức Thắng, người mà chúng đã theo dõi từ sau
cuộc phản chiến trên Biển Đen phải trở về Sài Gòn và những hoạt động không mệt mỏi của đồng chí
trong phong trào công nhân thành phố. Biết được đồng chí là một trong những người lãnh đạo kỳ bộ
Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, thành lập Công hội bí mật và trực tiếp tổ chức nhiều
cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn, bọn chúng ra sức dùng đủ mọi thủ đoạn mua chuộc, tra tấn cực
hình dã man, nhằm khai thác những điều bí mật về tổ chức cách mạng. Vì là “Phần tử nguy hiểm”, nên
chúng giam đồng chí tại khám tù vò thành niên, nhằm không cho liên lạc được với ai, ngoài những
người tù chưa đến tuổi trưởng thành. Là một người tù lớn tuổi nhất, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cảm
hóa ngay được những thiếu niên sắp bước vào tuổi trưởng thành, nhưng vì những nguyên nhân khác
nhau, đã bò thực dân Pháp bắt giam trong khám. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã kể lại : “... giọng nói
cũng như mắt nhìn rất mộc mạc, hiền từ. Chẳng bao lâu, cả bọn tù vò thành niên, cả một đám thiếu niên
đã bò xã hội bất công, tàn nhẫn làm cho hư hỏng, đều đem lòng yêu thương, kính nể người tù đặc biệt.
Vì người tù ấy có lòng yêu thương xót xa tất cả một đám trẻ đáng thương ! Người tù ấy chính là đồng
chí Tôn Đức Thắng !
(1)
. Tình yêu thương con người, đồng bào, đồng chí vốn là bản chất trong người
công nhân cách mạng Tôn Đức Thắng.
Sáng ngày 26-7-1929, Hội đồng đề hình thành phố Sài Gòn đã đưa ra xét xử đồng chí Tôn Đức
Thắng và nhiều người khác sau vụ đường Barbier. Chúng tuyên án đồng chí Tôn Đức Thắng bò tù 20
năm khổ sai
(2)
. Sau đó, chúng lại giam đồng chí ở khám lớn Sài Gòn. Đêm 2-7-1930, con tàu Harmand
Rousseau chở những người tù, trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng từ khám lớn Sài Gòn, rời cảng Nhà
Rồng đày đi Côn Đảo.
Trong hồ sơ của đồng chí khi bò đày đi Côn Đảo, thực dân Pháp có ghi “Phần tử nguy hiểm”.
Đồng chí Tôn Đức Thắng mang số tù 5289.20 T.F
(H)
, bò giam ở khám 9, banh I. Nơi chuyên giam giữ
những tù lưu manh, trộm cắp hung ác đã nhiều lần mang án. Âm mưu thâm độc, nham hiểm của bọn

vọ của kẻ thù giữa chốn ngục tù khủng khiếp ấy. Đồng chí đã bò chúng bắt khi liên lạc với tù chính trò ở
banh II và bò nhốt ở xà lim số 15, ăn nhạt hai tuần. Sau đó bò tống giam vào hầm xay lúa.
Hầm xay lúa là đòa ngục của đòa ngục, nằm trong banh I, giam giữ những người chúng cho là cực
kỳ nguy hiểm và bò lao dòch nặng nề nhất, dưới sự cai quản của một tên cai (“Cặp rằn” – Caporal) vô
cùng tàn ác là tù hình sự. Ở đó, cứ ba cặp tù mới quay nổi một cối xay. Vì cối làm bằng thùng rượu
bằng gỗ cưa đôi, trong đắp đất sét, có găm răng cối; còn nỏ và giằng cối làm bằng gỗ lim dài 2 mét,
đường kính 20 cm, nên rất nặng nề. Không những thế, mỗi cặp tù chân phải mang chung một cùm sắt
nặng 10 kg. Cứ thế, họ phải sống trong lao động cực khổ, bụi bặm và roi vọt của cặp rằn hung hản. Do
đó, giữa người tù ở hầm xay lúa và tên cặp rằn tạo thành một mối thù phải trả, vì bọn đao phủ đã dùng
những tên anh chò hung bạo đó nhằm thủ tiêu, giết chết họ một cách hợp pháp nhất.
Lúc đó đồng chí Tôn Đức Thắng bò tống giam vào đây, thì đúng vào khi tên cặp rằn Bảy Tốt bò tay
chân của Tám Thiệu, Tám Liểu giết chết. Tên xếp Phê Răng đi ni đã chỉ đònh Tô Chấn – tù Quốc dân
Đảng thay, nhưng anh chòu ngồi xà lim, còn hơn nhận làm công việc khủng khiếp ấy. Bởi vậy, hắn chỉ
đònh Tôn Đức Thắng “Phần tử nguy hiểm”, mà lúc nào chúng cũng theo dõi, làm cặp rằn, nhằm thực
hiện mưu mô xảo quyệt : chia rẽ giữa tù chính trò và tù thường phạm, mượn tay chân của bọn anh chò
giết hại đồng chí Tôn Đức Thắng. Thực hiện chủ trương của Chi bộ Đảng, đồng chí nhận làm cặp rằn,
nhằm cải tạo hoàn cảnh theo khả năng của mình, và dần dần giảm bớt được chế độ khổ sai hà khắc ở
hầm xay lúa.
Biết đồng chí Tôn Đức Thắng là tù cộng sản, nói thạo tiếng Pháp nhưng không bao giờ tỏ thái độ
nònh hót bọn đao phủ người Pháp, hơn nữa lại có mối quan hệ đúng đắn với mọi người, nên anh em tù
nhân ở đây có cảm tình với người cặp rằn mới của mình. Trong họ, cả những tay anh chò ngổ ngược,
ngang tàng nhất, dần dần từ nể nang đến kính phục đồng chí, khi đưa lại những thay đổi mới trong chốn
đòa ngục này : bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp phân công các công việc hằng ngày theo
điều kiện sức khỏe từng người, tổ chức Hội tù nhằm giúp đỡ những người bò đau yếu, tai nạn, liên lực
với bên ngoài để giảm bớt được khối lượng công việc phải làm... Anh em ở đây, không những có thì giờ
nghỉ trưa, thổi cơm ăn thêm, mà còn được những đảng viên Cộng sản tổ chức nghe nói chuyện, học văn
5
hóa... nhằm đoàn kết, giáo dục lòng yêu thương con người, lòng yêu nước và khơi dậy trong họ tinh
thần đấu tranh. Chính vì vậy, ảnh hưởng của đồng chí Tôn Đức Thắng đối với tù thường phạm rất lớn.
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh kể lại : “Tôi mến phục tinh thần bình đẳng dân chủ thực sự, tính thật thà

