LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đã và
đang mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội phát triển kinh tế-xã hội ổn định và bền vững.
Bên cạnh những lợi thế mà nền kinh tế đem lại, những bất cập nảy sinh từ thể chế pháp
luật, chính sách phát triển, chiến lược, tổ chức bộ máy,… tiềm ẩn những nguy cơ và
thách thức lớn đối với sự phát triển chung của đất nước trong những năm tới. Một
trong các nguy cơ chủ yếu vẫn là nguồn nhân lực có chất lượng cao-với nguồn nhân
công dẻ và sự mất cân đối giữa lực lượng cán bộ, công chức trong khu vực công với
khu vực ngoài nhà nước.
Từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế theo
cơ chế thị trường, nền kinh tế thị trường, cơ chế tổ chức và hoạt động của bộ máy
quản lý nhà nước tỏ ra kém hiệu quả; chính sách chậm thay đổi hoặc thay đổi chỉ
mang tính hiện tượng mà chưa giải quyết được căn bản của vấn đề;… Chẳng hạn
như, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức không đáp ứng
được nhu cầu quản lý trong tính năng động của nền kinh tế; những cán bộ, công chức
có kinh nghiệm, kỹ năng và trình độ không mặn mà với công việc chuyên môn hoặc
hoạt động vụ được giao nên dẫn đến tình trạng có xu hướng chuyển ra khu vực ngoài
nhà nước để làm việc hay làm việc theo kiểu “chân trong, chân ngoài”;… Nhiều cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp,… có nguy cơ không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được
giao, thậm chí phải “giải thể”. Thực tế này cho thấy, thực trạng quy hoạch sử dụng cán
bộ, công chức còn nhiều hạn chế; quản lý nhà nước có phần “buông lỏng”; chính sách
đãi ngộ còn chưa tạo ra động lực để thu hút và giữ các cán bộ, công chức chủ lực,…tiếp
tục phục vụ trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
Đứng trước các yêu cầu trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính
sách, quy định để quản lý, sử dụng, bố trí và đào tạo hợp lý nguồn nhân lực có chất
lượng cao đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi trong tình hình mới, cùng với những kiến thức
quản lý nhà nước được trang bị ở Nhà trường tiểu luận lựa chọn vấn đề “Nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực ở Viện nghiên cứu kinh tế-xã hội
1
2
mặn mà với nghiên cứu khoa học, hoặc có nghiên cứu khoa học nhưng cũng chỉ là
hình thức….”.
Từ tình huống trên cho thấy, tình trạng “ra đi”, “chân trong, chân ngoài” hay
“không mặn mà với việc nghiên cứu”,… ở Viện nghiên cứu thành phố nói riêng và
cán bộ, công chức nói chung là điều dễ hiểu. Ở Viện nghiên cứu kinh tế hiện nay, chủ
yếu vẫn là các cán bộ nghiên cứu, bao gồm cả lực lượng chính trong ngạch nghiên
cứu viên, lẫn một số ít ngạch kỹ sư hoặc chuyên viên; ngoài Viện thì vẫn có một số
giáo sư, phó giáo sư tiến sĩ thường xuyên gắn bó với tư cách cộng tác viên. Một hệ
thống nhân sự như vậy là phù hợp và luôn luôn thích ứng được mọi yêu cầu trong
nghiên cứu khoa học, chuyên sâu lẫn “phản ứng nhanh” phục vụ cho lãnh đạo Thành
uỷ và Uỷ ban nhân dân thành phố, đôi khi cả cho Chính phủ. Tuy nhiên, chỉ trong đội
ngũ của Viện- lực lượng nòng cốt chủ lực, đã nảy sinh một thực tế: Trong các năm
gần đây, Viện đã phải hoàn trả lại ngân sách tối thiểu 20% phân kinh phí nghiên cứu
khoa học (trong tổng số bình quân 2,4 tỷ/năm); Cũng thời gian qua, một số cán bộ
nghiên cứu, đã được đào tạo khá cao khá bài bản, và cũng có nhiều năng lực trong
nghiên cứu lẫn quan hệ hợp tác, đã lần lượt xin nghỉ hoặc chuyển công tác, vì lý do
này hay lý do khác.
