NHỮNG VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC TRONG LÝ THUYẾT BIG BANG - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
__
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
PHÒNG ĐT SĐH-KHCN&QHĐN
NHỮNG VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC TRONG
LÝ THUYẾT BIG BANG
Tiểu Luận Môn Học
Triết Học
HVTH: Dương Thị Phương
Mai
MSHV: CH1301099
GVPT: TS. Bùi Văn Mưa
TP HỒ CHÍ MINH – Tháng 8/2014
MỞ ĐẦU
Con người luôn không ngừng tìm kiếm nguồn gốc ra đời của mình. Những câu
hỏi về quá khứ, về sự xuất hiện của vũ trụ, của dải ngân hà đã trở thành nỗi ám
ảnh của mọi nhà khoa học. Một trong những giả thuyết được đưa ra để giải thích
cho sự hình thành ban đầu ấy chính là thuyết vụ nổ Big Bang. Lý thuyết Big
Bang là mô hình vũ trụ học nổi bật miêu tả giai đoạn sơ khai của sự hình thành
Vũ trụ. Thuyết Big Bang là một lý thuyết khoa học đã được kiểm chứng và được
cộng đồng khoa học chấp nhận rộng rãi. Nó đưa ra cách giải thích hoàn thiện về
nhiều loại hiện tượng quan sát thấy trong vũ trụ, bao gồm sự có mặt của những
nguyên tố nhẹ, bức xạ nền vi sóng vũ trụ, cấu trúc vĩ mô của vũ trụ. Những ý
tưởng chính trong lý thuyết Big Bang - sự giãn nở của vũ trụ, trạng thái cực nóng
lúc sơ khai, sự hình thành của heli, và sự hình thành các thiên hà - được suy luận
ra từ những quan sát này và những quan sát khác độc lập với mọi mô hình vũ trụ
học. []
Nếu như từ thời xưa, ở Trung Hoa cổ đại, nhà triết học Lão Tử cho rằng vũ trụ là
một sự tồn tại “vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận” thì đến thế kỉ 20, với những
tiến bộ của khoa học, thuyết Big Bang đã được công nhận là đúng đắn. Điều này
thật trùng hợp khi tư tưởng chính của thuyết này đã xuất hiện cách đây 2.500

xuống tới 1 triệu K, đây mới là điều kiện thuận lợi để các phản ứng hạt
nhân xảy ra liên tục, với tốc độ lớn, hình thành nên các nguyên tố hóa học
như chúng ta biết hiện nay: đơteri, heli 3, liti 7 và heli 4… Quá trình hạt
nhân kết thúc ở phút thứ 15 của đồng hồ vũ trụ.
300.000 năm sau, vũ trụ nguội đi, nhiệt độ xuống dưới 3.000K và trở nên
trong suốt, electron cũng không chuyển động nhanh như trước nữa. Các hạt
3
nhân có thể giữ các electron lại, tạo thành các nguyên tử, tạo ra các “viên
gạch xây” của vũ trụ. Do tương tác giữa photon và các nguyên tử rất nhỏ
nên chúng có thể lan truyền tự do. Vật chất, ánh sáng và các loại bức xạ
khác tràn xa và ngày càng mỏng dần khi vũ trụ giãn nở. Hàng tỉ năm sau,
những đám mây khí khổng lồ bắt đầu phân tán. Mỗi đám mây trở thành một
thiên hà, dưới tác động của lực hấp dẫn sẽ hình thành các ngôi sao và chùm
sao, trong khi đó, vũ trụ vẫn tiếp tục mở rộng và hình thành nên thế giới của
chúng ta ngày hôm nay.
Chương 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC TRONG LÝ THUYẾT
BIG BANG
1.1. Nguồn gốc Vũ Trụ và sự tồn tại của Thượng Đế
Nếu trong dân gian có rất nhiều huyền thoại dân gian và tôn giáo về sự
sáng tạo ra vũ trụ, kể cả huyền thoại sáng tạo của Do Thái – Ki Tô, thì
trong khoa học chỉ có một thuyết giải thích nguồn gốc của vũ trụ (the
origin of the universe) hay sự sinh ra của vũ trụ (the birth of the
universe). Đó là thuyết "Big Bang".
Cách đây hơn 2500 năm, Đức Phật đã đưa ra thuyết Vô Thường: Vạn
Pháp, nghĩa là vũ trụ và mọi sự vật trong đó, thay đổi từng sát na, không
có gì có thể gọi là Hằng Hữu, Hằng Sống, Hằng Tồn trong vũ trụ. Mọi
sự vật, nếu đã do duyên sinh thì cũng do duyên mà diệt, đủ duyên thì
sinh thành, hết duyên thì diệt, và thường đều phải trải qua bốn thời kỳ:
thành, trụ, hoại, diệt. Ngày nay, trước những khám phá mới nhất của
khoa học, từ thuyết tiến hóa của Darwin cho tới thuyết Big Bang về sự

