Thực trạng lệch lạc khớp cắn và một số yếu tố liên quan đến ở học sinh 8 10 tuổi tại một số trường tiểu học, thành phố việt trì, tỉnh phú thọ - Pdf 43

1

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

V THU HNG

THựC TRạNG LệCH LạC KHớP CắN Và MộT Số
YếU Tố
LIÊN QUAN ĐếN ở HọC SINH 8-10 TUổI TạI
MộT Số
TRƯờNG TIểU HọC THàNH PHố VIệT TRì,
TỉNH PHú THọ

Chuyờn ngnh: Rng hm mt
Mó s: 60720601

LUN VN THC S Y HC


2

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Võ Trương Như Ngọc

HÀ NỘI – 2015

ĐẶT VẤN ĐỀ

răng miệng vẫn chưa được quan tâm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.
Vì vâ yê chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng lệch lạc khớp
cắn và một số yếu tố liên quan đến ở học sinh 8-10 tuổi tại một số trường tiểu
học, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” với hai . Nhằm 2 mục tiêu sau:
1.

Mô tả thực trạng lệch lạc khớp cắn ở nhóm học sinh 8-10 tuổi tại một
số trường tiểu học, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, năm 2015.

2.

Phân tích mối liên quan giữa thói quen xấu và mất răng hàm sữa
sớm với tình trạng lệch lạc khớp cắn ở nhóm học sinh trên.


4


5

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Bộ răng hỗn hợp
Từ khoảng 6 tuổi, bộ răng sữa dần dần được thay thế bằng bộ răng
vĩnh viễn. Quá trình hình thành bộ răng vĩnh viễn có thể được chia làm 2 giai
đoạn, giai đoạn bộ răng hỗn hợp và giai đoạn bộ răng vĩnh viễn. Giai đoạn
trong miệng vừa có răng sữa, vừa có răng vĩnh viễn được gọi là giai đoạn
răng hỗn hợp. Giai đoạn này kéo dài từ lúc 5,5 tuổi đến 11-12 tuổi [3], [4].
1.1.1. Trình tự mọc răng vĩnh viễn
- Việc mọc các răng vĩnh viễn và khớp cắn bộ răng vĩnh viễn có thể chia

7

7-8

8-9

11-12

10-11

11-12

6-7

12-13

6-7

7-8

9-11

10-11

11-12

6-7

11-13


a

6

1

2

4

5

3

7

8

b

6

1

2

4

3


2

3

4

5

7

8

(a: Thường xảy ra; b: Đôi khi)

1.1.2. Giai đoạn thành lập bộ răng hỗn hợp: Từ 6-8 tuổi, được tính từ lúc
xuất hiện răng hàm lớn thứ nhất và các răng cửa vĩnh viễn thay thế.
Trong giai đoạn mọc răng cửa vĩnh viễn, so với các răng cửa sữa, răng
vĩnh viễn có kích thước lớn hơn nhiều, do vậy, để đủ chỗ cho răng vĩnh viễn
mọc, xương hàm bù trừ bằng cách:
Tăng trưởng cung răng:
Cung xương ổ răng chủ yếu tăng trưởng theo chiều ngang, sự tăng
trưởng ra trước không có ý nghĩa nhiều. Khoảng liên răng nanh tăng trong
quá trình thay thế các răng cửa, theo Moorrees trung bình khoảng 3mm, sự
tăng trưởng này ngừng ngay lập tức sau khi mọc hai2 răng cửa.
Các khe linh trưởng giữa các răng cửa có trong quá trình hình thành
cung răng sữa.
Sự kéo dài cung răng do các răng vĩnh viễn thường mọc nghiêng ra
phía môi, vì thế làm giảm góc liên răng cửa từ 150 0 ở hàm răng sữa xuống
còn 1230 ở hàm răng vĩnh viễn. Chiều dài tăng khoảng 2,2mm ở hàm trên và
1,3mm ở hàm dưới (theo Baume).