Lý giải hiện tượng trên, có nhiều quan điểm, ý kiến tiếp cận trên nhiều phương
diện khác nhau. Song, về cơ bản đều có chung một mục đích nhằm trả lời thoả đáng câu
hỏi “vì sao lại có sự ra đi của công chức, viên chức” hay “vì sao công chức, viên chức
của Viện lại vừa làm việc trong vừa làm việc ngoài” ?;... để từ đó xây dựng các giải pháp
thích hợp. Dưới góc độ quản lý nhà nước, có thể đánh giá theo nhóm các nguyên nhân
khách quan và chủ quan như sau:
Thứ nhất, kinh tế thị trường phát triển tạo ra sự bất bình đẳng giữa khu vực
công và tư về chế độ, chính sách, điều kiện và môi trường làm việc.
Một là, chế độ chính sách, đãi ngộ công chức, viên chức làm việc ở
Viện nghiên cứu so với khu vực tư nhân là quá thấp. Mức thu nhập từ lương của cán
“Về nguyên tắc, chúng tôi phải tôn trọng nguyện vọng cá nhân. Không thể cố giữ
chân họ. Anh em ở lại mà không yên tâm làm việc thì cũng chẳng hiệu quả, thậm chí
còn làm mất cơ hội tốt hơn của anh em!”.
4
Chính vì lương cho các nhà khoa học quá thấp, nên họ không thể toàn tâm toàn
ý cho công việc nghiên cứu, mà phải lo chạy kinh tế. Việc này dẫn đến hậu quả là các
sản phẩm nghiên cứu cũng chỉ ở mức tạm được, chưa thực sự có tính đột phá và phát
huy hiệu quả, nhiều sản phẩm nghiên cứu làm ra phải để trong ngăn kéo. Chị M cho
biết, tại Đức, các nhà nghiên cứu không phải lo kiếm sống. Họ chỉ phải chú tâm vào
công việc của mình thôi. Đó là vì công việc của họ được đánh giá cao, phân cấp rất rõ
ràng. "Mỗi bậc khác nhau là có mức lương cũng như trách nhiệm khác hẳn nhau,
không đánh đồng như ở ta. Chẳng hạn cán bộ đại học có lương chỉ bằng 1/2 so với
một tiến sĩ nghiên cứu cơ bản". Chính vì chuyên môn hóa như vậy, nên theo chị M
"công tác nghiên cứu của họ rất chuyên nghiệp, bài bản, mỗi chuyên gia chỉ làm một
vấn đề nhất định, và hợp tác giữa họ rất sâu, trong khi ở Việt Nam, một chuyên gia,
có thể không giỏi chuyên môn lắm, nhưng lại làm từ A đến Z, dẫn đến một kết quả
nghiên cứu cũng 'làng nhàng'".
Công chức, viên chức cần được “đối xử” dưới góc độ thị trường, năm 2008 với
con số 20 công chức, viên chức bỏ ra làm ngoài là con số kỷ lục của giai đoạn 20032008. Đây là điều rất dễ hiểu bởi tài chính, ngân hàng là lĩnh vực sôi động nhất trong
thời gian qua, cũng là lĩnh vực “khát” nhân lực nhiều nhất trong năm 2007-2008.
Không chỉ ngành tài chính, ngân hàng, nhiều ngành khác như y tế, giáo dục - đào tạo...
với rất nhiều cơ sở mới thành lập cũng mời gọi công chức, viên chức của Viện. Lỗ
hổng nhân lực ở khu vực kinh tế tư nhân-khu vực kinh tế năng động nhất hiện nay, đã
tạo nên ngày càng nhiều sự lựa chọn cho công chức, viên chức có trình độ, năng lực
làm việc. “Nước chảy chỗ trũng”, cũng chính là quy luật của thời buổi kinh tế thị
trường.
