1
2
3
4
5
6
7
Lời giới thiệu
Phần 1: Các Mác và PH.Ăngghen
Tác phẩm: Những nguyên lý của chủ nghĩa
Cộng sản của Ph.ăngghen
Tác phẩm: T bản của C.Mác
Tác phẩm: Phê phán Cơng lĩnh Gô ta của
C.Mác
Tác phẩm: Chống Đuyrinh của Ph.Ăngghen
Phần II: V.I.Lê nin
Tác phẩm: Bàn về cái gọi là vấn đề thị trờng
của V.I.Lênin
Tác phẩm: Sự phát triển của chủ nghĩa t bản ở
Nga
của V.I.Lênin
Tác phẩm: Hải cảng Lữ Thuận thất thủ của
V.I.Lênin
8 Tác phẩm: Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột
cùng của chủ nghĩa t bản của V.I.Lênin
9 Tác phẩm: Những nhiệm vụ trớc mắt của
chính quyền Xô Viết của V.I.Lênin
10 Tác phẩm: Sáng kiến vĩ đại của V.I.Lênin
11 Tác phẩm: Kinh tế v chính trị trong thời đại
16 Tác phẩm: Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh
234
245
2
PHẦN I
CÁC MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN
TÁC PHẨM
“NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”
CỦA PH. ĂNGGHEN
1. HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM
1.1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Tác phẩm ra đời trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản tự do cạnh
tranh đã phát triển tới đỉnh cao của nó. Cuộc cách mạng kỹ thuật lần
thứ nhất với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang
lao động bằng máy móc đã diễn ra rộng khắp ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Quá trình này đã đẩy tới hình thành nền công nghiệp tư bản chủ
nghĩa, năng suất lao động tăng cao, thúc đẩy kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa phát triển.
Trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện và giữ được địa vị thống
trị trong kinh tế. Tuy nhiên, do dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nên đã sớm bộc lộ mâu thuẫn kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng mang tính xã hội
hoá cao. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn về chính
trị - xã hội trong xã hội tư bản mà biểu hiện tập trung của nó là mâu
thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
năm 1847, Ban chấp hành Trung ương Liên đoàn những người Cộng
sản ở Luân Đôn đã phân phát bản dự thảo “Cẩm nang về chủ nghĩa
Cộng sản” cho các khu bộ và chi bộ thuộc Liên đoàn. Văn kiện này
và cả bản dự thảo đã được chỉnh lý do M.Hétxơ, một người của phái
“Chủ nghĩa xã hội chân chính” soạn thảo tại Pari còn mang ảnh
hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng nên không làm cho C.Mác
và Ph.Ăngghen hài lòng. Ngày 22 tháng 10, tại phiên họp của Ban
chấp hành khu bộ Liên đoàn những người Cộng sản tại Pari,
Ph.Ăngghen đã phê phán kịch liệt bản dự thảo của M.Hétxơ và đã
4
bác bỏ bản dự thảo này. Ph.Ăngghen được giao soạn một dự thảo
mới. Bản dự thảo ấy chính là “Những nguyên lý của chủ nghĩa
Cộng sản” được viết sau đó không lâu.
Như vậy, tác phẩm ra đời từ tháng 5 năm 1846 đến tháng 3
năm 1848, đây là thời kỳ hình thành chủ nghĩa Mác. Tác phẩm là cơ
sở tiền đề cho bản tuyên ngôn của phong trào cộng sản - “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản”.
1.2. Kết cấu và nội dung tư tưởng của tác phẩm
Tác phẩm được in trong C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, Tập
4, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, năm 1995, từ
trang 456 đến trang 480. Tác phẩm được soạn thảo dưới hình thức
cẩm nang, gồm 25 câu hỏi và câu trả lời.
Sở dĩ tác phẩm được Ph.Ăngghen trình bày dưới dạng câu hỏi
và câu trả lời theo từng vấn đề là để hướng dẫn giai cấp vô sản nhận
thức đúng những quan điểm tư tưởng về con đường giải phóng giai
cấp, xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, nội
dung tác phẩm được trình bày một cách toàn diện trên tất cả các mặt
thân công việc làm ăn đó lại phụ thuộc vào cuộc cạnh tranh không
gì ngăn cản nổi giữa những nhà tư bản. Đây là giai cấp lao động
trong thế kỷ XIX, họ là những người mất hết tư liệu sản xuất, cái sở
hữu duy nhất là sức lao động. Tuy nhiên, Ăngghen cũng cho rằng
giai cấp vô sản không đồng nhất với giai cấp nghèo đói, vì những
người này có thể còn có chút tư liệu sản xuất, còn công nhân sống
trong điều kiện như trên, tức là những người vô sản thì không phải
lúc nào cũng có. Sự phân biệt này được Ăngghen trình bày ở câu
hỏi và câu trả lời thứ 3.
