Lời giới thiệu
Tác phẩm Luận cơng về L.Phoiơbắc của C.Mác
Tỏc phm H t tng c ca C.Mỏc v Ph.ngghen
Tỏc phm Li ta gúp phn phờ phỏn khoa kinh t chớnh tr ca
C.Mỏc
Tác phẩm Chống Đuyrinh của Ph.Ăngghen
Tác phẩm Biện chứng của tự nhiên của Ph.Ăngghen
Tỏc phm Ngun gc ca gia ỡnh, ca ch t hu v ca nh
nc ca Ph.ngghen
Tác phẩm Lút vích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển
Đức của Ph.Ăngghen
Một số th về chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác và Ph.Ăngghen
Tác phẩm Những ngời bạn dân là nh thế nào và họ đấu tranh
chống những ngời dân chủ xã hội ra sao? của V.I.Lênin
Tác phẩm Hải cảng Lữ Thuận thất thủ của V.I.Lênin
Tác phẩm Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo của V.I.Lênin
Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
của V.I.Lênin
Tác phẩm Chủ nghĩa xã hội và chiến tranh của V.I.Lênin
Tác phẩm Bút ký triết học của V.I.Lênin
Tác phẩm Nhà nớc và cách mạng của V.I.Lênin
Tỏc phm Kinh t chớnh tr trong thi i chuyờn chớnh vụ sn
ca V.I.Lờnin
Tác phẩm Nhiệm vụ đoàn thanh niên của V.I Lênin
Trang
3
4
14
26
34
3
“LUẬN CƯƠNG VỀ L.PHOIƠBẮC” CỦA C.MÁC
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
“Luận cương về L.Phoiơbắc” được C.Mác viết tại Brucxen vào mùa xuân
1845 và nằm trong tập Bút ký của C.Mác những năm 1844-1845 dưới nhan đề
“Phần I về L.Phoiơbắc”. Đây là những lời ghi phác thảo một cách vội vã, dạng
đề cương cần được tiếp tục nghiên cứu mở rộng, làm phong phú thêm. Bản thảo
có 5 trang viết tay, nhưng về mặt tư tưởng rất cô đọng sâu sắc; cách diễn đạt
mạch lạc, rõ ràng và chính xác. Theo Ph.Ăngghen, phần ghi chép này là công
việc thường xuyên của C.Mác, ông viết ra chỉ là nhằm diễn đạt ý tưởng của
mình, hoàn toàn không định để in. Tuy vậy, tập bút ký này lại là một tài liệu đầu
tiên hết sức quý giá, trong đó ấp ủ mầm mống thiên tài của một thế giới quan
mới. Luận cương về L.Phoiơbắc của C.Mác được Ph.Ăngghen công bố lần đầu
tiên vào năm 1888, trong phụ lục của bản in riêng tác phẩm “L.Phoiơbắc và sự
cáo chung của triết học cổ điển Đức”.
Đầu đề tác phẩm “Luận cương về L.Phoiơbắc” do Viện nghiên cứu chủ
nghĩa Mác - V.I.Lênin (Liên Xô) đặt ra, căn cứ theo lời nói đầu của Ph.Ăngghen
viết trong cuốn “L.Phoiơbắc”. Trong phần phụ lục của cuốn sách này, Luận
cương mang đầu đề “C.Mác bàn về L.Phoiơbắc”.
“Luận cương về L.Phoiơbắc” của C.Mác in trong C.Mác và Ph.Ăngghen,
toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tập 3, từ trang 9-12. Bản in này theo đúng
nguyên bản gốc tiếng Đức, Ph.Ăngghen xuất bản năm 1888. Tuy nhiên, Viện
nghiên cứu chủ nghĩa Mác - V.I.Lênin (Liên Xô) căn cứ vào nội dung bản thảo
của C.Mác đã chỉnh sửa, in nghiêng một số chữ và đánh đúng dấu ngoặc kép mà
bản in năm 1888 bỏ sót.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
Là tác phẩm đầu tiên chứa đựng “cái mầm mống thiên tài của thế giới
quan mới”, như Ph.Ăngghen nhận định, Luận cương về L.Phoiơbắc của C.Mác
hot ng cỏch mng, ca hot ng thc tin- phờ phỏn1. Túm li, cỏc nh
trit hc trc C.Mỏc khụng hiu v cha thy c vai trũ ca thc tin i vi
nhn thc.