say nghiên cứu những sách kinh điển của chủ nghóa Mác – Lê-nin và quan tâm đặc biệt đến các tác
phẩm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc như cuốn Đường cách mệnh hoặc Luận cương chánh trò của Đảng do
Tổng bí thư Trần Phú khởi thảo... nhằm rút ra những bài học, kinh nghiệm quý cho công tác cách mạng.
Trong các lớp học ấy, đồng chí Tôn Đức Thắng thường kể lại cuộc binh biến Hắc Hải năm 1919, mà
mình được tham gia, góp phần củng cố tình cảm với nước Nga Xô Viết của các chiến só Cộng sản Việt
Nam ngay trong lúc bò bọn đế quốc giam cầm.
Để thực hiện thắng lợi chủ trương “biến nhà tù thành trường học cách mạng”, đồng chí Tôn Đức
Thắng đã cùng với Chi ủy và nhiều Đảng viên khác, không chỉ đấu tranh với bọn cai ngục, mà còn phải
đấu tranh bền bỉ chống lại những quan điểm lạc hậu của anh em tù Quốc dân Đảng. Vì họ thường vu
khống, xuyên tạc chủ nghóa cộng sản, gieo rắc tư tưởng phản động của thuyết “đấu tranh sinh tồn” của
các học giả tư sản, lúc đó đang thònh hành trên thế giới. Mặt khác, họ thường xuyên rêu rao, đã kích
một cách bỉ ổi các chiến só cộng sản, say sưa học tập để “khỏi lạc đường ra nghóa đòa Hàng Dương”.
Thậm chí, đôi khi họ cố tình phá hoại bằng cách báo cho bọn cai ngục đến tòch thu các tài liệu, bắt bớ
đánh đập các chiến só cộng sản. Trong các cuộc đấu tranh ấy, đồng chí Tôn Đức Thắng đã vận dụng
thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghóa Mác – Lê-nin, để đánh bại không nhân nhượng thuyết vò chủng,
thuyết sinh tồn sặc mùi phản động. Với thái độ đúng mực và lòng chân thành, đồng chí Tôn Đức Thắng
cùng với các đồng chí đảng viên khác đã giúp họ nhận rõ những sai lầm trong tư tưởng và hành động,
nên đã có thái độ bảo vệ đồng chí trước âm mưu sát hại của tù Quốc dân Đảng.
6
Năm 1934, trong thời kỳ đồng chí Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, biết được chủ trương của
Chi bộ Đảng bố trí cho các đồng chí Ngô Gia Tự, Lê Quang Sung, Tô Chấn... vượt Côn Đảo về đất liền.
Đồng chí đã dở máy ca nô để sửa chữa đúng vào dòp đó. Theo đồng chí Hoàng Quốc Việt thì lúc đó :
“... qua những lời hé lộ của đám gác đêm và bàn tán của tù thường mà biết rằng chiếc ca nô duy nhất
của đảo đã được dở ra sửa chữa đúng lúc cuộc vượt đảo diễn ra. Không ai bảo ai, mấy anh em tù cộng
sản chúng tôi cười thầm. Biết chắc rằng đồng chí nào đó của mình đã cho ca nô hỏng đúng lúc để
chúng không có cái rượt đuổi. (Về sau chúng tôi mới biết là một người tù chính trò đồng chí Tôn Đức
Thắng)”
(1)
. Tiếp đó, mấy tháng sau Chi bộ lại tổ chức chuyến vượt đảo lần thứ hai gồm các đồng chí Tạ
Uyên, Nguyễn Hữu Tiến, Trần Quang Tặng, Tống Văn Trân, Vũ Công Phu... và đồng chí Tôn Đức

chính xác, từ đó đònh ra được những kế hoạch, biện pháp đối phó, đấu tranh có hiệu quả hơn đối với kẻ
thù ở Côn Đảo. Do đó, cũng đòi hỏi ở sự cố gắng, nỗ lực ngày càng lớn của đồng chí Tôn Đức Thắng,
trong việc thu lượm tin tức, quan hệ với đất liền, với các thủy thủ Pháp, Việt, để nắm chắc xu thế phát
triển của cách mạng trong nước và thế giới. Đồng chí Tôn Đức Thắng đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ
đó.
Đặc biệt, sau ngày 9-3-1945, khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, tình hình ở Côn Đảo lại
càng phức tạp hơn. Khi bọn phát xít Nhật đến thay thế Pháp tại Côn Đảo, trong nội bộ tù nhân ở đây
cũng có sự phân hóa rõ rệt. Một số hoang mang, một số xu thời ra mặt chửi Pháp nònh Nhật và tố cáo
những người Cộng sản để lập công. Đứng trước tình hình phức tạp đó, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cùng
với các đồng chí trong chi ủy và đảng viên trong chi bộ, vạch rõ phát xít Nhật cùng bè lũ phát xít thế
giới, nhất đònh sẽ thất bại, cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới sẽ thắng lợi hoàn
toàn. Đồng thời, Chi bộ bàn bạc chủ trương chuẩn bò khởi nghóa giành chính quyền, khi có điều kiện
thuận lợi.
7
Không nắm được tình hình chung của phong trào cách mạng cả nước, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó
khăn trong việc Chi bộ quyết đònh hành động. Đồng chí Tôn Đức Thắng được Chi bộ giao cho nhiệm vụ
phải chữa bằng được chiếc máy thu thanh đã hỏng nát, mà bọn chúa ngục đã vứt bỏ từ lâu. Với ý thức
trách nhiệm rất cao trước Chi bộ, với nhiệt tình cách mạng nóng bỏng và với tất cả vốn liếng tay nghề
của người thợ máy lâu năm, đồng chí Tôn Đức Thắng đã hoàn thành nhiệm vụ đó một cách xuất sắc và
kòp thời. Vừa chữa xong máy thu thanh đã bắt ngay được làn sóng của Đài Phát thanh tiếng nói Việt
Nam, phát đi từ Thủ đô Hà Nội, nghe được lời của Chủ tòch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập,
tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Đồng chí Tôn Đức Thắng cùng anh em trên toàn Đảo mừng
vui trong ngày hội lớn của dân tộc hồi sinh sau gần 80 năm phải làm nô lệ. Trong niềm vui lớn đó, biết
bọn chúa đảo đang hoang mang dao động đến cực điểm, bất chấp sự kềm kẹp của giám ngục, Chi bộ
Đảng đã quyết đònh tổ chức ngay một cuộc mít tinh trọng thể mừng Độc lập Tự do, ủng hộ Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nổi dậy giành chính quyền làm chủ trên toàn đảo.
Ngày 23-9-1945, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng các đồng chí khác bò giam giữ ở nhà tù Côn Đảo,
được Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Nam bộ cử một phái đoàn đưa tàu ra đón về đất liền.
Đồng chí Tôn Đức Thắng về đất liền vào ngày 23 tháng 9 năm 1945. Sau 17 năm xa cách đồng chí
chỉ kòp gặp gia đình ít giờ rồi lại đi ngay gặp Xứ ủy nhận công tác mới của Đảng. Khi đồng về thì cuộc

Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắc là Liên Việt), vào cuối tháng 5-1946 tại Hà Nội. Toàn thể đại
biểu Hội nghò đã nhất trí bầu Chủ tòch Hồ Chí Minh là Chủ tòch danh dự của Mặt trận, bầu cụ Huỳnh
8
Thúc Kháng, Phó chủ tòch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Chủ tòch Mặt trận Liên Việt và đồng
chí Tôn Đức Thắng làm Phó Chủ tòch Mặt trận Liên Việt, để lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi mục
đích của Mặt trận là : “Đoàn kết tất cả các Đảng phái yêu nước và các đồng bào vô Đảng phái, không
phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trò, chủng tộc để làm cho Nước Việt Nam độc lập, thống
nhất, dân chủ, phú cường”.
Từ đó, với cương vò người lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng chí đã hoạt động hết sức
mình vì sự nghiệp đoàn kết toàn dân, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đến tháng 10-1946, đồng chí trong đoàn đại biểu Nam bộ đi dự kỳ họp thứ
II của Quốc hội khóa I, họp tại Nhà hát Thành phố Hà Nội. Tại kỳ họp, đồng chí được các đại biểu
Quốc hội bầu làm Trưởng đoàn Chủ tòch của kỳ họp. Theo sáng kiến của đoàn đại biểu Nam bộ, toàn
thể Quốc hội nhất trí bày tỏ sự tín nhiệm và tin tưởng tuyệt đối của nhân dân cả nước đối với Chủ tòch
Hồ Chí Minh và suy tôn Người là Người công dân thứ nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vì đã
sáng suốt lãnh đạo nước nhà thoát khỏi xiềng xích của đế quốc phong kiến. Tại kỳ họp này, đồng chí
Tôn Đức Thắng cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và gần 300 đại biểu Quốc hội, đã nhất
trí thông qua : báo cáo của Chính phủ về những công tác đã làm trong 8 tháng qua và Hiến pháp đầu
tiên của nước ta.
Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng với Trung ương Đảng, Chính
phủ dời lên chiến khu Việt Bắc, để bảo toàn lực lượng, lãnh đạo toàn dân ta tiến hành cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngoài cương vò lãnh đạo Mặt trận Liên Việt, đồng chí Tôn Đức Thắng được Trung ương Đảng,
Chính phủ phân giữ nhiều trọng trách : Tổng thanh tra Chính phủ, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng
Ban thi đua ái quốc Trung ương, quyền Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Chủ tòch danh dự Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam, Hội trưởng Hội Hữu nghò Việt – Xô. Ở tất cả các cương vò ấy, đồng chí luôn
luôn khắc phục mọi khó khăn gian khổ, xuống tận cơ sở, đòa phương, động viên các gia đình thương
binh, liệt sỹ, các ngành, các cấp trong và ngoài quân đội... nhằm động viên toàn dân góp sức người, sức
của và tài trí cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Đồng thời, kiểm tra, đôn đốc hoạt động của các tổ chức
Nhà nước, đoàn thể, thúc đẩy bộ máy kháng chiến hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả, góp phần trực tiếp

Thực hiện nghò quyết của Đại hội Đảng, để củng cố, tăng cường sự đoàn kết nhất trí của toàn dân,
góp phần đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc, đồng chí Tôn Đức Thắng ra sức
khẩn trương chuẩn bò tiến tới Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt, được triệu tập từ
ngày 3 đến 7 tháng 3 năm 1951. Đại hội đã suy tôn Chủ tòch Hồ Chí Minh làm Chủ tòch danh dự và bầu
đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tòch Mặt trận. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, Đại hội đã thông qua
được nhiều nghò quyết quan trọng : thống nhất hai Mặt trận Việt Minh – Liên Việt thành Mặt trận Liên
Việt, Chính cương, Điều lệ, Tuyên ngôn của Mặt trận, và nhất trí tán thành việc xây dựng và bảo vệ
khối đoàn kết giữa nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia để chống kẻ thù chung. Đảng coi
thành công của Đại hội Mặt trân lần này là một thắng lợi chính trò lớn của nhân dân ta, như Chủ tòch Hồ
Chí Minh đã phát biểu : “Hôm nay trông thấy rừng cây đoàn kết đã nở hoa kết quả và gốc rễ nó đang
ăn sâu lan rộng khắp toàn dân. Nó có một tương lai “trường xuân bất lão”
(1)
. Đồng chí Tôn Đức Thắng
người trực tiếp góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chính trò lớn đó.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp càng gần đến ngày thắng lợi, Đảng và Nhà nước ta lại
càng phải cần huy động tổng lực nhiều mặt, cần sự nhất trí về tinh thần, sự đoàn kết ngày càng chặt chẽ
của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vậy, trong năm 1953, đồng chí Tôn Đức Thắng liên tiếp
triệu tập và chủ trì : Hội nghò Liên tòch giữa Ủy ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn
quốc (2-1953) và Hội nghò Ủy ban Liên Việt toàn quốc mở rộng (11-1953), bao gồm đông đảo đại biểu
các chính đảng, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo trong toàn quốc, để thấm nhuần cương lónh của Đảng Lao
động Việt Nam về vấn đề ruộng đất”. Hội nghò đã đi đến quyết nghò quan trọng:
– Đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh đổ ngụy quyền,
giải phóng dân tộc, củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, giải phóng sức sản xuất ở nông
thôn, phát triển sản xuất nông nghiệp, mở đường phát triển công thương nghiệp, cải thiện đời sống nhân
dân.
– Kêu gọi các chính đảng, đoàn thể và toàn thể nhân dân ta ủng hộ cương lónh ruộng đất của
Đảng, ủng hộ cuộc đấu tranh của nông dân, tích cực tham gia cải cách ruộng đất và hoàn thành sự
nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Với cương vò là người trực tiếp lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng chí Tôn Đức Thắng đã
nỗ lực hoạt động với mọi sức lực, tâm huyết của người chiến só cộng sản, vì sự thắng lợi của chính sách

