Tài liệu Tiểu luận “Vấn đề triết học về con người và con người trong quá trình đổi mới hiện nay” - Pdf 99

z
TRƯỜNG
KHOA X^]W
TIỂU LUẬN
Vấn đề triết học về con
người và con người trong
quá trình đổi mới hiện nay


1
LỜI MỞ ĐẦU

Con người là gì? Con người sinh ra từ đâu, hoạt động và phát triển ra sao?
Trước khi có học thuyết Mác, những cố gắng của tư duy triết học nhằm
đạt tới sự hiểu biết về con người "cụ thể" hiện thực đều không đem lại kết
quả, rốt cuộc là chủ nghĩa duy tâm v
ẫn ngự trị trong nhận thức về con người
và về đời sống xã hội.
Chỉ đến triết học Mác, vấn đề con người mới được xem xét một cách
nhất quán, đầy đủ và sâu sắc hơn, trên cơ sở lập trường của duy vật triệt để.
I. CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
1. Bản chất con người
Bất cứ một học thuyết nào về con người đều không thể lẩn tránh một
vấn đề đã được đặt ra trong lịch sử; Con người là gì? Bản chất của con người
là gì? Quan điểm duy tâm quy đặc trưng, bản chất con người vào lĩnh vực ý
thức tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hoặc xem bản chất con người là cái gì đó
được quy định s
ẵn từ những lực lượng siêu tự nhiên.
Một số trào lưu triết học khác lại giải thích bản chất con người từ góc
độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất. Bản chất đó là bản tính tự
nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển
giống nòi; hoặc tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân riêng
lẻ, nghĩ
a là con người bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó. Tính
chất siêu hình của các quan điểm này về bản chất của con người biểu hiện ở
chỗ, con bản chất là cái vốn có trừu tượng và quy nó về bản tính tự nhiên,
tách khỏi xã hội và trở nên bất biến.
Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã tạo ra mộ
t bước ngoặt trong việc nhận thức bản chất con
người. Các ông xuất phát từ con người thực tiễn, con người hiện thực, con
người cải tạo thế giới và thông qua hoạt động vật chất con người. Đó là một

người, nhưng có ý nghĩa quyết định nhất là quan hệ sản xuất. Bởi vì, các quan
hệ khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự quy định củ
a quan hệ này. Mỗi
hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất nhất định giữ vai trò
chi phối, và chính kiểu quan hệ sản xuất đó là cái xét đến cùng, tạo nên bản
chất của con người trong giai đoạn lịch sử đó.

4
Ở đây, cái phổ biến (cái chung của nhân loại) tồn tại và thể hiện qua cái
đặc thù (hình thái xã hội, giai cấp) và cái đơn nhất(cá nhân từng con người).
Do đó, khi bàn đến bản chát chung của con người không thể gạt bỏ bản chất
giai cấp của các tầng lớp khác nhau; và ngược lại khi nói bản chất giai cấp
của các tầng lớp khác nhau không được quên bản chất chung của con người.
Nhưng từ đó quy bả
n chất con người chỉ còn là bản chất giai cấp và tất cả mọi
hoạt động của con người đều được giải thích trực tiếp từ đây lại là xuyên tạc
thực chất quan điểm macxít về bản chất con người. Đây là một quan hệ không
thể tách biệt của các thứ bậc về bản chất trong con người.
- Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ
ở từng hình thái xã
hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng
chế độ, thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang
(đương đại) vừa theo chiêù dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất
con người bao gồm cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống,
bởi trong lịch sử của mình con người bắt bu
ộc phải kế thừa di sản của những
thế hệ trước nó.
Trong lĩnh vực văn hoá tinh thần có những truyền thống thúc đẩy con
người vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống "đè nặng lên những con
người đang sống". Do đó khi xem xét bản chất con người không được tách rời

bản chất con người, song không có nghĩa là, chủ nghĩa Mác- Lênin coi nhẹ
mặt tự nhiên, phủ nhận cái sinh vật trong yếu tố cấu thành bản chất con ng
ười.
Bởi vì theo C. Mác "giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với
nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói
rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên,
nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới
tự nhiên, vì con người là một bộ phận của gi
ới tự nhiên".
Con người và con vật đều có những nhu cầu như ăn uóng, tính dục…,
nhưng C. Mác đã từng vạch ra tính chất khác nhau của những nhu cầu ấy: con
người hoạt động theo bản năng, con người hành dộng theo ý thức. Và chính
mặt xã hội của con người đã làm cho mặt sinh vật trong con người phát triển
ở trình độ cao hơn những động vật khác.
Con người sống, hoạt động không phải chỉ theo nh
ững bản năng di
truyền sẵn có như các động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển
của văn hoá, của tiến bộ lịch sử - xã hội. Khác con vật, con người ngoài