Khỏc vi cỏc nh trit hc duy vt trc C.Mỏc, trong s cỏc nh trit hc
duy tõm cú ngi ó thy c mt nng ng, sỏng to trong hot ng ca con
ngi, nhng cng ch hiu thc tin nh l hot ng tinh thn, ch khụng hiu
thc tin nh l hot ng hin thc, hot ng vt cht cm tớnh ca con ngi.
Vi vic a ra quan im ỳng n v thc tin v vai trũ ca thc tin
i vi nhn thc cng nh i vi s tn ti v phỏt trin ca xó hi loi ngi,
1
C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.9.
5
C.Mỏc khụng nhng ó khc phc c nhng thiu sút trong quan im thc
tin ca cỏc nh trit hc trc C.Mỏc m cũn thc hin mt bc chuyn bin
cỏch mng trong lý lun núi chung v trong lý lun nhn thc núi riờng. iu
ny ó c V.I.Lờnin xỏc nh: Quan im v i sng, v thc tin, phi l
quan im th nht v c bn ca lý lun nhn thc1.
Trờn c s tha nhn th gii vt cht tn ti khỏch quan, ngoi con
ngi, c lp vi cm giỏc, t duy v ý thc ca con ngi; tha nhn nng lc
nhn thc v coi t duy khụng phi l mt hnh ng nht thi, th ng, gin
n, mỏy múc m l mt quỏ trỡnh bin chng, tớch cc, sỏng to. Quỏ trỡnh ny
din ra theo con ng t trc quan sinh ng n t duy tru tng, t t duy
tru tng n thc tin. ú l mt quỏ trỡnh t duy phc tp, i t hin tng
n bn cht, t bn cht kộm sõu sc n bn cht sõu sc hn. Theo C.Mỏc, t
duy con ngi mun t n chõn lý khỏch quan phi xut phỏt t thc tin, da
vo thc tin. Trong lun th hai, C.Mỏc vit: Vn tỡm hiu xem t duy
ca con ngi cú th tỡm t ti chõn lý khỏch quan khụng, hon ton khụng
theo. Tư duy theo kiểu lôgíc hình thức thì điều đó có thể chấp nhận là đúng;
nhưng các nhà duy vật theo quan điểm trên đã quên rằng, sở dĩ hoàn cảnh và nền
giáo dục bị thay đổi chính là do con người tạo ra, thông qua hoạt động thực tiễn
của họ. Trong luận đề thứ ba, C.Mác viết: “Sự phù hợp giữa sự thay đổi của
hoàn cảnh với hoạt động của con người chỉ có thể được quan niệm và được hiểu
một cách hợp lý khi coi đó là thực tiễn cách mạng”1.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, biến đổi thế giới, con
người biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực trí tuệ của mình. Nhờ
đó, con người càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá bí mật của thế giới,
cải tạo, biến đổi hoàn cảnh cho phù hợp với nhu cầu sống, hoạt động của mình.
Như vậy, thực tiễn là nhu cầu, nhiệm vụ và là phương hướng phát triển
của nhận thức, giải thích các hiện tượng của đời sống. Trong luận đề thứ tư,
C.Mác cho rằng L.Phoiơbắc đã có công đưa tôn giáo từ “thiên đường” về “trần
gian”, đặt nó trên cơ sở hiện thực. Song đáng tiếc rằng, sau đó công việc của
L.Phoiơbắc là hoà tan thế giới tôn giáo vào cơ sở trần tục của nó. Ông không
thấy rằng, sau khi làm xong việc ấy rồi thì phải tiếp tục giải thích tôn giáo, phê
phán tôn giáo trên cơ sở đời sống thực tiễn, chứ không phải chỉ dựa vào lý luận.
L.Phoiơbắc đã hình dung ra con đường, nhưng ông không đủ sức đi đến
tận cùng con đường ấy. Ông “không hài lòng với tư duy trừu tượng”, đã nhờ
đến trực quan của cảm giác; nhưng ông không coi tình cảm là hoạt động thực
tiễn của cảm giác con người (xem luận đề thứ 5)” 2. Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, “đời
sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn. Tất cả những sự thần bí đang
đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực
tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy (xem luận đề thứ 8)”.