Hình 1.1: Giai đoạn vịt con xấu xí [4] ảnh này mờ, em có thể tìm cả xq để minh
hoạ
a) Thân răng nanh va vào chân răng cửa bên làm thân răng xòe xa
b) Răng nanh tiếp tục mọc lên và khe thưa đường giữa khép lại
1.1.4. Giai đoạn thành lập bộ răng thiếu niên (khoảng 10-12 tuổi)
Đây là giai đoạn phức tạp nhất vì trình tự mọc răng rất thay đổi và
hiện tượng bù khoảng thiếu xảy ra. Trong giai đoạn này, 12 răng trung gian
sẽ được thay thế bằng các răng nanh và tiền hàm vĩnh viễn. Giai đoạn này
khoảng leeway sẽ bị khép lại. Sự khép lại của khoảng Leeway phụ thuộc vào
tình trạng mọc răng [4].
1.2. Khớp cắn bình thường
1.2.1. Tương quan giữa các răng trong một hàm
- Chiều trước sau: Tất cả các răng đều tiếp xúc nhau ở cả mặt gần và
xa, trừ răng khôn chỉ có một điểm tiếp xúc phía gần.
- Độ nghiêng ngoài trong của răng
+ Hàm trên: Các răng sau hơi nghiêng về phía ngoài
+ Hàm dưới: Các răng sau hơi nghiêng về phía trong
- Đường cong Wilson: là đường cong lõm lên trên đi qua đỉnh múi
ngoài và trong các răng sau hàm dưới.
- Độ nghiêng gần xa của răng
+ Hàm trên: Các răng trước nghiêng gần và các răng sau nghiêng xa.
+ Hàm dưới: Các răng trước và sau đều nghiêng gần


9

+ Các răng hàm lớn thứ hai và thứ ba nghiêng về phía gần nhiều hơn
các răng hàm nhỏ.
- Đường cong Spee: là đường cong lõm lên trên, đi qua đỉnh múi răng
nanh và đỉnh múi ngoài các răng hàm nhỏ, hàm lớn hàm dưới [5], [6], [7].

ko có cái ảnh màu nào à
+ Không có răng xoay.
+ Không có khe hở giữa các răng.
+ Đường cong Spee phẳng hoặc cong ít: Không sâu quá 1,.5 mm
1.3. Cách phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle
Năm 1899. Edward H. Angle phân loại lệch lạc khớp cắn của răng
vĩnh viễn nhờ răng hàm lớn thứ nhất hàm trên. Theo ông, nó là chìa khóa
khớp cắn. Đây là răng vĩnh viễn được thành lập và mọc sớm nhất. Nó cũng
là răng vĩnh viễn to nhất của cung hàm trên, có vị trí tương đối cố định so
với nền sọ, khi mọc không bị cản trở bởi các chân răng sữa và còn được
hướng dẫn mọc đúng vị trí nhờ vào hệ răng sữa.


11

Khớp cắn bình thường

Sai khớp cắn loại I

Sai khớp cắn loại II

Sai khớp cắn loại III

Hình 1.42: Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle [7].
Angle phân loại lệch lạc khớp cắn thành ba3 loại như sau:
1.3.1. Lệch lạc Khớp cắn loại I
Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn
thứ nhất hàm dưới có tương quan cắn khớp bình thường, nghĩa là múi ngoài
gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiếp xúc với rãnh ngoài gần
răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, nhưng đường cắn khớp không