dựng chủ nghóa xã hội, mà cả trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.
Cùng với nhiệm vụ lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tháng 2-1957 khi Ban Thanh toán nạn
mù chữ Trung ương được thành lập, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Trưởng Ban. Với trách
nhiệm đó, đồng chí đã kêu gọi mọi người chưa biết chữ phải đi học để nâng cao hiểu biết, làm tròn
nghóa vụ đối với Tổ quốc. Đồng thời, kêu gọi mọi người biết chữ hãy tự nguyện góp sức mình vào “Đội
tiên phong trong sự nghiệp diệt dốt” và coi họ là những chiến só trên mặt trận chống lại hậu quả của
chính sách ngu dân do thực dân Pháp để lại và là những người mở mang tri thức phổ thông cho đồng
bào. Tuy gần 70 tuổi, đồng chí không quản ngại tuổi già sức yếu, vẫn thường xuyên xuống tận các lớp
bình dân học vụ ở Hà Nội và nhiều đòa phương xa để kiểm tra, đôn đốc và có những biện pháp cụ thể
nhằm đẩy mạnh việc học tập của các học viên và dạy học của các chiến só diệt dốt. Dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của đồng chí và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của người học và người dạy, nên
nạn mù chữ đã được thanh toán ngay vào cuối năm 1958 ở vùng đồng bằng và trung du miền Bắc.
Tháng 8-1958, nhân dòp đồng chí Tôn Đức Thắng 70 tuổi, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội và Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã quyết đònh tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng – Huân
chương cao q nhất của Nhà nước ta, vì đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong chín năm kháng chiến
chống thực dân Pháp và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghóa xã hội. Trong buổi lễ trao tặng huân
chương, Chủ tòch Hồ Chí Minh đã khẳng đònh : “... đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người
rất xứng đáng được tặng thưởng huân chương ấy”. Trước vinh dự lớn này, đồng chí Tôn Đức Thắng vô
cùng cảm động phát biểu : “... tôi không biết nói gì hơn là hứa lấy cố gắng của tôi để góp công ơn của
Đảng, công ơn của Hồ Chủ tòch. Người sáng lập và xây dựng Đảng, đã đưa tôi vào con đường vẻ vang
và để đền đáp sự tín nhiệm của nhân dân và Chính phủ”.
Đồng chí Tôn Đức Thắng tuy tuổi cao nhưng ý chí càng cao, nên tháng 7 năm 1960, Quốc hội đã
nhất trí bầu đồng chí làm Phó Chủ tòch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tòch Hồ Chí Minh đã
siết chặt tay đồng chí nói : “Toàn thể Quốc hội nhất trí bầu cụ làm Phó Chủ tòch nước, tức là đồng bào
miền Nam đều bầu cụ làm Phó Chủ tòch nước. Điều đó tiêu biểu rằng nước ta nhất đònh thống nhất”.
Tiếp đó khi Chủ tòch Hồ Chí Minh qua đời (9-1969), đồng chí Tôn Đức Thắng được Quốc hội nhất trí
bầu làm Chủ tòch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa II, họp ở Hà Nội
ngày 23-9-1969. Vinh dự được kế tiếp chức vụ của Chủ tòch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng
khiêm tốn nói : “Về phần tôi được kế tiếp chức vụ của Hồ Chủ tòch là điều rất vinh quang đối với tôi,
nhưng càng là điều mà tôi chưa bao giờ dám nghó đến...” và chân thành hứa: “Mặc dù tài hèn đức kém,

Không phải bằng lời kêu gọi, mà bằng hành động thực tế hàng ngày, Chủ tòch Tôn Đức Thắng
giành nhiều thời gian, xuống thăm hỏi các đơn vò lực lượng vũ trang động viên tinh thần chiến đấu đánh
giặc của cán bộ, chiến só, nhắc nhở phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của
kẻ thù. Đặc biệt, ngay sau chiến công đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bảy B.52 của không
quân Mỹ ở Hà Nội, Chủ tòch Tôn Đức Thắng đã kòp thời đến biểu dương thành tích của các đơn vò bộ
đội, tự vệ đã lập nhiều chiến công hạ máy bay B.52, F.111. Đồng thời ân cần thăm hỏi đồng bào đường
phố Khâm Thiên (Hà Nội) đang khắc phục hậu quả và chia buồn tới các gia đình có người thân đã bò
thiệt hại, trong cuộc ném bom có tính chất hủy diệt vô cùng dã man của giặc Mỹ vào tháng 12-1972.
Bò liên tiếp thất bại lớn trên chiến trường miền Nam và trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà
Nội, ngày 27-1-1973, chính phủ Mỹ buộc phải ký Hiệp đònh về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở
Việt Nam. Nhưng chưa ráo mực, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã ra sức phá hoại những điều
khoản vừa ký kết, nhưng không thể tránh khỏi sự thất bại hoàn toàn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa Xuân năm 1975 ở miền Nam, nhân dân ta đã giành thắng lợi quyết đònh : giải phóng hoàn
toàn miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Trong niềm vui
lớn đó, ngày 15-5-1975, Chủ tòch Tôn Đức Thắng về miền Nam dự lễ mừng chiến thắng vó đại của dân
tộc ta tại thành phố Sài Gòn, Chủ tòch đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến những thắng lợi kỳ
diệu ấy và kêu gọi đồng bào miền Nam cùng với đồng bào miền Bắc, chung sức chung lòng trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay sau ngày thống nhất nước nhà, Chủ tòch Tôn Đức Thắng cùng với Ủy Ban Thường vụ Quốc
hội chuẩn bò tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất. Ngày 3-7-1976, kỳ họp đầu tiên của Quốc
hội khóa VI, nhất trí bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tòch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghóa Việt
Nam. Thay mặt những đồng chí được bầu vào các cơ quan lãnh đạo Nhà nước, Chủ tòch Tôn Đức Thắng
nói : “Chúng tôi xin hứa với Quốc hội, với đồng bào cả nước sẽ tiếp tục mang hết sức mình phục vụ Tổ
quốc phục vụ nhân dân, ra sức đoàn kết, động viên toàn dân phấn đấu thực hiện đầy đủ lời căn dặn của
Hồ Chủ tòch : “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.
12
Nhưng vừa ra khỏi cuộc chiến tranh, sau 117 năm kiên cường chiến đấu, nhân dân ta chưa kòp hàn
gắn vết thương chiến tranh, thì bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh, được đế quốc Mỹ đồng tình, lại
tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt đối với đất nước ta. Chúng dùng bọn Pôn Pốt – Iêng Xa
ry gây ra chiến tranh ở biên giới Tây Nam (1978) và mang quân xâm lược biên giới phía Bắc (1979).