Tóm lại, theo quan điểm của C.Mác, cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của
nhận thức là thực tiễn. Thực tiễn là mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn đề
kiểm tra chân lý. Vì lẽ đó, phạm trù thực tiễn trở thành một trong những phạm
1
2
lý tng hoỏ. Thụng qua vic phờ phỏn quan im ca L.Phoibc, C.Mỏc ó
khỏi quỏt bn cht con ngi nh sau: L.Phoibc ho ton bn cht tụn giỏo
vo bn cht con ngi. Nhng bn cht con ngi khụng phi cỏi tru tng c
hu ca cỏ nhõn riờng bit. Trong tớnh hin thc ca nú, bn cht con ngi l
tng ho cỏc mi quan h1.
Cú th khng nh rng, vi quan nim ny, C.Mỏc ó a li c s th
gii quan v phng phỏp lun khoa hc gii quyt vn con ngi, hiu
1
C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.11.
8
ỳng bn cht con ngi. iu ny, do hn ch v mt lch s L.Phoibc ó
khụng th em li mt quan im ỳng n. Do vy, theo L.Phoibc, bn cht
con ngi ch cú th c hiu l loi, l tớnh ph bin ni ti, cõm, gn bú
mt cỏch thun tuý t nhiờn ụng o cỏ nhõn li vi nhau1.
L.Phoibc khụng núi n quỏ trỡnh lch s cng nh khụng bn n quan
h kinh t - xó hi ca con ngi, ụng xem xột cỏ nhõn con ngi mt cỏch
chung chung, tru tng, cụ lp con ngi vi cỏc quan h xó hi.
Trỏi li, C.Mỏc khng nh, bn cht con ngi l tng ho cỏc mi quan
h xó hi, tha nhn s thng nht bin chng gia mt sinh vt v mt xó hi
trong con ngi. Theo C.Mỏc, con ngi trc ht l mt cỏ nhõn sng; ú,
mt sinh hc l mt t nhiờn cú vai trũ rt quan trng. Bi vỡ, nh mi ng vt
khỏc, con ngi l mt b phn ca t nhiờn, l sn phm ca s tin hoỏ lõu di
ca th gii ng vt. Song, khụng vỡ th m khng nh rng, cỏi duy nht to
nờn bn cht con ngi l c tớnh sinh hc, l bn nng sinh vt ca con ngi.
C.Mỏc tha nhn con ngi l ng vt cao cp nht, cú y cỏc c trng
ca sinh vt, nhng khụng vỡ th m ng nht con ngi vi ng vt. Theo
C.Mỏc, s khỏc nhau gia con ngi v ng vt ch, con ngi bt u sn
con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, trong những điều kiện
lịch sử xã hội nhất định. Thông qua những quan điểm xã hội cụ thể đó, bản chất
con người mới bộc lộ thực sự. Rõ ràng muốn xem xét bản chất của một con
người phải xuất phát từ toàn bộ các mối quan hệ xã hội ấy. Chỉ ra bản chất của
con người, C.Mác không dừng lại ở bản năng sinh vật của con người, thực chất
là ông muốn nói đến, bàn đến con người hiện thực, nói đến bản năng xã hội của
con người trong mọi quan hệ của đời sống. Trong đó, lao động xã hội quyết định
đời sống của con người. Do vậy, bản năng sinh vật gia nhập vào bản năng lao
động xã hội tạo thành bản năng có ý thức. Điều này làm cho con người hoàn
toàn khác con vật, kể cả động vật bậc cao.
3. C.Mác phê phán L.Phoiơbắc về mặt tôn giáo và chỉ ra hướng giải
quyết vấn đề tôn giáo
C.Mác, Ph.Ăngghen đánh giá cao vai trò của L.Phoiơbắc trong cuộc đấu
tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, phục hồi và phát triển chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa vô thần. Ph.Ăngghen coi các tác phẩm của L.Phoiơbắc:
Bản chất đạo Cơ đốc (xuất bản 1811) và Bản chất tôn giáo (xuất bản 1845) đều
có tác dụng giải phóng và đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại
ngôi vua. L.Phoiơbắc đã tích cực đấu tranh chống tôn giáo, đó là biểu hiện sinh
động của cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế bảo thủ, phản động.