Về sự ra đời của giai cấp vô sản, sự xác lập địa vị thống trị của
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Ph.Ăngghen cho rằng giai cấp vô
sản là sản phẩm của cuộc cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng
này xảy ra đầu tiên ở nước Anh vào nửa sau của thế kỷ XVIII, sau
đó thì diễn ra ở tất cả các nước văn minh trên thế giới. Sở dĩ có cuộc
cách mạng đó là vì có sự phát minh ra máy móc mà trước hết là máy
hơi nước, máy kéo sợi…Chính sự ra đời của máy móc đã làm thay
đổi toàn bộ phương thức sản xuất tồn tại từ trước tới nay và loại
những người công nhân cũ. Máy móc thì rất đắt nên chỉ có những
nhà tư bản lớn mới dùng được. Hàng hoá do máy móc sản xuất ra
6
thì rẻ và tốt hơn so với hàng hoá do công nhân sản xuất ra bằng
phương pháp thủ công. Chính bằng cách đó máy móc đã trao toàn
bộ công nghiệp vào tay các nhà tư bản lớn và hoàn toàn làm giảm
giá trị số tài sản nhỏ bé không đáng kể thuộc về công nhân. Vì vậy
chỉ trong một thời gian ngắn nhà tư bản đã nắm hết thảy mọi cái vào
tay mình, còn công nhân thì không còn gì nữa. Máy móc và chế độ
công xưởng ra đời làm cho phân công lao động xã hội và sự chuyên
có giá trị số lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết để người công nhân có
thể duy trì năng lực lao động của mình và để cho giai cấp công nhân
khỏi bị diệt vong. Vì là những người không có của nên người công
nhân phải trao đổi sức lao động của mình nhưng cũng không thể
nhận nhiều hơn số cần thiết cho mục đích trên. Ph.Ăngghen cho
rằng tiền lương chính là giá cả của sức lao động trong nền đại công
nghiệp và cạnh tranh tự do sẽ hết sức thấp, nó là mức tối thiểu để
duy trì đời sống của người công nhân. Tuy nhiên tình hình có lúc
tốt, có lúc xấu nên người công nhân cũng có lúc lĩnh được nhiều
hoặc ít tiền lương nhưng tính trung bình thì số tiền lương mà họ
nhận được cũng không nhiều hơn và không ít hơn mức tối thiểu nói
trên. Quy luật kinh tế đó của tiền lương ngày càng được thực hiện
một cách chặt chẽ khi đại công nghiệp càng chiếm địa vị thống trị
trong tất cả các ngành lao động.
Từ câu hỏi và câu trả lời thứ 6 đến câu hỏi và câu trả lời thứ
10, Ăngghen phân biệt giai cấp vô sản với các giai cấp khác trong
các xã hội trước chủ nghĩa tư bản và với người công nhân công
trường thủ công. Ông phân tích rằng trước khi có cách mạng công
nghiệp, trong thời cổ đại có những người lao động là nô lệ của
người chủ; thời trung cổ có người lao động là nông nô của chúa đất
quý tộc; từ thời trung cổ đến cách mạng công nghiệp trong các
thành thị còn có những người thợ thủ công làm việc cho người thợ
cả tiểu thị dân và cùng với sự phát triển của công trường thủ công
xuất hiện những công nhân công trường thủ công do các nhà tư bản
lớn hơn thuê mướn. Sự ra đời của các giai cấp lao động và địa vị
của họ gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội trong các giai đoạn
lịch sử khác nhau so với các giai cấp có của chiếm địa vị thống trị.