Hình 1.97: Lệch lạc khớp cắn loại III [7]
1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sai khớp cắn
1.4.1. Mất răng sữa sớm
1.4.1.1. Khái niệm mất răng sữa sớm
Một số khái niệm về mất răng sữa sớm:
- Theo Miller (1965): sự chênh lệch giữa thời gian rụng và thay thế răng
sữa bằng một răng vĩnh viễn chênh nhau ít hơn 0,4 năm. Do đó có thể thấy
tất cả những trường hợp răng sữa mất trước khi răng vĩnh viễn mọc hơn 0,4
năm (khoảng 5 tháng) thì có thể coi là mất răng sữa sớm [9].
- Kerr WJ (1980), trong nghiên cứu của mình ông sử dụng khái niệm:
Răng sữa được coi là mất sớm khi mất răng mà sau 6 tháng không thấy răng
vĩnh viễn mọc [10].
Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng, MRHSS gây ảnh hưởng nhiều mặt
lên cung răng của trẻ, trong đó quan trọng nhất là sự mất khoảng dành cho
răng vĩnh viễn thay thế. Số lượng răng mất ở HD nhiều hơn HT, xong sự mất
khoảng trầm trọng hơn ở HT, và răng hàm sữa thứ hai mất gây ra sự mất
khoảng nhiều hơn răng hàm sữa thứ nhất [11], [12].
1.4.1.2. Hậu quả của mất răng sữa sớm
Sự di lệch của các răng kế cận:
Khi mất sớm răng hàm sữa thứ hai:
- Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất sẽ di chuyển vào khoảng trống đó, nó


14

có thể di chuyển nghiêng răng hoặc di chuyển tịnh tiến. Đặc biệt nếu RHL thứ
hai ở giai đoạn phát triển sớm hơn RHN thứ hai, nó sẽ tác động một lực đáng
kể làm RHL vĩnh viễn thứ nhất di chuyển nhiều hơn [14], [15].
- Ở hàm trên, RHL vĩnh viễn thứ nhất di chuyển về phía gần kết hợp với

đó bị trồi ra. Điều này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hàm răng đối diện sau này.
Nếu mất sớm răng hàm sữa ở cả hai bên cung hàm, nhất là răng hàm sữa thứ hai
sẽ gây nên mất tầm cắn được duy trì bởi các răng hàm, trong khi răng số 6 chưa mọc
được hoàn toàn, gây nên tầm cắn thấp và khớp cắn sâu vùng cửa [17], [20], [21].
Ảnh hưởng tới thời gian mọc của các răng vĩnh viễn thay thế:
- Như đã đề cập, RHS mất sớm trước 7 tuổi sẽ làm chậm thời gian mọc
răng vĩnh viễn thay thế, trong khi mất răng sau 7 tuổi sẽ làm răng vĩnh viễn
mọc sớm hơn lên [14], [22], [23]. Thậm chí có những RHN vĩnh viễn đã mọc
chỉ với sự thành lập chân răng tối thiểu, men răng chưa được ngấm canxi đầy
đủ, do đó nguy cơ sâu răng rất cao.
- Nếu các răng cửa sữa hàm trên bị mất quá sớm, sẽ làm chậm thời gian
mọc của các răng vĩnh viễn thay thế chúng, trong khi đó các răng cửa vĩnh viễn
thường mọc trước, Như vậy, việc các răng cửa dưới vĩnh viễn mọc trước các
răng cửa trên vĩnh viễn 1 thời gian dài sẽ gây nên khớp cắn ngược vùng cửa.
Ảnh hưởng tới sức nhai và sức khỏe:
Mất các RHS sớm sẽ làm chức năng nhai kém đi, nhất là ở những trẻ
mất nhiều răng hàm sữa, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, dễ bị còi xương,
suy dinh dưỡng và dễ mắc bệnh khác.


16

1.4.2. Một số thói quen xấu ở miệng
1.4.2.1. Định nghĩa
Thói quen là một phản ứng tự động với một tình huống nhất định do
sự lặp lại và học tập. Nếu như hành động được nhắc lại thường xuyên thì có
thể trở thành một thói quen vô thức.
Khi thói quen liên quan tới miệng trở nên nguy hại, tức là thói quen
gây ảnh hưởng có hại tới các cấu trúc vùng miệng, mặt được gọi là thói quen
xấu ở miệng [24], [25].