Qua đó ông vạch trần nguồn gốc và bản chất của tôn giáo, nhất là Đạo Thiên
chúa. Những luận điểm cơ bản của L.Phoiơbắc trình bày về tôn giáo là: Không
phải trời sinh ra người, mà trái lại, người đã tạo ra trời theo hình ảnh của mình.
Tình cảm tôn giáo không phải là bẩm sinh ở con người. Tôn giáo ra đời không
phải là ngẫu nhiên mà có nguyên nhân khách quan ở đời sống của con người.
Tôn giáo là sự phản ánh của tồn tại khách quan, nhưng phản ánh một cách xuyên
10
tạc, do ảo tưởng của con người tạo nên. Con người sống khổ cực mong muốn
được sung sướng, nhưng tự mình không làm được nên họ tưởng tượng ra một
4. C.Mác phê phán chủ nghĩa duy vật cũ và đưa ra quan niệm mới về
nhiệm vụ, chức năng và vai trò của triết học qua các luận đề 1, 3, 5, 9, 10
11
Trong các luận đề 1,3,5, 9,10, C.Mác đã nói rõ quan điểm của ông về vấn
đề này.
Bên cạnh việc chỉ ra vai trò to lớn của L.Phoiơbắc trong cuộc đấu tranh
chống lại chủ nghĩa duy tâm, phục hồi và phát triển chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa
vô thần, C.Mác đồng thời chỉ ra rằng, L.Phoiơbắc chưa vượt ra khỏi hạn chế lịch
sử của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII. Đó là: 1) Tính chất máy móc; 2) Tính
chất siêu hình (có nghĩa là không biện chứng); 3) Duy tâm về mặt xã hội.
L.Phoiơbắc không hiểu nguồn gốc của sự vận động là sự thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập, không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa
nguyên nhân và kết quả, giữa tất nhiên và ngẫu nhiên. Chủ nghĩa duy vật của
L.Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật nhân bản. L.Phoiơbắc hiểu con người nói chung
chỉ là một bộ phận của tự nhiên chứ không phải là con người ở trong mối quan hệ
xã hội, trong sản xuất vật chất, trong cải tạo xã hội... C.Mác đã phê phán sâu sắc
chủ nghĩa nhân bản của L.Phoiơbắc ở luận đề thứ 6 của Luận cương.
L.Phoiơbắc đã đấu tranh chống chủ nghĩa duy vật tầm thường, nhưng ông
đã lẫn lộn và coi nó giống như chủ nghĩa duy vật nói chung, ông đem quan điểm
nhân bản để đối lập với chủ nghĩa duy vật. Vì thế, ông kiêng kị dùng chữ “chủ
nghĩa duy vật”.
C.Mác đã đem thực tiễn đối lập với sự trực quan và đem chủ nghĩa duy vật
biện chứng đối lập với chủ nghĩa duy vật cũ. Theo C.Mác, triết học bao giờ cũng
mang tính đảng và tính đảng thể hiện ở chỗ, triết học phục vụ cho lợi ích của
giai cấp nào, cho chính trị của giai cấp nào và thuộc về trường phái nào. Xuất
phát từ cơ sở triết học của chủ nghĩa cộng sản, C.Mác đã nêu lên một cách kinh
điển nguyên lý của thế giới quan mới- đồng thời khẳng định rõ vai trò của triết
học duy vật biện chứng: “Các nhà nước đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều
sản tiến bộ Tây Âu. Sự phê phán của C.Mác đối với chủ nghĩa duy vật
L.Phoiơbắc là điều cần thiết, vì trong nội dung tư tưởng của nó còn chứa đựng
nhiều hạn chế, thiếu sót căn bản.
