MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.......................................................................................2
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN................................................................3
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN............................................................................................3
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN.......................................................................................3
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP..................................................5
1. Hiểu tính cách bẩm sinh của học sinh...........................................................5
1.1. GENECODE vân tay là gì?.......................................................................6
1.2. Mô tả một số dạng vân chính trên đầu ngón tay........................................7
1.2.1. Dạng vân W.........................................................................................7
1.2.2. Dạng vân U.........................................................................................7
1.2.3. Dạng vân R..........................................................................................7
1.2.4. Dạng vân A..........................................................................................8
1.3. Tác dụng của việc hiểu tính cách bẩm sinh của trẻ...................................8
1.3.1. Chấp nhận học sinh.............................................................................8
1.3.2. Chọn từ khóa phù hợp.........................................................................8
2. Học sinh thông minh theo cách nào?...........................................................10
2.1. Học sinh như thế nào được xem là thông minh.......................................10
2.2. Các loại hình trí thông minh....................................................................11
2.2.1. Trí thông minh hình tượng.................................................................11
2.2.2. Trí thông minh ngôn ngữ...................................................................11
2.2.3. Trí thông minh logic-toán học...........................................................12
2.2.4. Trí thông minh thiên nhiên (tự nhiên)...............................................12
2.2.5. Trí thông minh âm nhạc....................................................................12
2.2.6. Trí thông minh nội tâm......................................................................12
2.2.7. Trí thông minh giao tiếp....................................................................12
2.2.8. Trí thông minh vận động...................................................................13
2.3. Hiểu về các loại hình thông minh có ý nghĩ gì?.......................................13
3. Học sinh thích học theo phong cách học nào?............................................14
3.1. Học qua quan sát (VISUAL)....................................................................14
3.2. Học qua lắng nghe (AUDITORY)............................................................15
trình điều khiển được. Kết quả của sự điều khiển một phần tùy thuộc vào “tần số”
trao đổi thông tin giữa người dạy và người học, nói cách khác, thầy càng hiểu trò,
hiểu kịp thời bao nhiêu thì càng có căn cứ để tổ chức và điều khiển quá trình dạy
học và giáo dục của mình bấy nhiêu. Vì vậy, tôi cho rằng thấu hiểu được bản chất
của mỗi học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục là hết sức quan trọng. Đó là
việc “thâm nhập” vào thế giới bên trong của học sinh, sự hiểu biết tường tận về
nhân cách của chúng, cũng như năng lực thật sự của học sinh trong quá trình dạy
học và giáo dục.
Một thầy giáo hiểu được học sinh là khi chuẩn bị bài giảng đã biết tính đến
trình độ văn hóa, trình độ phát triển của chúng, hình dung được từng em cái gì
chúng biết, biết đến đâu, cái gì có thể quên hoặc khó hiểu. Về vấn đề này, ở những
giáo viên ít kinh nghiệm, vì không biết đánh giá đúng trình độ học sinh, nên đối
với họ tài liệu nào cũng dường như đơn giản, dễ hiểu và không đòi hỏi một thủ
thuật trình bày đặc biệt nào. Rõ ràng là đối với họ tất cả học sinh đều như nhau. Sự
phân biệt của họ có chăng chỉ có hai loại: cố gắng hoặc lười biếng, học khá hoặc
học kém. Do đó, trong khi chế biến và trình bày bài giảng, họ đã hướng về mình
chứ không phải hướng về học sinh. Trái lại, người thầy có kinh nghiệm, khi chế
biến hay, trình bày tài liệu lại biết đặt mình vào địa vị người học. Do đó, họ đặc
biệt suy nghĩ về đặc điểm của nội dung, xác định khối lượng, mức độ khó khăn và
hình thức trình bày sao cho thuận lợi nhất đối với học sinh.
Vì vậy, giáo viên muốn có được những phương pháp dạy học sao cho phù
hợp, đạt hiểu quả nhất thì trước hết phải hiểu được năng lực, bản chất vốn có của
mỗi học sinh. Đó là kết quả của một quá trình lao động đầy trách nhiệm, thương
2
yêu và sâu sát học sinh, nắm vững môn mình dạy, am hiểu đầy đủ về tâm lí học trẻ
em, tâm lí học trò.