Hai là, môi trường làm việc ở Viện nghiên cứu so với khu vực tư nhân. Do môi
đạo người biết, người không tốt phê phán và o ép người tốt, người nói dối được trọng
dụng hơn người nói thật.
Hai là, chính quyền Thành phố, cũng như lãnh đạo Viện chưa có xu hướng
“mở”, bằng cách tạo điều kiện để một đơn vị sự nghiệp có thể phát triển nguồn thu
của mình trên cơ sở khai thác và hợp đồng nghiên cứu cho các công trình, dự án kinh
tế của các tổ chức, cá nhân. Sự ngại va chạm, thiếu năng động, quyết đoán là cơ sở
làm nảy sinh tình trạng công chức, viên chức trong Viện không có nguồn thu nào
6
khác từ lương và chế độ đãi ngộ từ các công trình nghiên cứu của Nhà nước, của
Thành phố phân cấp.
Tình huống trên, cũng đã chỉ ra cho chúng ta thấy một số các yếu tố ảnh hưởng
đáng lưu ý như: Việc một số cán bộ, công chức, viên chức trong Viện xin ra ngoài
biên chế hoặc tự ý bỏ việc tuy chưa nhiều nhưng đã ảnh hưởng đến tâm lý cán bộ và
gây ra những khó khăn nhất định đến nhiệm vụ được giao. Nếu xu thế này tiếp diễn
thì sẽ dẫn tới tình trạng Viện ngày càng thiếu người có chuyên môn giỏi, có kinh
nghiệm,…Các cán bộ trẻ, hoặc năng lực yếu ở lại sẽ không đáp ứng được yêu cầu của
công cuộc đổi mới do nhiệm vụ nghiên cứu Thành phố đặt ra.
PHẦN THỨ HAI: PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
Hệ thống thể chế quy định về chế độ, chính sách đãi ngộ; bố trí sử dụng công
chức, viên chức ở các đơn vị sự nghiệp còn có quá nhiều bất cập. Trong đó, các văn
bản pháp quy có nhiều về số lượng nhưng không đáp ứng được chất lượng (không
phù hợp với điều kiện hiện nay); mâu thuẫn và chồng chéo;… vẫn là những hạn chế
mang tính “cố hữu” ở nước ta. Về cơ bản có thể phân tích tình huống trên dưới góc
độ của quản lý nhà nước theo các nội dung cơ bản sau:
Một là, chưa có sự phân định rành mạch giữa cán bộ, công chức, viên chức,…
ở trong các văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế các cán bộ nghiên cứu thuộc viện
Nghiên cứu kinh tế-xã hội Thành phố chưa được xác định đúng, đủ và rõ ràng về
chức danh, chức vụ nên chế độ, chính sách mà Nhà nước áp dụng mang tính dàn trải,
Như vậy, với mức lương và các chế độ phụ cấp nghiên cứu, phụ cấp trách nhiện
hiện hành dù ở mức viên chức loại a vẫn không thể vượt quá được 3 triệu
đồng/tháng. Cũng theo Nghị định này việc phân loại cán bộ nghiên cứu theo bằng
cấp và thâm niên công tác vẫn chưa là cơ sở khoa học thoả đáng để đánh giá mức
hưởng lương theo ngạch, bậc và các phụ cấp khác. Điều này dẫn đến tình trạng, coi
trọng bằng cấp, chạy theo bằng cấp; thâm niên công tác mà chưa chú ý đến năng lực,
đặc biệt là hiệu quả công việc. Đồng thời, sự “cào bằng” về bằng cấp mà không có sự
phân định về hiệu quả là cơ sở để nạn “bỏ đi” giữa những người có cùng bằng cấp
nhưng năng lực khác nhau. Hạn chế này đã làm nhiều cán bộ nghiên cứu có năng lực
thực sự khi không được đánh giá đúng, bố trí đúng, trả lương tương xứng có tâm lý chán
nản công việc được giao và tìm đến những nơi đánh giá đúng năng lực của họ.