để tăng cường nền hòa bình ở châu Á và trên thế giới”. Cũng nhân dòp này, Ban chấp hành Trung ương
Đảng khẳng đònh công lao to lớn và chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng : “Việc trao tặng giải hòa bình
quốc tế mang tên Lênin vó đại cho đồng chí, người đại biểu xứng đáng của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động Việt Nam, người bạn chiến đấu trung thành của Hồ Chủ tòch, còn là một sự cỗ vũ vô cùng
mạnh mẽ đối với nhân dân ta trong cuộc đấu tranh gay go nhằm củng cố, thực hiện thống nhất, hòa
bình, độc lập và dân chủ trong cả nước”.
Đến tháng 11 năm 1967, do những cống hiến lớn lao với sự nghiệp hòa bình thế giới. Đoàn Chủ
tòch Xô Viết tối cao Liên Xô quyết đònh tặng đồng chí Tôn Đức Thắng huân chương Lênin. Huân
chương cao q nhất của Liên Xô, nhân dòp kỷ niệm lần thứ 50 cách mạng xã hội chủ nghóa tháng Mười
Nga. Vinh dự đặc biệt đó không chỉ dành cho đồng chí Tôn Đức Thắng, mà còn là vinh dự chung của
nhân dân Việt Nam ta.
Dù ở cương vò nào, đồng chí Tôn Đức Thắng cũng hết lòng tận tụy vì dân vì nước, ngay cả khi tuổi
già sức yếu. Ngày 30-3-1980, sau gần hai năm yếu mệt, được Trung ương Đảng, Nhà nước tập trung
13
những khả năng, phương tiện tốt nhất để tận tình cứu chữa, chăm sóc, nhưng Chủ tòch Tôn Đức Thắng
không qua được những cơn bệnh hiểm nghèo và đã từ trần.
Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận đã quyết đònh tổ chức lễ quốc
tang với nghi thức trọng thể và toàn thể nhân dân Việt Nam để tang đồng chí Tôn Đức Thắng trong 5
ngày từ 1 – 5-4-1980.
Sáng ngày 1-4-1980, tại Hội trường Ba Đình lòch sử, lễ viếng đồng chí Tôn Đức Thắng được cử
hành rất trọng thể. Các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận luôn luôn
túc trực bên linh cửu đồng chí Tôn Đức Thắng. Đã có gần 150 đoàn đại biểu với hơn 10 ngàn người
thay mặt đồng bào cả nước đến viếng. Ở tất cả các đòa phương trong nước đều tổ chức lễ tưởng niệm
người cộng sản kiên cường, mẫu mực Tôn Đức Thắng. Ngoài ra còn nhiều đoàn đại biểu cấp cao của
Đảng, Nhà nước ở nhiều quốc gia sang nước ta dự lễ tang; các đoàn ngoại giao, các tổ chức quốc tế tại
nước ta cũng đã đến đặt vòng hoa kính viếng anh linh của Chủ tòch Tôn Đức Thắng. Với tấm lòng
ngưỡng mộ người chiến só cộng sản quốc tế đã về nơi vónh cửu, ở nhiều nước trên thế giới đã tổ chức lễ
tang hoặc quốc tang. Ở tất cả các cơ quan ngoại giao của nước ta tại các nước, đã đón rất nhiều nhà
lãnh đạo, và quần chúng nhân dân đến chia buồn và ký vào sổ tang. Cũng thời gian đó, Đảng, Nhà
nước ta cũng đã nhận được rất nhiều điện chia buồn từ các nước gửi tới nhân dân ta.

14
dân Pháp, đế quốc Mỹ và xây dựng chủ nghóa xã hội. Bất cứ ở cương vò nào, dù là Chủ tòch nước, đồng
chí Tôn Đức Thắng cũng hết lòng, hết sức, tận tụy vì Đảng, vì nước, vì dân. Đồng chí là một tấm gương
sáng mẫu mực về đạo đức cách mạng, suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Tính tổ chức và
tính nguyên tắc cao, khiêm tốn và giản dò, yêu thương đồng chí và quý trọng đồng bào vốn là bản chất
cuộc đời của đồng chí Tôn Đức Thắng.
Gần 70 năm hoạt động cách mạng, đồng chí không chỉ là nhà yêu nước vó đại, người cộng sản tiêu
biểu của dân tộc, mà còn là một chiến só Lê-nin-nít trong phong trào cộng sản quốc tế, suốt đời phấn
đấu cho sự củng cố, phát triển tình đoàn kết, hữu nghò, chiến đấu theo tinh thần quốc tế xã hội chủ
nghóa giữa các nước. Đồng chí là một trong những người Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào
công nhân Pháp và đem lại mối tình hữu nghò giữa hai dân tộc Việt – Pháp. Đồng thời, đồng chí cũng là
một trong những người Việt Nam đầu tiên biểu thò bằng hành động bảo vệ thành quả của cách mạng
tháng Mười Nga vó đại, vun đắp cho sự nghiệp đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Liên Xô
anh em. Những hoạt động thực tiễn của đồng chí Tôn Đức Thắng, nhằm đoàn kết với các Đảng, Quốc
hội, Nhà nước, cộng đồng các nước xã hội chủ nghóa và các nước có chế độ chính trò xã hội khác nhau,
đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần vào sự hiểu biết lẫn nhau, bảo vệ hòa bình, hạnh phúc của
nhân loại.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Tôn Đức Thắng là một kiểu mẫu phong phú hoàn
chỉnh về nhân sinh quan cộng sản và là tượng trưng những tinh hoa của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
phẩm chất cách mạng và phong cách của giai cấp công nhân Việt Nam, dân tộc Việt Nam và của
những người cộng sản Việt Nam. Trong Thông báo Đặc biệt ngày 30-3-1980 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và Đoàn Chủ tòch
Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã khẳng đònh : “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một nhà
yêu nước vó đại, người cộng sản kiên cường mẫu mực, người lãnh đạo kính mến của giai cấp công nhân
và nhân dân các dân tộc nước ta, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tòch Hồ Chí Minh, người chiến
só hết sức trung thành của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Đồng chí đã cống hiến cả đời
mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chủ nghóa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc, đồng thời đồng chí đã suốt đời phấn đấu cho sự phát triển tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu
nghò anh em giữa nhân dân ta với nhân dân Liên Xô, nhân dân các nước xã hội chủ nghóa anh em khác
và phát triển tình hữu nghò với các dân tộc trên thế giới, vì lợi ích của sự nghiệp hòa bình, độc lập dân