II.
học sinh vi phạm nội quy như không học bài, không làm bài, nói chuyện, mất tập
trung trong lớp học,… Không ít giáo viên hiện nay vẫn quan niệm khi học sinh
mắc lỗi thì chỉ có cách giáo dục duy nhất, hiệu quả nhất là trừng phạt. Điều này do
hai nguyên nhân: Giáo viên chưa hiểu được tâm lý lứa tuổi học sinh “trong xã hội
mở” hiện nay và coi nhẹ kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ. Một số thầy cô giáo lại có
cách giáo dục bột phát, họ thực hiện và thấy được hiệu quả tức thì nên áp dụng như
một kinh nghiệm. Ví dụ: phạt học sinh chép lại 20 lần một bài sử dài 4 trang giấy;
bắt học sinh đứng một chân trong vòng tròn trong suốt một giờ học, cho cả lớp lên
tát một học sinh vì hỗn với cô… Những biện pháp như vậy chỉ làm cho học sinh
thêm tủi, thêm hận, có thể có những học sinh vì ngoan ngoãn mà gắng chịu nhưng
3
chắc chắn các em sẽ in hằn dấu ấn không tốt suốt cả cuộc đời. Một vài trường hợp
học sinh phản ứng bằng cách sừng sộ khiến cô giáo phải cầu cứu bảo vệ,…
Còn có những trường hợp giáo viên nhận xét “trò giỏi, trò kém” chỉ là vô
tình nhưng có tác dụng lớn với trò. Học trò nào được khen thì cố gắng để xứng
đáng với sự chờ đợi của thầy; ngược lại trò nào bị chê thì nản chí và dẫn đến thất
bại trong học hành.
Thật vậy, định kiến “giỏi” hay “kém” không dừng ở đấy. Theo các nghiên
cứu đã thực hiện, trò được xem là “giỏi” sẽ thành hăng hái, sáng tạo, can đảm,
chuyên cần, ... trong khi trò bị xem là “kém”, sau đó mất hăng hái, không sáng tạo,
lười biếng, ... Rốt cuộc, cuối năm, phần đông “trò giỏi” có kết quả tốt, thi đậu hay
lên lớp còn “trò kém” thì thi rớt. Các nhà giáo dục gọi đó là hiệu ứng Pygmalion
hay hiệu ứng Rosenthal (kết quả học hành của học sinh tùy thuộc cách đối xử của
giáo viên với các em).
Trường học có rất nhiều vai trò. Truyền kiến thức cho các em, tập cho các
em sống với xã hội, giúp các em suy nghĩ về nhân nghĩa hay đạo làm người, hướng
nghiệp cho tương lai,... Nhất là giúp các em có một môi trường để lớn lên phát
triển và sống hạnh phúc. Đi học 6 hay 7 tiếng đồng hồ mỗi ngày, tức là một khoảng
Tiến trình hiểu và tác động để đưa đến những biện pháp giáo dục thì nó phải
đi qua các bước: Thứ nhất là hiểu tính cách bẩm sinh của học sinh như thế nào?
Thứ hai là hiểu được mỗi một học sinh nó sẽ sở hữu một loại hình trí tuệ khác
nhau; Cuối cùng là hiểu phong cách học tập của mỗi một học sinh. Và từ cái thấu
hiểu tính cách bên trong của học sinh, người giáo viên sẽ đưa ra các biện pháp giáo
dục phù hợp và nhằm phát triển tốt nhất giá trị bên trong của học sinh.
TIẾN TRÌNH HIỂU – TÁC ĐỘNG
.
BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG PHÙ HỢP
PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ BÊN TRONG
1. Hiểu tính cách bẩm sinh của học sinh
Bình thường, là một giáo viên. Chúng ta thường dựa vào hai cách rất là phổ
thông đó là: Quan sát hành vi của học sinh hàng ngày, hoặc thông qua giao tiếp,
nói chuyện với học sinh. Chúng ta có thể hiểu tính cách, sở trường, sở đoạn của
học sinh, hiểu được em này thích cái này hay không thích cái kia. Tuy nhiên chỉ
mới dừng lại ở mức quan sát hành vi và giao tiếp thì thực sự cũng có những lúc mà
giáo viên thường đặt câu hỏi là tại sao em này lại như thế này mà em kia lại thế
khác? Chúng ta chưa đủ cơ sở khoa học để xác nhận được chính xác và trả lời câu
hỏi tại sao đó.