Năm 1846, C.Mác viết tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”. Trong đó, nhiều tư
tưởng của Luận cương được phát triển, làm rõ hơn, sâu sắc hơn, tác phẩm đi vào
lịch sử, đánh dấu bước tiến mới của C.Mác trong việc trình bày thế giới quan
khoa học, cách mạng. Có thể khẳng định rằng, “Luận cương về L.Phoiơbắc”
được C.Mác viết năm 1845 là tác phẩm có ý nghĩa như cột mốc đánh dấu sự mở
đầu giai đoạn phát triển chín muồi của thế giới quan duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Từ đây, giai cấp vô sản có hệ tư tưởng khoa học, cách mạng; vũ khí
lý luận sắc bén, “công cụ nhận thức vĩ đại” để nhận thức và cải tạo thế giới.
Nghiên cứu tác phẩm Luận cương về L.Phoiơbắc là chìa khoá để nhận thức bản
chất khoa học, cách mạng của toàn bộ triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác
nói chung.
13
“HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
C.Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” trong giai đoạn
chuyển lập trường từ thế giới quan duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng
sang thế giới quan duy vật và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Viết tác phẩm này
cũng chính là một bước chuẩn bị cho tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản”. Hiện nay, tác phẩm được in trong: C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập3,
Nxb Chính trị Quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995. tr. 15-793.
Cách mạng tư sản ở các nước Châu Âu đã nổ ra ngay từ những năm cuối
của thế kỷ XVIII (Cách mạng tư sản Anh năm 1766; cách mạng tư sản Pháp
trung xung quanh C.Mác ngày càng nhiều. Tháng 2 năm 1846, một uỷ ban liên
lạc những người cách mạng được thành lập. Thông qua tổ chức này C.Mác liên
lạc được chặt chẽ phong trào công nhân ở các nước Châu Âu như Bỉ; Pháp;
Đức; Anh…Cũng trong thời gian này, tình hình cách mạng Tây Âu có sự chín
muồi rõ rệt: ở Pháp đang ở đêm trước của cách mạng 1848; ở Đức cách mạng tư
sản đang đến gần, trong khi đó giai cấp tư sản lại yếu hèn cả về kinh tế lẫn chính
trị, chúng đã cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến để bóc lột và đàn áp phong
trào cách mạng. Vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng Tây Âu lúc này đã được
đặt lên vai giai cấp vô sản. Trong khi đó, phong trào cách mạng của giai cấp vô
sản lại đang chịu ảnh hưởng khá nặng nề và rộng rãi tư tưởng của chủ nghĩa xã
hội không tưởng: (ở Đức nó được núp dưới chiêu bài “chủ nghĩa xã hội chân
chính”; ở Pháp, đó chính là chủ nghĩa cải lương Pruđông…). Tính chất phản
động của chủ nghĩa xã hội không tưởng là điều hoà mâu thuẫn, chủ trương xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong lòng xã hội tư bản. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của mình, giai cấp vô sản không những cần phải phát triển nhanh chóng cả về số
lượng và chất lượng, mà còn phải có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học. Trước
tình hình đó, nhiệm vụ xây dựng một thế giới quan triết học mới, đặt cơ sở lý
luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học càng trở nên cấp bách đối với C.Mác và
Ph.Ăngghen.
“Hệ tư tưởng Đức” được dự kiến như là một tác phẩm tập thể do
C.Mác chủ biên. Nhưng dự định đó không thành, cuối cùng chỉ có C.Mác và
Ph.Ăngghen cộng tác chặt chẽ với nhau để hoàn thành tác phẩm này, đặc biệt là
tập đầu.
Tác phẩm được các ông viết từ tháng 11/1845 đến tháng 4/1846 là cơ bản
hoàn thành. Theo như những bức thư để lại thì C.Mác có ý định xuất bản tác
phẩm “Phê phán chính trị và khoa kinh tế chính trị” trước. Tháng 2/1845
C.Mác đã ký hợp đồng với nhà xuất bản để xuất bản tác phẩm này. Từ tháng 7
15
Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Sự thật, Hà Nội, tr. 15-793) đăng
trọn vẹn.
Tên tác phẩm: “Hệ tư tưởng Đức”, nhưng còn có phụ đề là “Phê phán
triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là L.Phoiơbắc, B.Bauơ, Stiếcnơ
và phê phán chủ nghĩa xã hội Đức qua các nhà tiên tri khác nhau của nó”.
16
Kết cấu của tác phẩm: tác phẩm gồm 2 tập
Tập I: với tiêu đề là “Phê phán triết học mới nhất ở Đức” với 3 chương:
Chương I: Về L.Phoiơbắc.