sau răng cửa trên khi nuốt, càng làm tăng độ cắn chìa và các răng cửa trên
càng bị nghiêng nhiều về phía trước.
∙+ Tăng độ dài cung răng trên.
∙+ Góc SNA tăng.
∙+ Độ dài thân răng lâm sàng của các răng cửa trên tăng.
∙+ Mặt phẳng cắn xoay ngược chiều kim đồng hồ.
∙+ Cung răng trên hẹp phía trước: lưỡi đặt ở vị trí thấp và tăng hoạt
động cơ mút trong khi mút ngón tay tạo ra sự mất cân bằng áp lực giữa lưỡi
và má. Điều này khiến cho hàm trên có dạng hình chữ V.
∙+ Tăng nguy cơ sang chấn các răng cửa trên do độ chìa quá lớn của
chúng.
∙+ Tiêu chân răng cục bộ ở các răng cửa giữa sữa.
Ở xương hàm dưới:
+ Răng cửa dưới nghiêng về phía lưỡi do khi mút ngón tay, lực sẽ tác
động lên mặt trong răng cửa trên và mặt ngoài răng cửa dưới. Có thể có khe
thưa hoặc không.
+ Lùi xương ở răng hàm dưới, góc SNB giảm.
Tương quan giữa hai hàm
+ Tăng độ cắn chìa và cắn hở. Cắn hở vùng cửa do ngón tay thường
đặt ở vị trí này, cản trở quá trình mọc răng cửa trong khi các răng hàm vẫn
mọc bình thường hoặc thậm chí là làm lún các răng cửa. Cắn hở có thể ở
phía trước hoặc phía sau phụ thuộc vào vị trí mút ngón tay.
+ Cắn chéo phía sau khi cung hàm trên bị hẹp. Lực tác động lên hàm


18

trên do các cơ má gây ra không cân bằng với lực đẩy của lưỡi do lưỡi đặt ở
vị trí thấp, hàm dưới vẫn tăng trưởng không bị giới hạn, thậm chí gây ra cắn
chéo phía sau hai bên.

tuy nhiên thói quen mút môi và cắn môi có thể gây ra tình trạng lệch lạc
khớp cắn. Bởi vì giải phẫu bình thường của môi giúp cho chúng ta có thể
nói, ăn uống và duy trì các răng trước ở đúng vị trí của nó. Cản trở cắn có thể
dẫn đến cường trương lực cơ cắn và bắt đầu cho chuyển động bất thường của
xương hàm dưới [31], [32].
- + Do thói quen: cắn, mút môi xuất hiện sau khi ngưng mút tay cái
hoặc mút ngón tay.
- + Stress tâm lý: lo âu, căng thẳng, sợ hãi.
- Phân loại:
Các thói quen xấu ở môi được phân thành ba loại chính, bao gồm [31], [32]:
- + Thường xuyên liếm môi.
-+ Cắn môi: môi ở giữa các răng trước hàm trên và hàm dưới.
-+ Mím môi/mút môi.
Thói quen của cằm là một biến thể của thói quen môi. Sự khác nhau,
giữa mút/mím môi và thói quen của cằm là ở mút môi, toàn bộ môi bao gồm
ranh giới làn môi đỏ bị đẩy vào trong miệng, trong khi đó, ở thói quen của
cằm, đường ranh giới làn môi đỏ của môi dưới thường bị lộn từ trong ra
ngoài và đường co cứng môi phụ phát triển giữa môi và cằm [32].
+ Thường gặp ở bộ răng hỗn hợp và răng vĩnh viễn.