Ngoài hai cách đó thì có thêm một công cụ đã được thế giới chấp nhận và chứng
minh đây là một cơ sở khoa học cho phép chúng ta có một cách nhìn khoa học để
hiểu về khả năng bẩm sinh của một học sinh. Đó là công cụ GENECODE (sinh
trắc dấu vân tay)
5
1.1. GENECODE vân tay là gì?
mười đầu ngón tay của mình thì cái dạng hoa tay của nó hình thù như thế nào? Đặc
biệt là hai ngón tay cái, vì hai ngón tay cái chính là hai ngón tay có ảnh hưởng rất
lớn đến tính cách bẩm sinh của một con người. Các nhà khoa học phân chia thành
bốn dạng vân chính, mỗi dạng quy định những tính cách bẩm sinh khác nhau.
1.2.1. Dạng vân W
Dạng vân này có khá nhiều chủng loại khác nhau: WS, WE, WI, WC,…
Những người có dạng vân này đặc biệt là hai ngón tay cái là những người có tính
cách Ý CHÍ: Là những người có cá tính tương đối là mạnh, họ quyết định tự mình
đặt ra mục tiêu và theo đuổi mục tiêu đến cùng, không cần có quá nhiều sự tác
động từ bên ngoài, họ không sống phụ thuộc vào tình cảm của người khác, tự mình
quyết định trong mọi vấn đề, họ không bị áp đặt, sự bắt buộc từ người khác, nếu
như cả mười ngón tay đều có dạng W thì những người này có tính cách hơi bảo
thụ.
1.2.2. Dạng vân U
Những người này có tính cách ngược lại với những người có dạng vân W.
Đặc biệt, với những người có vân U ở cả hai ngón tay cái, họ có tính cách TÍNH
CẢM. Họ sống thiên về tình cảm, họ chịu tác động bởi tình cảm khá là nhiều, bị
cảm xúc chi phối. Khi họ làm một việc gì đó họ thường chỉn chu và cầu toàn trong
trong công việc, hay lo sợ phập phồng kết quả xấu trong công việc, họ thường
quan tâm đến người khác nghĩ gì sau đó mới quyết định có làm hay không, họ
thích thì có thể làm rất là tốt, không thích thì buông xuôi rất là nhanh, họ không có
khả năng bám sát mục tiêu giống như những người có tính cách Ý CHÍ. Những
người có tính cách tình cảm rất cần sự động viên, khen ngợi từ những người khác.
1.2.3. Dạng vân R
Những người có dạng vân tay này thường có tính cách TRÁI NGƯỢC, hay
còn gọi KHÁC BIỆT. Những người này thường được gán những NHÃN như là
nổi loạn, lập dị, quái dị, cá biệt,... vì họ sỡ hữu những cách suy nghĩ rất độc đáo, họ
thường nhìn nhận vấn đề không giống những người bình thường. Họ thích làm mọi
việc với suy nghĩ đối lập, hay phán đoán, thường sử dụng cách đánh giá, lập luận
sinh nên thường gán cho nó với nhãn là lập dị, cá biệt, là không giống ai. Nhưng
khi giáo viên hiểu ra rồi, thay vì một tư duy tiêu cực như vậy thì giáo viên nên có
tư duy tích cực rằng học sinh này có một tính cách, tư duy khác biệt và học sinh
này hoàn toàn có một khả năng thành công hơn các bạn khác trong tương lai, bởi vì
thế giới hiện nay của chúng ta đang đòi hỏi sự khác biệt. Do đó chỉ cần có phương
pháp phù hợp với từng tính cách thì khả năng thành công của học sinh sẽ rất cao.
1.3.2. Chọn từ khóa phù hợp
Với một loại tính cách giáo viên cần tìm một từ khóa sao cho nó phù hợp
nhất để tác động, đối xử với học sinh để có thể phát huy được tối đa khả năng của
từng học sinh. Đối với từng loại tính cách giáo việc có thể đưa ra một từ khóa như
sau:
Đối với tính cách Ý CHÍ thì từ khóa cần cung cấp cho nhóm này là
LỰA CHỌN. Đỗi với những học sinh có tính cách này, thì giáo viên hãy cung cấp
cho học sinh sự lựa chọn vì các em thích tự mình ra quyết định, thích tự mình đặt
8
ra mục tiêu cho mình, thường các em không thích sự áp đặt. Cho nên giáo viên cần
phân tích hậu quả của mỗi lựa chọn và để học sinh tự chọn. Giáo viên có thể sử
dụng một số mẫu câu LNP.