Chương II: Brunô thần thánh ( biệt danh của Bauơ).
Chương III: Maxơ thần thánh (biệt danh của Stiếcnơ).
Tập II: gồm 5 chương.
Chương I: Phê phán những cơ sở triết học của chủ nghĩa xã hội chân chính.
Chương II và Chương III đến nay không còn.
Chương IV: Trào lưu chủ nghĩa xã hội ảnh hưởng ở Pháp, Bỉ.(trào lưu tư
tưởng của Gruyn).
Chương V: Phê phán các quan điểm chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của
Cunman.
Trong 2 tập này, phần phê phán L.Phoiơbắc là phần các quan điểm triết học
mới của C.Mác và Ph.Ăngghen được thể hiện một cách tập trung nhất. Sở dĩ như
thế là vì: Trong các tác phẩm trước đây, các ông đã phê phán Bauơ, Stiếcnơ, còn
đối với L.Phoiơbắc thì vẫn được ca ngợi. Đến nay, bằng phê phán L.Phoiơbắc,
C.Mác và Ph.Ăngghen làm rõ được quan điểm của mình khác với quan điểm của
L.Phoiơbắc ra sao và các ông đã xây dựng quan điểm mới đó như thế nào.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
1. Con người và vấn đề con người là tiền đề, là điểm xuất phát của việc
nghiên cứu lịch sử - xã hội
tính tự nhiên của nó.
Tuy nhiên, so với các nhà duy vật Pháp, L.Phoiơbắc cũng có những bước
tiến nhất định trong xem xét bản chất của con người. L.Phoiơbắc cho rằng, bản
chất con người là tồn tại. Điều đó có nghĩa rằng, muốn hiểu con người phải gắn
nó với những điều kiện tồn tại hiện thực của nó. L.Phoiơbắc phê phán tôn giáo
và khẳng định phải đi tìm bản chất của con người ở trần gian là đúng, song hạn
chế của ông cũng như của chủ nghĩa duy vật cũ là thiếu một quan điểm
thực tiễn.
Do thiếu quan điểm thực tiễn đúng đắn nên các nhà duy vật cũ (kể cả
L.Phoiơbắc), trong xem xét bản chất con người đã phải dừng lại ở bản tính tự
nhiên của nó. ( L.Phoiơbắc gọi là bản chất tộc loại tình cảm, tình yêu, đạo Đức
v.v..).
Do thiếu quan điểm thực tiễn đúng đắn nên các nhà duy vật cũ (kể cả
L.Phoiơbắc), đã không thể giải thích được vì sao ở mỗi thời đại khác nhau lại có
những con người khác nhau. Con người của họ là con người bất biến, trừu
tượng, phi lịch sử.
Do thiếu quan điểm thực tiễn đúng đắn nên các nhà duy vật cũ (kể cả
L.Phoiơbắc), đã không hiểu được mối quan hệ giữa tư duy ý thức với tồn tại,
18
cũng có nghĩa là không hiểu được con người. Do tính chất trực quan trong xem
xét, các nhà duy vật cũ chỉ thấy một bên là tồn tại, một bên là ý thức, không thấy
được sự sáng tạo của ý thức, vì thế họ không đủ sức để bác bỏ quan điểm của
chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết về vấn đề này.
Ví dụ, khi Phíchtơ cho rằng “cái tôi” thuần tuý sinh ra mọi cái. L.Phoiơbắc
đã vạch ra được điều vô lý là tại sao một cái tôi, không có cái gì nữa mà lại sinh
ra mọi cái được. Nhưng ông không đủ sức để cắt nghĩa một cách khoa học,
không giải thích được vì sao con người với 5 giác quan lại nhận thức được thế
giới… Trong khi đó, chủ nghĩa duy tâm lại thổi phồng mặt năng động chủ quan
bản chất của con người cũng là cái cụ thể và luôn vận động, phát triển.
2. Xuất phát từ quan niệm con người đó là con người sống, hành động,
sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra cơ sở của toàn bộ đời sống xã hội
đó là sản xuất vật chất.