Người vô sản khác người nô lệ ở chỗ: Người nô lệ bị bán đi chỉ một
lần thôi, là tài sản của người chủ nhất định, dù cùng cực thì sinh
xuất như khung cửi, xa kéo sợi, mảnh đất nhỏ, hầu như họ luôn sinh
sống ở nông thôn, ít nhiều quan hệ có tính chất gia trưởng với địa
chủ, người giao việc. Ngược lại với người công nhân trong công
trường thủ công, người vô sản không có gì hết, phần nhiều họ sống
9
ở những đô thị lớn liên hệ với người giao việc bởi những quan hệ
thuần tuý tiền tệ. Đại công nghiệp đã kéo người công nhân công
trường thủ công ra khỏi điều kiện gia trưởng của họ, họ mất hết tài
sản cuối cùng của họ và chỉ khi đó họ mới trở thành người vô sản.
2.3. Ph.Ăngghen phân tích vai trò của đại công nghiệp với
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng và với sự phát triển
của nhân loại nói chung
Trước hết, Ph.Ăngghen cho rằng đại công nghiệp hay lao động
bằng máy móc đã cho phép nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm. Sự thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc đã
làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu, rộng mang tính xã
hội hoá cao, chuyên môn hoá sâu. Cách mạng công nghiệp cho ra đời
những sản phẩm công nghiệp với giá ngày càng hạ nên tác động làm
rung chuyển và phá hoại hoàn toàn hệ thống công trường thủ công hay
hệ thống công nghiệp cũ xây dựng trên cơ sở lao động thủ công ở tất
cả các nước trên thế giới. Cách mạng công nghiệp làm cho những
nước lạc hậu, những nước mà công nghiệp vẫn dựa trên công trường
thủ công, nửa dã man phải từ bỏ tình trạng biệt lập, khép kín của mình
và bắt đầu mua của người Anh những sản phẩm hàng hoá rẻ hơn, làm
cho công trường thủ công bị phá sản. Hơn thế nữa, cuộc cách mạng
công nghiệp đã làm cho những nước mà hàng chục thế kỷ như Ấn Độ
và ngay cả Trung Quốc cũng đang đi đến cách mạng. Như vậy, đại
minh đều có ảnh hưởng đến tất cả các nước khác”1.
Tiếp đó, vấn đề thứ hai trong phần trả lời câu hỏi thứ 11,
Ph.Ăngghen chứng minh đại công nghiệp phát triển không chỉ củng
cố địa vị kinh tế của giai cấp tư sản mà còn củng cố địa vị chính trị
của nó làm cho nó trở thành giai cấp thống trị trong xã hội tư bản.
Bởi đại công nghiệp thay thế công trường thủ công đã làm tăng
thêm rất nhiều của cải và thế lực của giai cấp tư sản, làm cho nó trở
thành giai cấp thứ nhất trong nước. Nhờ sản xuất bằng máy, năng
suất lao động tăng, giá trị của hàng hoá giảm trong khi đó sản xuất
trong các công trường thủ công bằng các công cụ thủ công, năng
suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao không cạnh tranh nổi,
tầng lớp trung lưu phải phá sản. Cuối cùng ở tất cả các nơi xảy ra
quá trình đó, giai cấp tư sản đều nắm được chính quyền trong tay,
1
. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, 462,463.
11
gạt bỏ những tầng lớp trước đó vẫn giữ quyền thống trị, thủ tiêu mọi
quyền lực của tầng lớp quý tộc, phá tan mọi thế lực của thị dân
phường hội, mọi đặc quyền của thợ thủ công. Để thay thế tất cả
những cái đó, giai cấp tư sản đề ra tự do cạnh tranh, cái bảo đảm
cho quyền kinh doanh của giai cấp tư bản vào bất cứ ngành công
nghiệp nào khi họ muốn và sự bình đẳng trong xã hội chỉ còn là sự
bình đẳng của số tư bản ngang nhau. Vì vậy có thể khẳng định đại
công nghiệp phát triển thúc đẩy tự do cạnh tranh. Đại công nghiệp
và tự do cạnh tranh là nguyên nhân và kết quả của nhau, là điều kiện
tiền đề cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, Ph. Ăngghen đã
nghiệp phát triển có lợi hơn. Nhờ tập trung đông đảo quần chúng vào
một chỗ như vậy đã làm cho vô sản nhận thức được sức mạnh của
mình. Những máy móc mới thay thế lao động thủ công tiếp tục được
phát minh, nó càng gây áp lực với tiền lương. Tiền lương càng giảm
xuống đến mức tối thiểu, khiến cho tình cảnh của giai cấp vô sản ngày
càng trở lên không sao chịu đựng nổi. Phân tích lô gíc đó của sự phát
triển đại công nghiệp, Ph.Ăngghen đi đến kết luận như một tất yếu và
niềm tin tưởng sâu sắc rằng: “Tóm lại, một mặt do sự bất mãn của giai
cấp vô sản ngày càng tăng, mặt khác do sức mạnh của giai cấp vô sản
ngày càng lớn cho nên cách mạng công nghiệp chuẩn bị điều kiện cho
cuộc cách mạng xã hội mà giai cấp vô sản sẽ tiến hành”2.