- Câu trói buộc đôi: Đây là mẫu câu cung cấp cho học sinh tưởng rằng các
em được lựa chọn nhưng thực ra sự lựa chọn đó được nằm trong chủ ý của giáo
viên. Ví dụ: Em hãy học môn toán hoặc môn văn? Nếu như chúng ta chỉ nói là: em
hãy học bài đi thì có thể em đó sẽ không thích, không có sự lựa chọn cho nên là
thay vì học môn toán, môn văn thì em đó sẽ không học môn nào cả. Nhưng khi
giáo viên nói là em hãy học môn toán hoặc môn văn, thì đó là sự cung cấp sự lựa
chọn và khi đó học sinh sẽ có xu hướng là học một trong hai môn toán hoặc văn.
- Câu hỏi đuôi: Dạng câu hỏi này làm giảm nhẹ các mệnh lệnh mà giáo viên
muốn học sinh thực hiện. Ví dụ thay vì giáo viên bảo: các em hãy học bài đi thì
đây là một mệnh lệnh không hề cho phép học sinh được lựa chọn và nó gây ra sự
9
các em được củng cố những hành vi tích cực, còn khi các em có những biểu hiện
tiêu cực thì giáo viên cần chấn chỉnh kịp thời để các em không sa đà vào các hành
vi tiêu cực. Những học sinh này nếu được giáo dục một cách phù hợp thì các em
hoàn toàn có thể trở thành những chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực khác
nhau.
Thực sự bốn từ khóa này đều cần cho tất cả các em. Tuy nhiên, với từng
nhóm tính cách một thì tầm quan trọng của mỗi từ khóa sẽ nặng hơn một chút
Với những em mà mỗi ngón tay có một loại vân khác nhau thì người ta gọi
đây là tính cách HỖN HỢP và chúng ta nhớ là tay phải thì do não trái chỉ đạo và
nó thể hiện tính cách bên trong, còn tay trái do não phải chỉ đạo, nó thể hiện tính
cách bộc lộ bên ngoài. Ví dụ một em có tính cách tay phải là Ý CHÍ và tay trái là
TÍNH CẢM thì những em đó bên ngoài tỏ ra khá tình cảm, thư sinh, yểu điểu,…
nhưng bên trong thì là người có ý chí, có khả năng theo đuổi mục tiêu.
Tóm lại, khi người giáo viên hiểu được tính cách bẩm sinh của một học sinh
thì sẽ tạo ra được môi trường phù hợp cho từng nhóm học sinh cũng như là lựa
chọn được những biện pháp giáo dục hiệu quả .
2. Học sinh thông minh theo cách nào?
Tại sao có những học sinh rất là ngoan, luôn tập trung ngồi học, trong khi đó
có những học sinh luôn luôn nghịch ngợm, hay vận động làm cho giáo viên rất là
đau đầu. Rất nhiều giáo viên thường có biểu hiện là so sánh học sinh này với học
sinh khác. Tại sao em này lại không ngoan như em khác, tại sao em này không
chịu học hành chăm chỉ, nghiêm túc như học sinh kia. Vậy thì vấn đề nằm ở đâu?
Cách mà giáo viên đối xử, so sánh giữa học sinh này với học sinh kia thì liệu như
vậy đã công bằng đối với học sinh chưa?
2.1. Học sinh như thế nào được xem là thông minh
Theo bạn thì một học sinh được gọi là thông minh, nó sẽ biểu hiện ra bên
ngoài như thế nào? Thông thường, chúng ta thường đánh giá theo một số tiêu chí
Howard Gardner có giới thiệu và cho rằng là con người chúng ta không chỉ là có
trí thông minh về lôgic cũng như là trí thông minh về ngôn ngữ mà mỗi một người
chúng ta thì có cả tám loại hình trí thông minh chứ không phải là một, hai loại.
Tám loại hình trí thông minh theo Howard Gardner đó là: Trí thông minh về hình
ảnh, tự nhiên, ngôn ngữ, logic, nội tâm, vân động, giao tiếp, và âm nhạc.