Quan niệm của các ông về sản xuất vật chất được thể hiện trên những nội
dung cơ bản sau:
Một là, các ông khẳng định: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con
người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống
đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải
có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi
lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy,
việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử,
một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà ( hiện nay cũng như hàng nghìn năm về
trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống
con người”1.
Hai là, việc sản sinh những nhu cầu và việc thoả mãn những nhu cầu do
sản xuất vật chất đem lại, đó lại là động lực phát triển của sản xuất vật chất,
động lực phát triển của xã hội. C.Mác-Ph.Ăngghen khẳng định: khi “nhu cầu
đầu tiên đã được thỏa mãn, hành động thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà
người ta đã có được - đưa tới những nhu cầu mới; và sự sản sinh ra những nhu
cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên”2
Ba là, cùng với hoạt động sản xuất vật chất hàng ngày, nhằm tái tạo ra đời
sống của bản thân mình, “con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi
nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”3.
C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “Cần phải coi ba mặt đó của hoạt động xã
hội không phải là ba giai đoạn khác nhau, mà chỉ là ba mặt…, chỉ là ba “nhân
tố”, chúng tồn tại đồng thời với nhau ngay từ buổi đầu của lịch sử, từ khi con
người đầu tiên xuất hiện, và chúng hiện vẫn còn biểu hiện ra trong lịch sử” 4.
Hơn nữa, cũng không nên hiểu sản xuất vật chất chỉ là sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt cho con người, mà phải hiểu hoạt động sản xuất vật chất đó chính là
đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình. Không phải ý thức quyết
định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” 2. Vai trò quyết định của tồn
tại xã hội đối với ý thức xã hội còn được thể hiện ở chỗ: tồn tại xã hội như thế
nào thì ý thức xã hội về căn bản là như thế ấy, trong xã hội có đối kháng giai
cấp, ý thức xã hội mang tính giai cấp, ý thức thống trị xã hội là ý thức của giai
cấp thống trị. “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là
những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất
thống trị thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi
phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản
1
2
Sđd tr.30
sđd, tr.38
21
xuất tinh thần… Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự
biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị” 1. Về ý thức xã hội,
trong tác phẩm này được C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Ý thức [das
Bewuòtsein] không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức
[das Bewuòt sein], và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của
con người” 2; tồn tại xã hội chính là nội dung của ý thức; ý thức được biểu hiện
ra thông qua ngôn ngữ. Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành
và phát triển của ý thức “ Ngôn ngữ cũng tồn tại lâu như ý thức; ngôn ngữ là ý
thức hiện thực, thực tiễn, tồn tại vì cả những người khác và chỉ do đó nó mới
cũng tồn tại vì bản thân tôi nữa, và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ xuất hiện từ
nhu cầu, từ sự tất yếu phải giao tiếp với những người khác”3.
Về bản chất của ý thức: ý thức là phản ánh thế giới, phản ánh đời sống xã
hội của con người. Các ông đã chỉ ra vấn đề phương pháp luận quan trong khi đi
tour1* lại trở thành trở ngại và lại được thay thế bằng một hình thức khác…” 1 cứ
như thế xã hội phát triển không ngừng, đi từ sự vận động, phát triển của phương
thức sản xuất xã hội.
4. Về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Trong tác phẩm này, lần đầu tiên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
dùng thuật ngữ kiến trúc thượng tầng, còn cơ sở hạ tầng vẫn được gọi là cơ sở
hoặc cơ sở kinh tế, xã hội công dân. Các ông chỉ rõ, kiến trúc thượng tầng nhà
nước là sản phẩm của cơ sở sản xuất, xã hội công dân là cơ sở của nhà nước.
“Xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong
một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Nó bao trùm toàn bộ
đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó và do đó, vượt ra
ngoài phạm vi quốc gia và dân tộc…Thuật ngữ “xã hội công dân” xuất hiện
trong thế kỷ XVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng
[Gemeinwesen] cổ đại và trung cổ… tuy nhiên, tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra
từ sản xuất và giao tiếp và trong mọi thời đại đều cấu thành cơ sở của nhà nước
và của kiến trúc thượng tầng tư tưởng, vẫn luôn luôn được gọi bằng danh từ
đó22.Với quan niệm như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen tiến tới xem xét lịch sử xã
hội theo quy luật biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Từ đó,
các ông vạch ra sự vận động của xã hội từ cổ đại đến chủ nghĩa tư bản là một
quá trình hợp quy luật (như sau này C.Mác nói đó là quá trình lịch sử tự nhiên).