Trong câu hỏi thứ 12, Ph.Ăngghen đặt vấn đề: cách mạng
công nghiệp còn mang lại những hậu quả gì thêm nữa. Trả lời vấn
đề này, Ph.Ăngghen cho rằng: Đại công nghiệp phát triển mở rộng
sản xuất với chi phí không nhiều, trong môi trường tự do cạnh tranh
dẫn đến sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu dùng gây ra khủng hoảng
thương nghiệp dẫn đến hậu quả kinh tế, xã hội xấu. Cuộc khủng
hoảng này mang tính chu kỳ, nó trở thành căn bệnh kinh niên của
chủ nghĩa tư bản, nó thức tỉnh tinh thần cách mạng của giai cấp
công nhân, đe doạ sự đổ vỡ của xã hội tư bản.
Trong câu hỏi thứ 13, Ăngghen rút ra kết luận từ những cuộc
khủng hoảng thương nghiệp tái diễn đều đặn ở trên, đó là tính chất
ngày càng trầm trọng của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư
bản do sự phát triển của đại công nghiệp gây ra. Để khắc phục tình
trạng đó, đòi hỏi phải xây dựng một chế độ xã hội mới trong đó việc
sản xuất không phải tiến hành riêng lẻ mà do toàn thể xã hội thực
1
2
. Sdd, tr 465.
đó đều chỉ do cái chế độ xã hội không còn phù hợp với điều kiện
thời đại nữa gây ra; 2, người ta đã có phương tiện để thủ tiêu triệt để
những tai hoạ đó bằng cách xây dựng nên một chế độ xã hội mới”1.
2.4. Ph.Ăngghen dự báo về sự ra đời và đặc trưng của xã
1
. Sdd, tr 466.
14
hội cộng sản chủ nghĩa.
Trong câu hỏi thứ 14, Ăngghen hỏi: Chế độ xã hội mới đó
phải như thế nào? Đọc phần trả lời của ông, thấy xã hội mới toát
nên các đặc trưng: Việc sản xuất do toàn thể xã hội quản lý, tiến
hành vì lợi ích chung, theo một kế hoạch chung, với sự tham gia của
mọi thành viên trong xã hội; triệt tiêu cạnh tranh, thay cạnh tranh
bằng hợp tác. Lý giải vấn đề này Ông cho rằng việc quản lý công
nghiệp và các ngành sản xuất nói chung không thể nằm trong tay
từng cá nhân riêng lẻ cạnh tranh với nhau. Vì từng cá nhân riêng lẻ
kinh doanh công nghiệp sẽ đem lại hậu quả tất yếu của chế độ tư
hữu và vì cạnh tranh không phải là cái gì khác mà là một phương
thức kinh doanh công nghiệp khi công nghiệp do những người tư
hữu riêng lẻ quản lý, cho nên chế độ tư hữu không thể tách rời cá
nhân kinh doanh công nghiệp và tách rời cạnh tranh được. Do đó,
trong xã hội mới: “Chế độ tư hữu cũng phải được thủ tiêu và phải
được thay thế bằng việc sử dụng chung tất cả mọi công cụ sản xuất
và việc phân phối sản phẩm theo sự thoả thuận chung, tức là bằng
cáí mà mọi người gọi là sự cộng đồng về tài sản” 1. Thủ tiêu chế độ
tư hữu là cách nói vắn tắt và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ
- Xoá bỏ giai cấp và mọi sự đối lập về giai cấp.
- Phát triển một cách tương xứng năng lực của con người với
phương tiện hiện đại. Việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượng
của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất sẽ cần đến
những con người hoàn toàn mới và xã hội sẽ tạo nên những con người
đó. Vì vậy nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể
và có kế hoạch càng cần có những con người có năng lực phát triển
toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất.