2.2. Các loại hình trí thông minh
2.2.1. Trí thông minh hình tượng
Loại hình trí thông minh này liên quan đến khả năng đánh giá hình ảnh,
không gian. Những người có trí thông minh hình tượng thì thường họ có một trí
nhớ hình tượng rất tốt, họ có khả năng định hướng, định vị trong không gian tốt,
những người này có khả năng nhớ đường và định vị đường phố rất tốt; Có thiên
hướng nghệ thuật, học qua hình ảnh rất tốt. Những người này thường phù hợp với
một số nghề nghiệp như là: Kiến trúc, quy hoạch đô thị, họa sĩ, nhiếp ảnh, thuyền
trưởng, phi công, … Những học sinh này có thể ở tuổi nhỏ, thường học không
được giỏi lắm, bởi vì những học sinh có trí thông minh hình tượng khi mà học thì
các em thường tư duy theo không gian ba chiều, cho nên rất là dễ có những trường
hợp các em nhầm dấu, ví dụ như dấu huyền và dấu sắc. Nhưng trí thông minh hình
tượng thường là của những bậc thiên tài, ví dụ như là Leonardo di ser Piero da
Vinci (Lê-ô-na đờ Vanh-xi), Albert Einstein (Anhxtanh),… đều là những người có
trí thông minh hình tượng, khả năng tưởng tượng của họ rất tốt. Nhờ có những khả
năng này mà họ có những khám phá, phát minh rất lớn cho nhân loại.
2.2.2. Trí thông minh ngôn ngữ
Những người có trí thông minh ngôn ngữ là những người có khả năng sử
dụng ngôn từ rất tốt trong văn nói và văn viết; có khả năng đọc, viết, ghi nhớ từ
vững rất tốt; khả năng giảng giải, hùng biện. Thường họ thích học thông qua việc
11
đọc, ghi chép, nghe giảng, tranh luận. Những người này thường phù hợp với những
nghề: nhà văn, luật sư, nhà báo, biên tập viên, giáo viên, tư vấn,
thu mình lại để suy nghĩ, suy nghiễm về bản thân của mình. Họ thích làm việc một
mình và họ thường có độ tập trung, cầu toàn cao khi họ làm việc. Họ thường thiên
về lĩnh vực tư tưởng học, thích chiêm nghiễm. Do vậy nghề nghiệp phù hợp là
nghề bác sĩ tâm lí, tư vấn, giáo viên,…
2.2.7. Trí thông minh giao tiếp
Đây là loại hình có khả năng giao tiếp, khả năng tương tác với người khác
rất tốt. Họ có xu hướng là hướng ngoại, nhảy cảm với động cơ, cảm xúc của người
khác. Những người này rất hòa đồng, thân thiện nên có khả năng hợp tác, làm việc
nhóm rất tốt. Những người này học tốt nhất thông qua việc học nhóm, học qua trao
12
đổi, thảo luận, tranh luận,.. Thường phù hợp với những ngành nghề như là chính trị
gia, ngoại giao, giáo viên, nhân viên bán hàng,…
2.2.8. Trí thông minh vận động
Loại hình này liên quan đến khả năng vận động và thực hiện công việc bằng
tay chân. Họ thích chơi thể thao, khiêu vũ,... Họ có khả năng phối hợp cơ thể như
là chân, tay rất tốt. Họ có mức năng lượng rất cao, sức bền tốt. Chính vì thế những
người có trí thông minh này thường ngứa ngoáy không yên, ví dụ như trong lớp
các em thường xoay bút liên tục, hoặc chân thì cứ rung lên, thỉnh thoảng thì nhấp
nha, nhấp nhổm,… Những người này thích học thông qua các hoạt động vận động.
Do vậy mà bắt những em này ngồi im một chỗ, học theo kiểu nghe giảng thì là một
việc khá khó khăn cho các em. Những người này thường phù hợp với những nghề
như là vận động viên, giáo viên thể dục, diễn viên múa, lái xe, thợ cơ khí,…
2.3. Hiểu về các loại hình thông minh có ý nghĩ gì?
Với thuyết đa trí tuệ, nó cho phép mình có thể hiểu rằng mỗi một người thì
đều có đầy đủ tám loại hình trí thông minh. Tuy nhiên, tỉ lệ của từng trí thông minh
thì không giống nhau ở mỗi người. Khi mà chúng ta đã hiểu về tám loại hình trí
thông minh này thì ý nghĩa lớn nhất của nó cho giáo dục, đó là chúng ta có thể
đánh giá một cách công bằng về mỗi học sinh, chúng ta nên coi trọng mỗi loại hình
hiện nay chỉ là khập khiểng và khi chúng ta đánh giá một học sinh thì chúng ta hãy
thực sự công bằng, chúng ta hãy nhìn một cách toàn diện để phát huy được đối đa
những sở trường của học sinh.