20


21

+ Trên môi:
.+ Mím môi, mút môi trong hầu hết trường hợp thường gây tổn thương
môi, thường thấy là môi và tổ chức xung quanh bị viêm đỏ, nứt kẽ, đặc biệt là
vào mùa lạnh. Thói quen này rất khó thay đổi, khi lặp lại nhiều lần có thể gây ra

trẻ có thói quen đẩy lưỡi, những lực liên tục này tác động lên răng ngay cả ở
tư thế nghỉ làm răng không sắp xếp thẳng hàng, gây lệch lạc khớp cắn và
phát âm. Mức độ ảnh hưởng của đẩy lưỡi phụ thuộc vào thời gian và tần suất
của thói quen. Nếu đẩy lưỡi chỉ xảy ra trong lúc nuốt, thì lưỡi tác động lên
răng chưa đến 20 phút/ngày, khoảng thời gian này không thể làm di chuyển
răng, lưỡi phải đẩy ra trước với khoảng 6 giờ/ngày mới có khả năng gây lệch
lạc khớp cắn [33], [34].
Thói quen đẩy lưỡi hình thành do nhiều nguyên nhân [33], [34], [35],
[36]:
- Yếu tố di truyền
Tăng sự hoạt động của cơ vòng môi do kế thừa hình dạng giải phẫu và
hoạt động thần kinh cơ gây ra đẩy lưỡi.
Duy trì các kiểu hoạt động của miệng.
- Duy trì kiểu nuốt sơ sinh.
-

Một số tập tính thích nghi liên quan tới thói quen đẩy lưỡi
+ Nuôi dưỡng trẻ bằng cách bú bình nhưng không đúng.
+ Trẻ giữ gìn răng và lợi quá mức nên không dám cắn mạnh, nếu kéo

dài sẽ làm trẻ học cách giữ răng cách xa nhau trong khi nuốt.
+ Trẻ bị viêm nhiễm đường hô hấp trên hoặc viêm amidan kéo dài gây
ra kiểu thích nghi của lưỡi và vẫn duy trì kể cả sau khi triệu chứng viêm
nhiễm suy giảm.
+ Lưỡi được giữ ở những khoảng hở trong thời kỳ thay răng hay
răng bị nhổ.


23


24

- Khám trong miệng
+ Răng trước hàm trên ngả môi.
+ Khe hở giữa các răng.
+ Thu hẹp răng hàm gần vùng răng hàm dẫn đến vị trí lưỡi thấp.
+ Răng trước hàm dưới ngả lưỡi hoặc ngả môi phụ thuộc vào loại đẩy lưỡi.
+ Tăng độ cắn chìa.
+ Cắn hở răng trước.
+ Cắn hở răng hàm (gặp trong các trường hợp đẩy lưỡi phía bên) có
thể xảy ra ở một bên hoặc hai bên.
+ Phát âm bị cản trở đặc biệt là những âm cần đặt lưỡi vào giữa hoặc
tỳ vào răng hàm trên hay hàm dưới như: /s/, /z/, /t/, /d/, /n/, /l/, /sh/, /v/, /th/
[33], [39], [40]…
+ Quan sát thấy đầu lưỡi của bệnh nhân đẩy lưỡi trong lúc nghỉ ở mức
thấp hơn. Đầu lưỡi chạm vào cingulum hoặc mặt trong của các răng cửa
dưới, thay vì phải ở sau răng cửa trên lúc nghỉ [33], [40], [41].
+ Khi lưỡi chuyển động ra trước, hàm dưới phải chuyển động lên
trên và ra sau.
+ Có thể gặp rối loạn khớp thái dương hàm với những triệu chứng:
đau khớp, tiếng kêu bất thường của khớp…
1.4.3. Thói quen thở miệng
- Thở miệng là một thói quen thở qua miệng thay vì qua mũi. Người
thở bằng mũi có thể thay đổi nhanh chóng thành thở miệng trong khi hoạt
động gắng sức. Người thở miệng là người thở bằng miệng ngay cả khi thư
giãn và khi căng thẳng [42], [43].
+ Thở miệng hay gặp ở trẻ nhỏ do tắc nghẽn đường hô hấp trên như sự
quá phát sinh lý của amydan trong thời kỳ thơ ấu, viêm VA, viêm mũi… Thông
thường, thở miệng cũng biến mất khi trẻ lớn lên cùng với sự thu nhỏ kích thước





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status