Thắng sống lâu, mạnh khỏe.
Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương
Sao Vàng là Huân chương cao q nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức
Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy.
LỜI CHÚC CỦA ĐỒNG CHÍ TRƯỜNG CHINH
(1)
Thưa Chủ tòch Tôn Đức Thắng.
Thưa Phó Chủ tòch Nguyễn Lương Bằng.
Thưa các đồng chí Đại biểu Quốc hội.
Sau khi Hồ Chủ tòch kính mến qua đời, trong phiên họp trọng thể này, Quốc hội ta đã nhất trí bầu
cụ Tôn Đức Thắng giữ chức Chủ tòch và đồng chí Nguyễn Lương Bằng giữ chức Phó Chủ tòch nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cụ Tôn Đức Thắng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng là hai chiến só lão thành của cách mạng Việt
Nam, những người bạn chiến đấu gần gũi với Hồ Chủ tòch, những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam
ta. Hai đồng chí được Quốc hội nhất trí tín nhiệm giao cho trọng trách lãnh đạo Nhà nước ta là rất xứng
đáng. Sự tín nhiệm của Quốc hội tức là sự tín nhiệm của toàn dân ta. Điều đó làm cho nhân dân ta ở cả
hai miền, các chiến só ngoài mặt trận cũng như đồng bào ở hậu phương và bè bạn ta trên thế giới vui
mừng, phấn khởi.
Quốc hội xin nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Chủ tòch và đồng chí Phó Chủ tòch mới của nước ta,
và xin kính chúc các đồng chí luôn luôn mạnh khỏe, thu được nhiều thắng lợi lớn trong công tác lãnh
đạo Nhà nước, lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghóa xã hội và đánh thắng hoàn toàn
giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà.
HỌC TẬP GƯƠNG SÁNG
CỦA ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG
(1)
16
Chúng ta rất vui sướng chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng nhân dòp sinh nhật lần thứ 70 của
đồng chí.
Đồng chí Tôn là một người con yêu q của dân tộc, một đảng viên gương mẫu của Đảng Lao
động Việt Nam.

(1)
Thưa các đồng chí và đồng bào,
Đồng chí Tôn Đức Thắng, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tòch
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghóa Việt Nam, Chủ tòch nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghóa Việt Nam, đã qua đời ngày 30 tháng 3 năm 1980, hưởng thọ 92 tuổi.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng đau đớn vónh biệt đồng chí.
Đồng chí Tôn Đức Thắng từ trần, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghóa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân Việt Nam mất một chiến só cách mạng kiên
cường, mẫu mực, một người lãnh đạo kính mến và thân thiết.
17
Đồng chí là một trong các chiến só lớp đầu của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân
tộc ở nước ta, là một trong những người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Chủ tòch Hồ Chí Minh vó
đại.
Từ những năm đầu thế kỷ này, đồng chí Chủ tòch Tôn Đức Thắng đã tham gia lãnh đạo phong trào
yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, và đứng vào hàng ngũ những chiến só tiên
phong.
Đồng chí là một trong những người công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công
nhân Pháp. Đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy của hải quân Pháp ở Hắc Hải, kéo lá cờ đỏ trên một
chiến hạm Pháp, ủng hộ Liên Bang Xô Viết, nước xã hội chủ nghóa đầu tiên trên thế giới, chống sự can
thiệp vũ trang của bọn đế quốc đối với Nhà nước Xô Viết còn non trẻ.
Cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của đồng chí đầy gian lao, thử thách. Đồng chí bò bọn đế
quốc bắt giam giữa lúc đang hoạt động sôi nổi trong hàng ngũ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng
chí Hội ở Nam bộ. Gần 17 năm bò tù đày ở Côn Đảo, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần cách mạng
kiên cường, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghóa xã hội.
Sau cách mạng tháng Tám (1945) thành công, từ Côn Đảo trở về, đồng chí liền hoạt động tích cực,
góp phần cùng với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn bành
trướng Trung Quốc và bè lũ tay sai, vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì chủ nghóa xã hội.
Đồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Hồ Chủ tòch.
Bất kỳ ở cương vò công tác nào, mặc dù tuổi cao đồng chí luôn luôn phấn đấu quên mình để hoàn

giặc Mỹ xâm lược. Nhân dân Việt Nam càng ra sức tăng cường tình hữu nghò anh em giữa nhân dân
Việt Nam và nhân dân Liên Xô”.
x
x x
Bác Tôn là một người con ưu tú của dân tộc ta, là một người con yêu quý của miền Nam anh hùng.
Đồng bào miền Nam ta hết sức quý mến Bác Tôn. Cùng với hình ảnh Bác Hồ, hình ảnh Bác Tôn luôn
luôn cổ vũ đồng bào và chiến só miền Nam ta.
Việc Bác Tôn được tặng Huân chương Lê-nin sẽ làm cho quân và dân miền Nam ta càng thêm
phấn khởi, xông lên giành những thắng lợi mới.
Báo Thống Nhất,
số 660 ra ngày 10-11-1967.
ĐOÀN CHỦ TỊCH QUỐC HỘI MÔNG CỔ
TẶNG CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG
HUÂN CHƯƠNG XU-KHÊ BA-TO
Theo tin từ U-lan Ba-to, nhân dòp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của Chủ tòch Tôn Đức Thắng,
Đoàn Chủ tòch Quốc hội nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ đã quyết đònh tặng Chủ tòch Tôn Đức
Thắng Huân chương Xu-khê Ba-to, Huân chương cao quý nhất của Mông Cổ, để ghi nhận công lao to
lớn của Chủ tòch đã cống hiến cho sự nghiệp hòa bình, hữu nghò và chủ nghóa xã hội của các dân tộc và
trong việc củng cố tình hữu nghò anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mông Cổ.
Báo Nhân Dân
số ra ngày 26-8-1978.
MỘT CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG CAO QUÝ
Với lòng thành kính và yêu mến nồng nàn, chúng ta chúc mừng đồng chí Chủ tòch Tôn Đức Thắng
hôm nay tròn 90 tuổi.
Một tuổi thọ cao quý của một người chiến só cách mạng, một đồng chí cộng sản cao quý.
Những người cách mạng Việt Nam chúng ta chưa ai có cuộc sống chiến đấu lâu dài như đồng chí
Tôn kính mến. Đồng chí đã hoạt động cách mạng hơn bảy mươi năm ở trong nước và ở nước ngoài, vì
độc lập, tự do và vì chủ nghóa xã hội ở nước ta và trên thế giới. Kể từ khi đồng chí tham gia phong trào
yêu nước và phong trào công nhân đến nay, biết bao thay đổi đã diễn ra trên quả đất này.
Hai cuộc chiến tranh thế giới do bọn đế quốc phát động đã làm suy yếu chúng. Và các lực lượng