8
Ba là, bản thân viện nghiên cứu kinh tế-xã hội thành phố về tuổi đời còn quá
trẻ vì mới được thành lập (sát nhập) theo Quyết định số 58/2008/QĐ-UBND của Uỷ
ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/6/2008 về hợp nhất Viện kinh tế, Viện
nghiên cứu xã hội và Viện quy hoạch xây dựng thành viện nghiên cứu phát triển kinh
tế-xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Việc sát nhập này sẽ tạo ra những khó khăn trong
bố trí, cơ cấu tổ chức về các chức danh lãnh đạo Viện; văn phòng, các phòng chuyên
môn nghiệp vụ,... Đồng thời, tạo ra những lý do, những kẽ hở cho việc “ra đi” của
một số cán bộ có kinh nghiệm thuộc Viện trước khi sát nhập.
PHẦN THỨ BA: XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG
ÁN
I. XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Tình huống trên đã chỉ ra nhiều cách thức khác nhau, có thể có những phương
án ở tầm vĩ mô và vi mô hoặc cũng có thể được giải quyết theo tiêu chí và góc độ tiếp
cận khác nhau. Về cơ bản, việc đưa ra phương án xử lý phải vừa đảm bảo được được
sự ổn định lâu dài ở phạm vi rộng (toàn quốc) và vừa giải quyết triệt để vấn đề mà
tình huống nêu ra. Dưới góc độ quản lý nhà nước và kỹ năng thực tế trong xử lý các
việc chân trong, chân ngoài, chất lượng và hiệu quả của các dự án thấp,... Trên cơ sở
đó, Chính phủ ra quyết định phê duyệt đề án, giao cho Bộ Giáo dục và Bộ Tài chính
tiến hành khảo sát và xây dựng bảng lương mới trình Chính phủ trong thời gian ngắn
nhất. Sau khi có bảng lương mới (được Chính phủ quyết định) thì sẽ áp dụng, tổ chức
thực hiện trong thực tế.
2. Phương án 2: Xây dựng chế độ trả thù lao đặc thù cho lao động trí tuệ và và
chế độ đối với cộng tác viên làm việc cho các viện nghiên cứu
* Mục tiêu của phương án:
Bên cạnh mức lương được trả theo hoạt động đặc thù kể trên, việc xây dựng
chế độ đãi ngộ đặc thù cho cán bộ, công chức, viên chức và cộng tác viên nhằm mục
tiêu khuyến khích các nhà nghiên cứu, chuyên gia có năng lực thực sự cống hiến sức
10
lực của mình cho các công trình, dự án do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương
giao.
* Nội dung chính của phương án: Để thực hiện phương án này cần tiến hành
các hoạt động cụ thể sau:
- Làm tờ trình báo cáo Chính phủ
- Khảo xát về tính đặc thù theo từng dự án, công trình nghiên cứu theo cấp
(Chính phủ giao hay Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao) và theo lĩnh vực kinh tế; xã hội;
khoa học; công nghệ;... từ đó dự kiến xây dựng mức trả chi phí thù lao đặc thù cho
từng phần công việc của dự án được giao.
- Tổng hợp kết quả, xây dựng danh mục chế độ phụ cấp đặc thù cho từng loại
dự án cụ thể trên.
- Trình Chính phủ quyết định.
* Nguồn lực và cơ quan thực hiện phương án: Phương án này cũng như
phương án trên cần nguồn kinh phí lớn để chi phí cho hoạt động khảo sát thực tế.