6
chương trình di truyền, còn có chương trình kế thừa về mặt xã hội. Bằng con
đường giáo dục, chương trình này truyền lại kinh nghiệm của những thế hệ
trước cho các thế hệ sau. Những đặc điểm di truyền của từng người vừa bảo
đảm những thuộc tính sinh học của mình, vừa bảo đảm để con người tiếp thu
chương trình xã hội.
Ngày nay, mối tương quan giữ
a mặt sinh vật và mặt xã hội trong sự
phát triển của con người vẫn là đối tượng của những cuộc tranh luận khoa học
gay gắt. Nhiều nhà khoa học tư sản vẫn đem đối lập và tách mặt sinh học khỏi
mặt xã hội. Chẳng hạn, phải duy sinh vật tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật trong

u kiện lịch sử quy định. Trong mối quan hệ với giống loài, tức là trong
mối quan hệ với xã hội, cá nhân biểu hiện ra với tư cách sau:
- Cá nhân là phương thức tồn tại của giống loài "người". Không có con
người nói chung, loài người nói chung tồn tại cảm tính.
- Cá nhân là cá thể người riêng rẽ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã
hội, là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách.
- Cá nhân được hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội.
Nhưng xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử cá nhân là một hiện tượng có
tính lịch sử. Mỗi thời kỳ lịch sử có một "kiểu xã hội của cá nhân" mang tính
định hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động của con người
trong thời kỳ lịch sử cụ thể đó.
Nếu như cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với
giống loài, sự khác bi
ệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân
khác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt những yếu tố bên trong
riêng biệt với toàn bộ hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá nhân
khác. Nhân cách là nội dung, trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong riêng
biệt của mỗi cá nhân. Đó là thế giới của "cái tôi" do tác động tổng hợp của
các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên. Mỗi cá nhân "dấn thân" vào
cuọc số
ng, tiếp thu và chuyển những giá trị văn hoá của xã hội vào bên trong
mình, thực hiện quá trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế giới riêng
của mình. Đâylà quá trình kép, xã hội hoá cá nhân và cá nhân hoá xã hội, cá
nhân xã họi và cá nhân nhân cách là thống nhất. Với nhân cách riêng, mỗi cá
nhân có khả năng ý thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn
chức năng, niềm vui và trách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hội.

8
Vấn đề cá nhân, nhân cách không giải quyết một cách khoa học nếu
không có phương hướng triết học rõ ràng giải quyết mối quan hệ cá nhân và

giành tự do của họ đã bị giai cấp thống trị cướp đoạt. Tự do của con người

9
không tách rời những điều kiện xã hội, không tách rời trình độ của con người
chinh phục thiên nhiên. Chỉ đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản con
người mới thực sự có tự do. Ở đây, tất cả những vấn đề về lực lượng sản xuất,
quan hệ kinh tế, hệ thống chính trị, đấu tranh giai cấp… đều được thực hiệ
n
theo mục đích phát triển tối đa năng lực con người và vì con người. Trước đây
C.Mác và Ph. Ănghen đã chỉ ra rằng, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm
phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc, và
"sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế".
Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang đẩy mạnh quá trình này, nhưng về thực chất
đó vẫn là sự mở rộng quan hệ bóc lột và nô dịch con người sang các dân tộc
khác. Nó tạo ra một số nước tư bản phát triển cao, giàu có, thì đồng thời cũng
làm cho châu Phi đói, châu Á nghèo, châu Mỹ Latinh nợ nần chồng chất.
Chủ nghĩa xã hội thực hiện quá trình quốc tế hoá đời sống nhân loạ
i để
mỗi dân tộc có điều kiện tiếp cận nhanh chóng những giá trị tiến bộ của nhân
loại, làm cho con người phát triển nhân cách phong phú, biết đấu tranh chống
những quan hệ không có tính người trong cuộc sống nhân loại. Đó là đặc
trưng của chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong quan hệ giữa cá nhân và
xã hội.
3. Cá nhân và quần chúng nhân dân trong lịch sử
Lịch sử chẳng qua là hoạt động củ
a con người theo đuổi mục đích của
mình. Nhưng lịch sử không diễn ra qua hoạt động của từng cá nhân cô lập,
tách rời mà phải thông qua hoạt động của quần chúng đông đảo theo những
mục đích nhất định. Khái niệm quần chúng nhân dân có tính lịch sử, nghĩa là
ở các chế độ xã hội khác nhau thì kết cấu quần chúng nhân dân cũng khác

Cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động là động lực phát tri
ển của
xã hội.
- Quần chúng nhân dân là người đóng vai trò to lớn trong sự phát triển
văn hoá, nghệ thuật và khoa học. Trong lịch sử, do sự phân công lao động dẫn
đến tạo ra một lớp người chuyên về sáng tạo tinh thần tư tưởng, những hoạt
động này của họ cũng chỉ diễn ra được trên cơ sở đời sống tinh thần và sáng
tạo của quần chúng. Quần chúng nhân dân là người trực tiế
p sáng tạo ra văn
học nghệ thuật. Hoạt động thực tiễn của quần chúng là cái gốc, là nguồn vô

11
tận cho văn học nghệ thuật sáng tạo, đồng thời quần chúng nhân dân còn là
người thưởng thức, phê phán, kiểm nghiệm các giá trị đó. Trong lịch sử phát
triển của xã hội, không có văn học dân gian thì cũng không thể có văn học bác
học, không có kinh nghiệm của đa số người lao động thì cũng không có các
khoa học. Đây là hai mặt không thể tách rời của đời sống tinh thần trong xã
hội.
- Hoạt
động thực tiễn của quần chúng nhân dân là cái nôi, là cơ sở cho
sự hình thành các nhân vật ưu tú của xã hội. Sức mạnh và tài năng của lãnh tụ
cũng chỉ được phát huy trong phong trào quần chúng, gắn bó mật thiết với
quần chúng. Một nhân dân anh hùng, một đại chúng cách mạng năng động sẽ
là cơ sở để sản sinh ra những anh hùng, những lãnh tụ tiêu biểu của mình.
Như vậy, xét tất cả các mặt trong đời s
ống xã họi từ kinh tế đến chính
trị, từ thực tiễn đến tinh thần tư tưởng, khi quần chúng nhân dân đóng vai trò
quyết định lịch sử. Song, theo quan niệm duy vật lịch sử, quần chúng nhân
dân và cá nhân lãnh tụ trong lịch sử không tách rời nhau. Cá nhân lãnh tụ là
những người có năng lực và phẩm chất tiêu biểu nhất trong phong trào quần

ngược với thế giới quan của giai cấp vô sản.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, quần chúng nhân dân là nhữ
ng bị
trị, sống phụ thuộc vào lợi ích và quyền lực của thiểu số giai cấp bóc lột và
cầm quyền lực của thiểu số giai cấp bóc lột và cầm quyền thống trị. Trong
chủ nghĩa xã hội, quần chúng nhân dân là người làm chủ xã hội. Tất cả những
cá nhân và bộ máy lãnh đạo, quản lý đều là công cụ thực hiện quyền làm chủ
của quần chúng nhân dân.
Những ng
ười cầm đầu của giai cấp bóc lột có tác dụng tiến bộ trong
thời kỳ mà vai trò lịch sử của giai cấp đó còn phù hợp với tiến trình lịch
sử.Nhưng khi giai cấp đó trở thành phản động, những người cầm đàu của nó
trở thành lực lượng cản trở, kìm hãm sự phát triển của lịch sử. Nói một cách
khác là, trong những thời kỳ lịch sử nhấ
t định có những cánhân đại diện cho
các lực lượng tiến bộ và những cá nhân cầm đầu các lực lượng xã hội phản
động.
Công lao to lớn của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin và lãnh tụ vô sản
vĩ đại khác là ở chỗ, các ông đã chỉ cho giai cấp vô sản và quần chúng bị áp
bức hiểu được nhiệm vụ lịch sử của họ, sức mạnh vĩ đại của họ và con đường
đi
đến tự giải phóng khỏi mọi ách áp bức bóc lột. Giai cấp công nhân và nhân

13
dân Việt Nam vô cùng tự hào có vị lãnh tụ là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở Người
đã kết tinh những phẩm chất tiêu biểu nhất của một lãnh tụ vô sản. Thắng lợi
của "cách mạng Việt Nam, ngót lửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi
của chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai
sinh nền Cộng hoà dân chủ Việt Nam, người vun trồng khố
i đại đoàn kết dân

ng phẩm chất năng lực, còn hoạt động là sự thể hiện
nó.
Từ đây, có thể đưa ra một quan niệm chung đầy đủ hơn về nhân tố con
người là: nhân tố con người là hệ thống các yếu tố, các đặc trưng quy định vai
trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống
nhất giữa mặt hoạt động v
ới tổng hoà các đặc trưng về phẩm chất, năng lực
của con người trong một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định.