phải tiếp tục làm cách mạng. Bọn đế quốc và các thế lực phản cách mạng không để cho chúng ta yên
ổn, tập trung lực lượng xây dựng sự giàu mạnh và cuộc sống tốt đẹp. Chúng đang cấu kết với nhau ngăn
cản bước tiến của ta, đe dọa sự an toàn của đất nước ta.
Đoàn kết chung quanh Đảng lãnh đạo thân yêu của mình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối
của Đảng, hệ tư tưởng mác-xít – Lê-nin-nít, chúng ta nhất đònh sẵn sàng đối phó với mọi tình thế phức
tạp, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghóa xã hội. Những người cộng sản chúng ta cần luôn luôn
cảnh giác trước những khuynh hướng cơ hội chủ nghóa, khắc phục sự trỗi dậy của chủ nghóa cá nhân
làm cho mình yếu đuối và hoen ố thanh danh của người cộng sản. Chủ nghóa cá nhân là nguồn gốc của
nhiều sai lầm và tội lỗi. Tham lam tiền tài và đòa vò là chủ nghóa cá nhân. Coi ý chí của mình hơn ý chí
của tổ chức là biểu hiện cá nhân chủ nghóa tệ hại hơn nhiều.
Chúng ta luôn luôn có những gương sáng chói lọi để noi theo. Vinh dự lớn nhất của người cộng sản
là suốt đời phấn đấu cho thắng lợi của cách mạng, làm tròn nhiệm vụ của mình, giữ vững lòng thành và
sự trong sáng.
Xã luận Báo Nhân Dân
Ngày 20-8-1978.
KÍNH CHÚC CỤ TÔN ĐỨC THẮNG
MẠNH KHỎE SỐNG LÂU
Lòch sử có những sự trùng hợp thật là kỳ lạ. Giữa lúc, từ miền Nam, tin chiến thắng của cuộc tổng
tiến công long trời lở đất tới tấp bay về thì chúng ta lại có thêm cái vui mừng được chúc thọ tám mươi
20
của Cụ Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của Thành đồng Tổ quốc, từ bao nhiêu năm nay đã đóng góp
công sức vào việc xây dựng khối đại đoàn kết vô đòch của toàn dân, vào sự nghiệp cách mạng chung
của cả dân tộc.
Người chiến só cách mạng dân tộc và chiến só cách mạng thế giới lão thành đó là người đầu tiên đã
tham gia đấu tranh cách mạng tháng Mười và, suốt sáu mươi năm nay, đã không ngừng tranh đấu cho
giai cấp, cho dân tộc, cho nhân loại.
Mừng thọ tám mươi tuổi của Cụ, anh chò em trí thức Việt Nam nguyện học tập gương sáng của Cụ
suốt đời hy sinh vì cách mạng, luôn luôn giữ vững khí tiết của một người cộng sản đấu tranh quyết liệt
với quân thù, không một chút khoan nhượng ngay giữa cảnh ngục tù, một lòng vì dân, vì nước.
Mừng thọ tám mươi của Cụ, anh chò em nguyện học tập gương đạo đức cách mạng của Cụ, suốt

động tới một đơn vò hải quân được lệnh tấn công Xê-vát-xtô-pôn, trên bờ Hắc Hải. Binh só và công
nhân trên chiến hạm đã phản chiến. Và chính Bác đã được vinh dự kéo lá cờ đỏ trên một trong những
chiến hạm đó để chào mừng Nhà nước vô sản đầu tiên thế giới. Cuộc binh biến Hắc Hải đã làm thất
21
bại sự can thiệp của đế quốc Pháp vào nước Nga và cổ vũ nhân dân lao động toàn thế giới đứng lên
bảo vệ Cách mạng Tháng Mười, bảo vệ nước Nga Xô Viết.
Sau cuộc binh biến, Bác Tôn phải ra khỏi hải quân. Bác vào làm thợ máy cho hãng xe hơi Rơ-nôn,
gia nhập Tổng Công hội Pháp và tiếp tục đấu tranh trong hàng ngũ công nhân.
Năm 1920, Bác trở về Sài Gòn và cùng vài bạn công nhân mở xưởng sửa chữa xe hơi để giúp công
ăn việc làm cho những công nhân thất nghiệp. Bác tập hợp nhiều công nhân và tổ chức được nhiều cơ
sở công hội bí mật tại Sài Gòn – Chợ Lớn nhằm mục đích đấu tranh chống sự áp bức, bóc lột của bọn tư
bản, bênh vực quyền lợi công nhân và giúp đỡ lẫn nhau. Các cơ sở công hội ấy tiếp thu chủ nghóa Mác
– Lê-nin qua các sách báo của Hồ Chủ tòch và các tài liệu do Đảng Cộng sản Pháp và Tổng Công hội
Pháp gửi về, đã lãnh đạo phong trào bãi công của thủy thủ và công nhân Nam bộ. Tiêu biểu nhất là
cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son, tháng 8-1925, nhằm làm chậm trễ việc sửa chữa chiến
hạm Giuyn Mi-sơ-lê đế quốc Pháp đònh đưa sang đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Trung
Quốc.
Năm 1926, Bác Tôn là một trong những người đầu tiên tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí
Hội – tổ chức tiền thân của Đảng ta. Năm sau, Bác được cử vào Kỳ bộ Nam kỳ. Nhờ sự hoạt động tích
cực của Bác, phong trào công nhân và Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội phát triển mạnh mẽ.
Cuối năm 1929, giữa lúc phong trào công nhân đang lên cao thì Bác Tôn bò đế quốc Pháp bắt giam
và kết án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. 17 năm sống trong nhà tù đế quốc, khi thì Bác bò nhốt vào
hầm xay lúa, khi thì bò nhốt vào trong hầm tối, tay chân bò xiềng xích, cùm kẹp, khi thì bọn đế quốc cho
Bác ăn lúa sống hoặc bò đói khát... Bác Tôn vẫn luôn luôn nêu cao khí tiết cách mạng, bất khuất, kiên
cường. Bác cùng một số đồng chí khác bền bỉ đấu tranh chống đàn áp, khủng bố, đòi cải thiện chế độ
nhà tù, đồng thời xây dựng cơ sở Đảng, bắt liên lạc với đất liền, tổ chức học tập, giáo dục quần chúng,
lãnh đạo mọi hoạt động trong nhà tù.
Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác được chính quyền cách mạng đón về. Bác vừa đặt chân
lên đất liền thì thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Bác về đầu đã bạc, sức đã yếu, trên
người còn mang bao nhiêu gian khổ của 17 năm tù đày hà khắc, nay lại lập tức lao vào cuộc kháng