- Con người, mọi thành viên trong xã hội được phát triển toàn
diện năng lực, mọi người bình đẳng hưởng thụ của cải do xã hội làm
ra. Sự liên hợp tất cả mọi thành viên trong xã hội nhằm mục đích
cùng nhau khai thác lực lượng sản xuất một cách có kế hoạch. Công
tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững
nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn; làm cho họ
có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất
khác tuỳ theo nhu cầu của xã hội và tuỳ theo sở thích của bản thân.
- Xoá bỏ sự đối lập giữa thành thị và nông thôn; cuối cùng là
sự hoà hợp giữa thành thị và nông thôn. “Cũng những con người ấy
sẽ làm cả lao động nông nghiệp lẫn lao động công nghiệp chứ
16
không phải giao hai công việc cho hai giai cấp khác nhau”.
Về vấn đề chế độ cộng sản sẽ ảnh hưởng như thế nào đến gia
đình. Trả lời câu hỏi thứ 21, Ph.Ăngghen nói rất rõ: “Quan hệ nam
nữ sẽ trở thành một công việc hoàn toàn tư nhân, chỉ thuộc về
những người hữu quan và xã hội không cần phải can thiệp vào…Tổ
chức cộng sản chủ nghĩa không những không đưa lại sự cộng thê
mà trái lại còn tiêu diệt sự cộng thê”1.
trường thủ công và đối với giai đoạn phát triển ban đầu của đại công
nghiệp, không thể có hình thức sở hữu nào khác ngoài quyền tư
hữu, không thể có chế độ xã hội nào khác ngoài chế độ xã hội xây
dựng trên cơ sở tư hữu. Chừng nào chưa thể sản xuất với quy mô có
thể không những đủ cung cấp cho mọi người mà còn có thừa sản
phẩm để tăng thêm tư bản xã hội và phát triển lực lượng sản xuất
hơn nữa, thì chừng đó, luôn luôn còn phải có một giai cấp thống trị
chi phối lực lượng sản xuất xã hội, và một giai cấp nghèo đói bị áp
bức. Đó là những giai cấp nào, điều này tuỳ ở trình độ phát triển của
sản xuất”1. Để làm rõ hơn kết luận của mình, Ph.Ăngghen chứng
minh từ thời kỳ trung cổ cho đến thời kỳ công trường thủ công trong
thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất vẫn chưa phát triển đến mức khiến
cho có thể sản xuất đủ sản phẩm cho mọi người, và khiến cho chế
độ tư hữu trở thành xiềng xích ngăn cản sự phát triển của lực lượng
sản xuất đó. Tuy nhiên cho đến nay, sự phát triển của lực lượng sản
xuất do đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo ra đã vượt quá chế độ
tư hữu, do đó mà việc thủ tiêu chế độ tư hữu là có thể thực hiện
được và hoàn toàn cần thiết. Về vấn đề này Ông nói: “Nhưng hiện
nay, nhờ sự phát triển của đại công nghiệp nên thứ nhất, tư bản và
lực lượng sản xuất đã được tạo ra với quy mô chưa từng có, và
người ta đã có phương tiện để, trong một thời gian ngắn phát triển
lực lượng sản xuất đó một cách vô hạn. Thứ hai, các lực lượng sản
xuất đó tập trung trong tay một số ít nhà tư sản, còn đông đảo quần
chúng nhân dân thì ngày càng trở thành vô sản; hơn nữa của cải của
tư sản ngày càng tăng thì tình cảnh của quần chúng nhân dân càng
trở nên nghèo đói và không sao chịu nổi. Thứ ba, những lực lượng
sản xuất mạnh mẽ dễ tăng thêm đó đã vượt quá chế độ tư hữu và
nhà tư sản đến mức là nó luôn luôn gây ra những sự chấn động hết
sức mạnh mẽ trong chế độ xã hội. Cho nên, chỉ có ngày nay, việc
thủ tiêu chế độ tư hữu mới trở thành không những là điều có thể
không thể làm cách mạng theo ý muốn chủ quan, tuỳ tiện mà phải
xuất phát từ yêu cầu, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng. Bởi vì, trên
thực tế sự phát triển của giai cấp vô sản ở hầu khắp tất cả các nước
văn minh đều bị đàn áp bằng bạo lực, như vậy tức là kẻ thù của
những người cộng sản, giai cấp tư sản đã gắng hết sức làm việc cho
cách mạng. Cuối cùng tất cả những điều đó thúc đẩy giai cấp vô sản
làm cách mạng thì họ sẽ bảo vệ sự nghiệp của giai cấp bằng hành
động. Hành động của giai cấp vô sản trong cách mạng, chúng ta cần
hiểu đó không phải là biện pháp hoà bình nữa mà là biện pháp đối
lập với hoà bình, bạo lực cách mạng.