Song, mức chi phí để chi trả là hợp lý nếu so sánh giữa hiệu quả công việc và nguồn
chi phí thù lao từ ngân sách nhà nước bỏ ra. Cơ quan tiến hành vẫn do Bộ Tài chính
khảo trong quá trình xây dựng. Khi đề án được thông qua nguồn ngân sách thành phố
trước đây chi đều cho số cán bộ, công chức, viên chức sẽ được cân đối lại để chi trả
cho những cán bộ, công chức, viên chức tham gia dự án, và mức độ hoàn thành các
dự án. Do vậy, không mất thêm nhiều hơn số tiền phải chi hiện có mà đạt hiệu quả
cao có thể được gọi là chi tiêu hợp lý và hiệu quả.
Cơ quan tiến hành bao gồm: các cơ quan xây dựng: Sở Tài chính và Viện nghiên
cứu thành phố. Cơ quan tổ chức thực hiện: Ủy ban nhân dân ra quyết định và các cơ
quan có liên quan tổ chức triển khai.
II. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Như vậy, có thể có nhiều phương án giải quyết, mỗi phương án sẽ chỉ ra những
mục tiêu nhất định. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tiễn tổ chức thực hiện phương án
ở nước ta hiện nay, có những phương có nhiều ưu điểm, ưu thế nổi trội nhưng có
12
những phương án sẽ tồn tại nhiều hạn chế. Do vậy, việc lựa chọn phương án xử lý có
thể được so sánh theo bảng sau:
Phương án 1
Phương án 2
Phương án 3
Là cơ sở pháp lý đểLà nguồn bù đắp tạoTrực tiếp động viên,
tổ chức thực hiệnra sự công bằngkhuyến khích các cán
việc trả lương theotrong
hoạt
độngbộ, công chức, viên
huyết
với
nghề
nghiệp;....
Nhược
Nhược
điểm
lớnNhược điểm cố hữuMặc dù chi phí cho
điểm
nhất là việc xâyvẫn là việc xác địnhkhảo sát và xây dựng
dựng các tiêu chí đểđược tiêu chí về tínhđề án ít nhưng nhiều
đánh giá mức độđặc thù, các điềuthời gian để xây dựng
hoàn thành đề án,kiện khó khăn trongđề án.
công trình nghiêntừng
hoạt
động
cứu thuộc lĩnh vựcnghiên cứu; chi phí
khoa học xã hội,lớn cho khảo sát và
nhân văn; tốn kémxây dựng và thời
PHẦN THỨ TƯ: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
I. VỀ GIẢI PHÁP
14
Để có được một đội ngũ công chức, viên chức có đủ trình độ chuyên môn
nghiệp vụ đáp ứng với yêu cầu chức năng, nhiệm vụ của Viện nghiên cứu phát triển
kinh tế-xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; phục vụ đắc lực những nhu cầu đổi mới phát
triển kinh tế-xã hội của Thành phố trong thời gian tới; xây dựng đội ngũ cán bộ
nghiên cứu có bản lĩnh, tâm huyết phục vụ cho sự nghiệp của Viện, theo tôi cần tập
trung nghiên cứu, giải quyết đồng bộ một số khâu công việc quan trọng:
Thứ nhất, cần sớm ban hành Luật riêng về công chức, viên chức sự nghiệp
Đây là vấn đề cơ bản nhằm giải quyết vấn đề xác định nội hàm các quan niệm
về cán bộ, công chức, viên chức,… do các văn bản hiện hành tạo ra. Với cơ chế ban
hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, việc ban hành Luật cần phải được tiến
hành theo đúng trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
1986 (sửa đổi năm 2001) quy định, nên mất nhiều thời gian để tiến hành trình tự, xây
dựng dự thảo, thông qua, cụ thể hoá,… Để đảm bảo yêu cầu trước mắt có thể tiến
hành theo các bước sau:
Một là, Chính phủ, báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc quốc để đưa vào chương
trình dự kiến ban hành luật hoặc Nghị quyết tại kỳ họp gần nhất.