Triết học Phật giáo nói rằng, Vũ trụ không có bắt đầu và không có kết
thúc, do đó không có khái niệm “Sáng thế”, vì vậy, Thượng đế không có
5
lý do tồn tại. Sự xuất hiện của các hiện tượng đều thông qua nguyên lý
về Sự phụ thuộc lẫn nhau. Tức là, mỗi sự kiện hay mỗi hiện tượng đều
phải có một nguyên nhân. Mối quan hệ Nhân – quả, nối tiếp vô cùng
này, chắc chắn sẽ đi ngược lại niềm tin siêu hình của phương Tây, của
Tôn giáo. Mong muốn tìm ra một điểm bắt đầu với niềm tin rằng, vạn
vật tồn tại thực và bền vững, như trí óc bình thường của chúng ta cảm
nhận.
Chứng minh sự tồn tại một điểm bắt đầu, tức là chứng minh tính hiện
thực của “Sáng thế”, đồng nghĩa với sự hiện hữu của Thượng đế. Do đó
không dễ gì lay chuyên niềm tin ấy, đã ngự trị lâu đời trong hệ tư tưởng
Tôn giáo, cho dù về mặt Khoa học thì cơ học lượng tử cho phép tránh
được quan niệm về nguyên nhân đầu tiên của Vũ trụ.
Mặc khác, nói “Thượng đế tạo ra Vũ trụ” sẽ vô nghĩa nếu Thời gian
không tồn tại. Hành động sáng tạo ra Vũ trụ chỉ có thể tiến hành trong
Thời gian. Vậy Thượng đế nằm trong hay ngoài Thời gian? Mà như
Einstein khẳng định, thời gian không phải là tuyệt đối . Thời gian có thể
co giãn, vậy một Thượng đế ở trong thời gian, thậm chí là chính thời
gian, sẽ không còn là đấng toàn năng nữa vì phải tuân theo những biến
thiên của thời gian do các chuyển động có gia tốc, hay do các trường hấp
dẫn mạnh (xung quanh lỗ đen) gây ra. Nếu một Thượng đế ở ngoài thời
gian, sẽ có sức mạnh vạn năng, thì lại không thẻ cứu rỗi chúng ta được,
vì những hành động của chúng ta đều nằm trong thời gian. Còn, nếu
Thượng đế vượt lên trên cả thời gian, thì Ngài hẳn đã biết trước tương
lai, vậy thì tại sao Thương đế lại phải bận tâm đến sự tiến bộ trong cuộc
đấu tranh của con người chống cái ác? Vì Ngài chẳng đã biết tất cả tứ
trước rồi hay sao. Hoặc, nếu Thượng đế là bất biến, thì như vậy Ngài
không thể sáng tạo được, hoặc là Thượng đế nằm trong thời gian thì

7
quan giữa khối lượng và thời gian đã cho chúng ta cái nhìn mới hơn về
vũ trụ thời kì tiền Big Bang. Các hành tinh có khối lượng càng lớn thì
chúng ta sẽ cảm nhận thời gian trôi qua chậm hơn khi đứng trên bề mặt,
so với các hành tinh có khối lượng nhẹ hơn mặc dù sự chênh lệch là rất
nhỏ. Do đó, trước vụ nổ Big Bang, điểm kỳ dị là điểm tập trung tất cả
khối lượng của vũ trụ, nên nó khiến thời gian bị bế tắc hay có thể coi
như không có khái niệm thời gian và cũng đồng nghĩa với việc không có
khái niệm thời kỳ trước Big Bang. Nếu theo lý thuyết này thì vũ trụ lúc
sơ khai chỉ là một điểm kì dị, và không có bất cứ hoàn cảnh bên ngoài
nào, vậy thì vụ nổ Big Bang xảy ra chính là một điều tất yếu, tự nó phải
diễn ra và hình thành nên vũ trụ.
Các nhà khoa học khác lại tin vào lý thuyết chu kỳ, trong đó sự hình
thành của điểm kỳ dị là do chính vũ trụ trước đó tự sụp đổ trong một sự
kiện được gọi là Big Crunch. Nó tạo ra điểm kỳ dị một lần nữa, các vật
chật bị dồn ép vào điểm kỳ dị và tạo ra một vụ nổ lớn mà chúng ta gọi là
Big Bang tái tạo vũ trụ, sau đó quá trình Big Bang và Big Crunch lặp lại
theo lý thuyết chu kỳ. Việc giải thích này phù hợp với quy luật vận động
và phát triển của sự vật hiện tượng theo chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Bất cứ sự vật nào trong thế giới đều trải qua quá trình phát sinh, phát
triển và diệt vong. Sự vật cũ mất đi được thay thế bằng sự vật mới và sự
thay thế này được gọi là phủ định. Ta thấy rằng việc vũ trụ cũ bị mất đi,
vũ trụ mới được sinh ra hoàn toàn mang tính khách quan và kế thừa. Nó
sinh ra và mất đi không phụ thuộc vào ý chí của con người, thậm chí nó
xảy ra trước khi con người ra đời từ rất lâu trước đây. Vũ trụ mới sinh ra
là sự kế thừa vũ trụ trước đó, gạt bỏ bớt một số điểm lỗi thời và thêm
một số điểm mới phù hợp với hiện thực. Từ sự khẳng định ban đầu (Vũ
trụ cũ), trải qua phủ định lần thứ nhất (điểm kì dị phủ định vũ trụ cũ) và
sự phủ định lần thứ hai (vũ trụ mới phủ định điểm kì dị), sự vật dường
như quay trở lại sự khẳng định ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn. Sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status