Đặc biệt, các ông đã vận dụng quan điểm đó vào xem xét sự ra đời và phát triển
của chủ nghĩa tư bản và rút ra được những hệ quả của lý luận triết học của mình.
Đó chính là lý luận về cách mạng vô sản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
5. Lý luận về cách mạng xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích nguyên nhân của cách mạng xã hội đi
từ kinh tế, từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (mâu thuẫn
này biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các lợi ích, đấu tranh trong nội bộ nhà nước,
phản ánh đấu tranh trong xã hội). Các ông viết: “Như vậy là theo quan điểm của
chúng tôi, tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa
1
xuất…Sự phát triển ấy của những lực lượng sản xuất ( cùng với sự phát triển
này, sự tồn tại có tính chất lịch sử thế giới, chứ không phải có tính chất địa
phương nhỏ hẹp, của con người đã thực hiện một cách kinh nghiệm chủ nghĩa)
là tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là sự
nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở
lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không
tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây”4. Ngoài ra trong tác phẩm này
Sđd, tr. 107.
Sđd, tr. 51.
3 . S đd, tr. 102.
4 Sđd, tr. 49.
1
2
24
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng lưu ý chúng ta về tính chất quốc tế của cách mạng
vô sản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản do lực lượng sản xuất đã quốc tế hoá.
Như vậy, nếu như ở giai đoạn trước, ở các tác phẩm trước, C.Mác và
Ph.Ăngghen còn chịu ảnh hưởng tư tưởng của L.Phoiơbắc, đôi chỗ còn căn cứ
vào L.Phoiơbắc để đấu tranh với các quan điểm phản diện, thì đến tác phẩm này,
các ông đã đoạn tuyệt với L.Phoiơbắc và xây dựng được hệ thống lý luận mới,
độc lập của mình.. Mặc dù trên nhiều phương diện, lý luận đó cần được bổ sung
và tiếp tục phát triển, song ở “Hệ tư tưởng Đức” hệ thống lý luận mà các ông
trình bày là cực kỳ quan trọng, nó chính là cơ sở lý luận cho sự hình thành chủ
nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng.
IV. Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM
“Hệ tư tưởng Đức” là một trong những tác phẩm kinh điển xuất sắc của
cuộc thảo luận, tranh luận về vấn đề ăn trộm gỗ và phân nhỏ tài sản ruộng đất;
về tình cảnh nông dân vùng Mô den; cuối cùng là những cuộc tranh luận về tự
do buôn bán và thuế quan bảo hộ. C.Mác nói: "Lần đầu tiên đã thúc đẩy tôi
nghiên cứu những vấn đề kinh tế"2. Sự thúc đẩy đó được bắt đầu từ khi C.Mác
viết tác phẩm thứ nhất là tác phẩm " phê phán triết học Pháp quyền của Hê
ghen" ( 1843). C.Mác viết: " Tác phẩm thứ nhất mà tôi đã viết để giải quyết
những những điều băn khoăn đã ám ảnh tôi, là một sự phân tích phê phán triết
học pháp quyền của Hê ghen"3. Kết quả của nó được C.Mác khái quát là:"
Không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái
nhà nước, cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần con người để giải thích
những quan hệ và hình thái đó, trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình
thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất "4. Tiếp tục sự thôi thúc
và dựa trên kết quả nghiên cứu tác phẩm thứ nhất, C.Mác đã dày công nghiên
cứu khoa kinh tế chính trị và đến năm 1859 cho ra đời tác phẩm: “Góp phần phê
phán khoa kinh tế chính trị”. Nghiên cứu lời tựa cho thấy từ tác phẩm thứ nhất"
phê phán triết học pháp quyền của G.Ph.Hêghen đến lời tựa này có sự gián đoạn
trong nghiên cứu kinh tế chính trị, nhưng tiến trình như một dòng chảy liên tục.
1,2,3,4
C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.13.