Hai là, tại kỳ họp gần nhất, Quốc hội có thể tiến hành giao cho Chính phủ
nghiên cứu xây dựng đề án thí điểm (Quốc hội ban hành Nghị quyết) hoặc xây dựng
dự thảo Luật. Thông thường, phương án tối ưu và an toàn nhất hiện nay là xây dựng
đề án thí điểm làm cơ sở cho việc xây dựng Luật.
Xây dựng Luật công chức, viên chức các đơn vị sự nghiệp phải đảm bảo theo
hướng chỉ quy định các quy định chung, các điều kiện tiêu chuẩn khung làm cơ sở
pháp lý để các đơn vị sự nghiệp chủ động xác định, hoạch toán và đảm bảo các chế
độ, chính sách, đãi ngộ cho chính công chức, viên chức của mình. Như vậy, sẽ tránh
được các hiện tượng sau khi Luật ban hành ra (hoặc có Nghị quyết của Quốc hội) lại
đáng”. Trong đó Uỷ ban nhân dân tiến hành giao giao cho Ban giám đốc Viện, Sở Tài
chính nghiên cứu xây dựng nguồn lực để chi trả cho các công trình, dự án mà các cán
bộ, viên chức tham gia như: xác định nguồn ngân sách Nhà nước; ngân sách Thành phố
và khả năng thu của Viện;… từ đó xây dựng các tiêu chuẩn, chế độ, chính sách cho các
16
cán bộ, viên chức tham gia nghiên cứu. Sau đó, trình lên Uỷ ban nhân dân ra Quyết định
để tổ chức thực hiện.
II. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
Từ những phân tích trên, tiểu luận nêu lên một số kiến nghị cơ bản sau:
Một là, Viện nghiên cứu cần tạo môi trường làm việc và cơ hội thăng
tiến: Ngoài thu nhập, môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến cũng là điều rất quan
trọng đối với công chức, viên chức. Bất kỳ ai, dù làm cho cơ quan nào cũng đều cần
lương, phản ánh đúng năng lực của mỗi người. Song đối với những người có năng
lực, tâm huyết thì đồng lương không phải là tất cả. Với năng lực thật sự của mình, họ
hoàn toàn có những cách khác để kiếm tiền một cách minh bạch và lương thiện, do
vậy lương không phải là chuyện lớn. Sự thăng tiến của bản thân, sự phát triển của cơ
quan là một ước mơ cháy bỏng đối với người có tài năng và tâm huyết.
Hai là, Viện nghiên cứu cần năng động kết hợp giữa nhiệm vụ được giao và
làm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Với thế mạnh là một Viện nghiên cứu
kinh tế-xã hội, Viện có thể thực hiện ký kết các hợp đồng nghiên cứu cho các tổ chức
kinh tế, doanh nghiệp, công ty,... nhằm tạo ra thu nhập, cải thiện đời sống cán bộ,
công chức, viên chức và các cộng tác viên. Trong đó, khuyến khích các cán bộ, công
chức, viên chức tìm kiếm các hợp đồng cho Viện. Như vậy, Viện vẫn đảm bảo được
nhiệm vụ, nâng cao được trình độ cọ sát thực tiễn của cán bộ, công chức và đặc biệt
là tạo ra thu nhập ổn định cho cán bộ, công chức, viên chức gắn bó với Viện.
Ba là, Viện cần chủ động có kế hoạch xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức hợp lý để làm cơ sở đáp ứng các nhiệm vụ đặt ra. Đây là nội
v trang.
5. Quyt nh s 58/2008/Q-UBND ca U ban nhõn dõn Thnh ph
18
Hồ Chí Minh ngày 27/6/2008 về hợp nhất Viện kinh tế, Viện nghiên
cứu xã hội và Viện quy hoạch xây dựng thành viện nghiên cứu phát
triển kinh tế-xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Thông tư số 51/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính “Hướng dẫn quản
lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà
nước” Ngày 16/6/2008.
19