rằng bất cứ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân, có mặt trong những giờ phút lòch sử ở
Hắc Hải cũng không thể có hành động nào khác tôi, bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có
nghóa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống Cách mạng Tháng Mười”.
Bác yêu Tổ quốc, Bác thương yêu đồng bào. Suốt đời Bác phấn đấu cho lý tưởng của giai cấp
công nhân, suốt đời tận tụy vì dân, quên mình vì nước. Phụ nữ cả nước ta vô cùng cảm động và biết ơn
Bác Tôn đã suốt đời chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ, Bác luôn luôn
quan tâm chăm sóc đến sự tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc của phụ nữ, đến tương lai của các cháu thiếu
niên, nhi đồng. Những lời chúc tết của Bác mỗi độ Xuân sang, những lời thăm hỏi, cổ vũ, động viên
của Bác tới từng gia đình thương binh, liệt só nhân ngày 27/7, những lẳng hoa Bác tặng cho những đơn
vò hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và những cờ luân lưu của Bác, những bức thư gửi các cháu thiếu niên,
nhi đồng nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, nhân dòp tết Trung thu hàng năm... đã in sâu trong tâm trí
mỗi người phụ nữ Việt Nam, mỗi cháu thiếu niên, nhi đồng Việt Nam. Trong những năm kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, Bác Tôn luôn dành tình cảm đặc biệt cho đồng bào
miền Nam ruột thòt : “Nhớ miền Nam ruột thòt, tôi muốn nêu cao thành tích vẻ vang của đồng bào,
những người đang ghi thêm những trang sử anh hùng của dân tộc ta. Tôi muốn ôm hôn các chiến só và
đồng bào. Tôi muốn gửi gắm nhiều nhiều nữa, hiến dâng cả trái tim cho miền Nam gian khổ và anh
dũng”.
Hình ảnh Bác Tôn luôn bên cạnh Hồ Chủ tòch kính mến ngày đêm chăm lo việc nước, việc dân là
nguồn động viên mạnh mẽ đồng bào và phụ nữ cả nước trước đây. Hôm nay và sau này, hình ảnh
thiêng liêng, cao quý ấy mãi khắc sâu trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam, mỗi phụ nữ Việt Nam,
mỗi cháu thiếu niên, nhi đồng Việt Nam.
Nhân dòp Bác Tôn Đức Thắng 90 tuổi, phụ nữ cả nước xin kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu và
xin nguyện học tập tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Bác, quyết tâm hoàn thành xuất sắc
mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
P.N.V.N.
Báo Phụ Nữ Việt Nam
Số 592.
TRONG ĐẸP VÔ CÙNG
Trong đẹp vô cùng !
Đó là lời của đồng chí Lê Duẩn nói về Bác Tôn, về đạo đức, cốt cách của vò Chủ tòch nước kính

thường nhường nhau ra đứng đây để thở cho đỡ ngạt”. Đó, trong gian khổ, tình thương yêu cộng sản chủ
nghóa là như thế.
Anh Ba kể rằng mỗi lần ra sân nhận phần cơm hẩm là bọn cai tù đứng hai bên cửa lại giáng roi,
gậy xuống lưng người tù. Anh em ta tổ chức ào ra cùng một lúc và để những đồng chí ốm yếu đi giữa
để các anh em khỏe đứng phía ngoài chòu đòn. Anh Ba và anh Tô thường được anh em bảo vệ như vậy.
Anh Ba rất hứng thú kể đến cọng rau cải. Có một lần anh Trần Quỳnh lẻn ra hái được một đọt rau,
đưa vào cho anh Ba. Nhường nhau mãi anh Ba nhấp một tý cái đọt rau. “Ngon ngọt vô cùng ! Con người
mình lâu không có chất tươi, chỉ nhấm một tý mà thấy khoan khoái kỳ lạ ! Thế là chia nhau”.
Đó, tình yêu thương đồng chí như vậy đó. Anh Ba kết luận hôm ấy : “Ở trong tù thương yêu nhau,
ngọt bùi chia sẻ nhau, gian khổ càng gắn bó trong tình thương. Sau này cũng thế. Mãi mãi như thế.
Không bao giờ có thể khác được ! Vậy mà ở nơi khác, không phải như thế đâu !”.
Nghe anh Ba nói đến đây chúng ta càng hiểu. Trong Đảng ta không thể có chuyện đồng chí với
nhau, vốn gắn bó là thế lại có thể đối xử xấu, tàn tệ với nhau, không thể có chuyện sớm nắng, chiều
mưa.
Trong đẹp vô cùng ! Đó là bản chất của giai cấp công nhân. Bác Tôn kính yêu là một tấm gương
đẹp. Cả Đảng ta là một tấm gương trong sáng.
Đó cũng là một nguồn sức mạnh vô đòch của chúng ta, với sức mạnh tinh thần cao đẹp ấy không
một kẻ thù nào dù độc ác đến đâu có thể chiến thắng nổi.
8-1978
THÀNH TÍN
Báo Quân Đội Nhân Dân
Số ra ngày 19-8-1978.
HỌC TẬP TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI
24
CỦA BÁC TÔN ĐỨC THẮNG
Tháng Tám năm nay, tuổi trẻ Việt Nam ta cùng với đồng bào cả nước sung sướng chúc mừng Chủ
tòch Tôn Đức Thắng kính yêu thọ 90 tuổi. Cuộc đời hơn 60 năm hoạt động đầy gian khổ và vinh quang
của Bác Tôn đã nêu cho thế hệ trẻ chúng ta một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước thiết tha, tinh
thần đấu tranh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì lý tưởng của chủ nghóa xã hội, chủ
nghóa cộng sản trên toàn thế giới. Là người đồng chí, bạn chiến đấu gần gũi của Bác Hồ, Bác Tôn là

Năm 1926, Bác Tôn là một trong những người đầu tiên ở Nam bộ gia nhập “Việt Nam Thanh niên
Cách mạng đồng chí Hội” do lãnh tu Nguyễn Ái Quốc tổ chức, và tích cực gây cơ sở cho tổ chức này ở
vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Do những hoạt động cách mạng sôi nổi, cuối năm 1929, Bác Tôn bò đế quốc
bắt giam và tra tấn dã man tại Khám Lớn Sài Gòn. Chúng kết án 20 năm tù khổ sai và đày Bác Tôn ra
Côn Đảo. Cái số tù 5289 đeo đẳng theo Bác suốt gần 17 năm sống ở đòa ngục trần gian này. Bác Tôn
đã phải chòu đủ mọi cực hình, đối xử vô cùng hà khắc của lũ chúa ngục; đốn củi trên rừng rậm, lấy san
hô ngoài biển khơi, hì hục xay lúa trong hầm đá tối tăm... Tại đây, Bác Tôn đã cùng với nhiều đồng chí
khác kiên trì đấu tranh, giữ vững khí tiết của người cộng sản trước kẻ thù, “biến nhà tù thành trường
học cách mạng”.
25

Trích đoạn CỬ HÀNH TRỌNG THỂ LỄ ĐẶT TÊN ĐƯỜNG MANG TÊN CỐ CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG TÌNH CẢM CÁCH MẠNG GẮN BÓ GIỮA BÁC HỒ VỚI BÁC TÔN BÁC TÔN VỀ THĂM NHÀ MÁY BA SON NHỮNG NGÀY TÔI LÀM THẦY THUỐC RIÊNG CHO BÁC TÔN CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG 20/8/1888 – 20/8/2002)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status