1
. Sdd, tr 469.
19
Trả lời câu hỏi thứ 18, Ăngghen đã chỉ ra những bước đi và
biện pháp cụ thể. Trước hết, giai cấp vô sản phải xác lập được
quyền thống trị về chính trị của mình và dùng quyền đó để thi hành
những biện pháp rộng rãi, trực tiếp hay gián tiếp đánh vào chế độ tư
hữu. Nhưng những biệp pháp này, Ph.Ăngghen cho đó là những
biện pháp chủ yếu nhất và xuất phát từ những điều kiện cụ thể thời
Ph.Ăngghen. Theo đó, từ đây có thể suy luận là khi những điều kiện
kinh tế, chính trị - xã hội đã có sự thay đổi thì những biện pháp mà
giai cấp vô sản áp dụng để xoá bỏ chế độ tư hữu có thể phải thay
đổi. Sự thay đổi ấy như thế nào, cụ thể ra sao còn phụ thuộc vào
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia và vấn đề cơ bản là
giai cấp vô sản ở đó có nhận thức đúng đắn và đầy đủ các quy luật
kinh tế khách quan để vận dụng cụ thể vào một hoàn cảnh cụ thể
dựng kém…; 11, Con trong và ngoài giá thú có quyền thừa kế tài
sản như nhau; 12, Tập trung toàn bộ công việc vận tải vào trong tay
nhà nước. Theo Ông những biện pháp trên cũng không thể tiến hành
tất cả ngay trong một đợt, dù là trực tiếp nhưng vẫn phải tiến hành
dần dần từng bước, đồng thời đi liền với nó là xây dựng chế độ công
hữu và khi nào toàn bộ tư bản, toàn bộ sản xuất, toàn bộ việc trao
đổi đã tập trung vào trong tay nhà nước thì chế độ tư hữu sẽ tự tiêu
vong, tiền tệ sẽ trở thành thừa…và con người sẽ thay đổi đến mức
tất cả những hình thức cuối cùng của quan hệ xã hội cũ có thể biến
mất đi.
2.6. Ph.Ăngghen dự báo về cuộc cách mạng vô sản
Cuộc cách mạng vô sản không chỉ có tính chất dân tộc mà còn có
tính chất quốc tế, trước hết nó sẽ đồng thời nổ ra ở các nước văn minh và
cuộc cách mạng đó phát triển nhanh hay chậm là tuỳ thuộc ở chỗ nước
nào có công nghiệp phát triển hơn, tích luỹ được nhiều của cải hơn và có
nhiều lực lượng sản xuất hơn. Ông lấy hai nước công nghiệp là nước
Đức và nước Anh có trình độ phát triển công nghiệp khác nhau để so
sánh, nước Đức cách mạng vô sản thực hiện chậm hơn và khó khăn hơn,
còn nước Anh thì nhanh hơn và dễ dàng hơn. Về tầm ảnh hưởng của
cuộc cách mạng vô sản, Ông nói: “Cách mạng vô sản cũng có ảnh
hưởng rất lớn đến các nước khác trên thế giới, nó sẽ làm thay đổi hoàn
toàn và thúc đẩy cực kỳ nhanh chóng tiến trình phát triển trước kia của
các nước đó. Nó là một cuộc cách mạng có tính chất toàn thế giới và vì
vậy nó sẽ có một vũ đài toàn thế giới”1. Sở dĩ có cuộc cách mạng vô sản
và tính chất quốc tế của nó là do đại công nghiệp phát triển tạo ra sự kết
nối và sự phụ thuộc, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc, san bằng sự
1
. Sdd, tr 472.
người xã hội chủ nghĩa dân chủ, phải cố sức duy trì chính sách
chung với họ, chỉ cần họ không phục vụ giai cấp tư sản thống trị và
không tấn công người cộng sản.