15
Nhân tố con người là khái niệm không chỉ để phân biệt nhân tố "người"
với các yếu tố khác: kinh tế, chính trị, xã hội… trong đời sống xã hội, mà
quan trọng hơn là để khẳng định vai trò của nhân tố "người" đối với các yếu
tố đó. Tức là không có khái niệm nhân tố con người tách khỏi hoạt động, dù
đó là hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.
Tịch cực hoá nhân t
ố con người là phát hiện, như bộc lộ, hình thành và
sử dụng tiềm năng sáng tạo của người lao động và phát huy nhân tố con người
chính là chăm lo tạo ra những điều kiện cần thiết để mỗi người, mỗi cộng
đồng người thể hiện tối đa năng lực của mình trong lao động, trong hoạt động
sáng tạo nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội vì h
ạnh phúc của mỗi
con người. Đây cũng chính là quá trình làm cho mỗi con người trở thành chủ
thể có ý thức trong sáng tạo lịch sử
Phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh
thần, giá trị thể chất, vật chất. Con người ở đây được xem xét như một tài
nguyên, một nguồn lực. Vì thế, phát triển người hoặc phát triển nguồn lực con
người trở thành một lĩ
nh vực nghiên cứu hết sức cần thiết trong hệ thống phát
triển các loại nguồn lực như vật lực, tài lực, nhân lực, trong đó phát triển

nước. Thực chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một kiểu tổ chức vừa dựa trên nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường,
vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Thự
c tiễn
chứng minh, những chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong gần 20
năm đổi mới vừa qua đã tạo nên động lực kinh tế giải phóng sức sản xuất,
trực tiếp thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng
con người Việt Nam mới.
Hai là, ổn định chính trị và mở rộng dân chủ. Bất kỳ một quốc gia dân
tộc nào, dù ở chế độ chính trị nào cũng cần có sự ổn định chính trị - xã hội.
Bởi vì, đó là tiền đề để phát triển và tiến bộ xã hội. Ổn định chính trị, trước
hết thể hiện sự ổn định hệ thống chính trị, cơ cấu hợp lý và thể chế chính trị
hoàn chỉnh. Ở Việt Nam, khi bước vào công cuộc đổi mới, vấn đề
quan trọng
được đặt ra giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là phải có sự kết hợp
ngay từ đầu, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, và từng bước đổi mới chính
trị, nhằm làm cho hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là quá trình củng cố và phát
triển hệ th
ống chính trị từ nền tảng kinh tế của nó. Mục tiêu đổi mới hệ thống

17
chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ
quyền làm chủ của nhân dân.
Ba là, nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục. Ngày nay, cùng với
việc đổi mới công nghệ, phải chú ý đổi mới công tác giáo dục, với phương
châm: "Giáo dục cái mà đất nước cần, chứ không phải giáo dục cái mà ta có".
Mặc khác, giáo dục toàn diện: giáo dục chính trị, giáo dục lao động nghề
nghiệp, giáo dụ
c đạo đức, phải sử dụng nhiều hình thức giáo dục đào tạo đa

phát triển. Trong sự phát triển con người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trí
tuệ và đi liền với nó là vai trò của giáo dục đào tạo nguồn lực con người.
Đố
i với sự nghiệp đổi mới của nước ta phải coi nhân tố con người là
nhân tố quyết định, từ đó phải nâng cao dân trí cũng như chuẩn bị tốt nguồn
nhân lực có đủ trí tuệ và nghị lực, tay nghề và công nghệ, ý thức và tâm hồn
thấm đượm sâu bản sắc dân tộc, khoa học và ý chí, thực hiện sự chuyển mình
từ một xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp theo định h
ướng xã hội
chủ nghĩa. Các cuộc đại thắng của dân đã đi vào lịch sử suy cho cùng là thắng
lợi của chính con người Việt Nam. Bài học đó còn nguyên giá trị cho tới ngày
nay. Với chiến lược giáo dục đào tạo đúng đắn và khoa học của Đảng, với trí
tuệ và phẩm chất của con người Việt Nam, chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Với kiến thức và sự cố gắng, em đã hoàn thành bài tiểu luận song
không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được lời nhận xét và
đánh giá của thầy để em rút kinh nghiệm trong những bài sau.
Em xin chân thành cảm ơn!

19

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Minh Hạc, nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, 2001.
2. Nghiêm Đình Vỳ (chủ biên), Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài, Nxb
Chính trị quốc gia, 2002.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc, Nxb Chính
trị quốc gia, 2001.
4. Ngô Đình Giao (chủ biên), Suy nghĩ về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status