Về thái độ của người cộng sản với các chính đảng khác là
22
khác nhau ở trong các nước khác nhau như Anh, pháp, Bỉ, Mỹ, Đức
được Ph.Ăngghen trả lời ở câu hỏi thứ 25.
3. Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM
Ra đời cách đây hơn 160 năm nhưng những tư tưởng, quan
điểm của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản trong tác phẩm vẫn
giữ nguyên giá trị, là ngọn cờ đưa đường chỉ lối cho phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng
định ngay từ đầu khi viết tác phẩm, Chủ nghĩa cộng sản là học
thuyết về những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản. Những điều
kiện ấy không phải từ trên trời rơi xuống mà trái lại nó được hình
thành chính ngay trên mảnh đất hiện thực của chủ nghĩa tư bản.
Chính sự phát triển của đại công nghiệp và cạnh tranh tự do tư bản
chủ nghĩa đã làm xuất hiện giai cấp tư sản áp bức thống trị trong xã
hội tư bản và giai cấp của những người vô sản bị áp bức thống trị.
Sự phát triển của đại công nghiệp trước hết là ở những nước văn
minh sau đó nan tràn ra tất cả các dân tộc, đã kết nối tất cả các dân
tộc, các thị trường địa phương nhỏ bé thành thị trường toàn thế giới,
khiến cho tất cả những gì xảy ra ở một nước văn minh đều có thể
ảnh hưởng tới các dân tộc khác. Sự phụ thuộc, lệ thuộc vào nhau
của các nước là rất lớn. Nhờ sức mạnh của đại công nghiệp làm cho
lực lượng sản xuất tư bản mang tính xã hội hoá cao mâu thuẫn với
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu
nhiệm vụ kinh tế cơ bản xuyên suốt của cả thời kỳ quá độ. Bởi vì nếu
không tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì nước ta không thể có
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của chủ nghĩa xã hội; không có điều
kiện vật chất cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng đầy đủ và chính
đáng của nhân dân, ổn định chính trị – xã hội, củng cố quốc phòng, an
ninh. Do đó, những tư tưởng của Ph.Ăngghen về vai trò của đại công
nghiệp với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng và sự phát triển
của nhân loại nói chung là nền tảng lý luận cần thiết, rất bổ ích chỉ đạo
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Là nước đi sau nên
để đuổi kịp các nước văn minh, xuất phát từ thực tiễn nước ta và bối
cảnh quốc tế hiện nay mà sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức càng trở thành nhiệm vụ cấp
bách và cũng là mục tiêu cơ bản lâu dài của đất nước. Đồng thời đó
cũng là cơ sở để chúng ta đấu tranh với những quan điển sai trái cho
24
rằng thế giới hiện nay chưa có quốc gia nào đạt tới trình độ kinh tế tri
thức mà Đảng ta đã đặt vấn đề phát triển kinh tế tri thức là nôn nóng,
chủ quan. Không phải như vậy, mà chỉ có trên cơ sở lực lượng sản xuất
tiên tiến hiện đại, chúng ta mới xây dựng được quan hệ sản xuất tiến bộ
làm nền tảng cho chế độ xã hội mới, nền kinh tế mới. Từ lý luận của
Ph.Ăngghen về xoá bỏ chế độ tư hữu và xây dựng chế độ sở hữu công
cộng, chúng ta càng nhận thức sâu sắc rằng không thể nôn nóng, chủ
quan, duy ý chí thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực, tức là trình độ lực
lượng sản xuất của nước ta. Vì vậy, trong tiến trình xây dựng quan hệ
sản xuất mới tiến bộ việc thực hiện đa dạng hoá chế độ sở hữu, hình
thức sở hữu về tư liệu sản xuất và theo đó là nền kinh tế với cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan
Một là, ở nước Đức, năm 1863 có một tổ chức công nhân đã
được thành lập gọi là: Tổng hội liên hiệp công nhân Đức do
Ph.Látxan cầm đầu. Látxan không phải là một người xã hội chủ
nghĩa chân chính. Chủ nghĩa Látxan, thực chất là một thứ chủ nghĩa
xã hội dân chủ tiểu tư sản, mang tính chất cải lương và thoả hiệp.
Toàn bộ nội dung lý luận của chủ nghĩa Látxan xoay quanh 4 vấn