3. Học sinh thích học theo phong cách học nào?
Tại có những học sinh có thể ngồi học rất là nghiêm túc trên lớp, chăm chú
nghe giảng bài và khi giáo viên giảng dạy, hướng dẫn một vài lần thì các em có thể
làm bài được. Nhưng cũng có những học sinh thì học rất là mất tập trung, hay nói
chuyện, cứ 5 phút, 10 phút thì lại đứng lên, đi lại, vừa đi vừa học, vừa đi vừa lẩm
bẩm,… làm cho giáo viên cảm thấy rất là khó chịu, sốt ruột vì cách học của học
sinh. Nhưng thực sự thì mỗi một đứa trẻ sinh ra thì đều có những tính cách bẩm
sinh, và chính những tính cách bẩm sinh đó, nó quy định rất nhiều thứ trong đó có
phong cách học của mỗi một con người.
Bạn thường học dễ nhất bằng cách nào? Học sinh của bạn thường học dễ
nhất bằng cách nào?
Theo những nhà nghiên cứu trên thế giới thì mỗi một người học đều có các
cách học khác nhau và người ta đã tổng kết là thông thường, thì con người thường
có bốn kiểu học chính liên quan đến những việc tiếp nhận những kênh thông tin
của họ. Họ sử dụng chính là kệnh nào? Người ta gọi là phong cách học (Learning
Style)
3.1. Học qua quan sát (VISUAL)
Khi dạy cho học sinh thuộc cách học này thì giáo viên hãy sử dụng nhiều
thông tin liên quan đến việc các em có thể quan sát được, ví dụ như sử dụng hình
ảnh, video, biểu đồ,.... Hoặc khi giáo viên giảng thay vì chỉ sử dụng lời nói thì hãy
kết hợp vừa giảng vừa vẽ hình minh họa cho lời giảng hoặc hướng dẫn học sinh sử
dụng các flash card, bút màu để gạch, tạo ra những màu sắc trên trang vở, mỗi loại
màu như vậy cũng liên quan đến hình ảnh. Vì thế học sinh có thể học bài tốt hơn.
Hoặc giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thay vì viết thì hãy ghi chú lại bài học
bằng cách là vẽ hình, sử dụng các biểu tượng để ghi chú, hoặc hướng dẫn học sinh
ghi chú bằng sơ đồ tư duy
Những học sinh học theo phong cách này thường nói: Em thấy rồi. Những
đâu các em thường ghi chú lại bằng các từ khóa hoặc gạch đầu dòng. Những bạn
học sinh học theo cách này thường học rất ngoan, chịu khó ghi chép hay cúi đầu
xuống để ghi. Những em này cũng thích học ở nơi yên tĩnh, thích tự nghiên cứu, tự
mình chiêm nghiễm hơn là tham gia vào hoạt động nhóm.
Giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh cách ghi chú lại sao cho tốt nhất và
có thể yêu cầu các em diễn đạt lại những điều các em học được bằng chính ngôn từ
của mình, có thể bằng ngôn ngữ nói hoặc viết; Hướng dẫn cho các em cách viết và
đọc lại từ khóa, gạch chân vào những từ khóa.
3.4. Học qua hành động (KINESTHETIC)
Đây là cách học liên quan rất nhiều đến trí thông minh vận động, những em
này thường có trí thông minh về vận động rất cao và thông minh về giao tiếp cũng
rất tốt. Các em thường học tốt nhất thông qua việc vận động, làm, sờ, chạm vào đồ
vật. Nghĩa là các em này sử dụng giác quan xúc giác rất nhiều. Những em này rất
thích thử nghiệm những cái mới, thích các quyển sách có liên quan đến phiêu lưu
hành động. Để cho những em này ngồi yên một chỗ thì rất là khó vì những em này
có rất nhiều năng lượng. Thường thì các em diễn đạt bằng lời rất khó và trong quá
trình diễn đạt bằng lời thì các em sử dụng rất nhiều các ngôn ngữ cử chỉ. Đặc biệt
những em này thích tham gia các hoạt động trò chơi.
Giáo viên cần tôn trọng cách học của những em này, không thể bắt các em
thay đổi cách học của mình được. Do vậy nên để các em học trong khoảng thời
gian ngắn, nên chia nhỏ quá trình học thành các khoảng thời gian và tránh cho các
em ngồi lâu một chỗ. Nên cho các em tham gia vào các hoạt động nhiều hơn ví dụ
như là hoạt động nhóm, hoạt động thực hành. Có thể có các em học bằng cách là
vừa đi lại, vừa vận động và vừa học bài chứ không nhất thiết là phải ngồi ở một cái
15
bàn mới gọi là học. Nghĩa là các em có thể vừa đi đi lại lại, vừa đi vừa lẩm nhẩm
học cũng được hoặc chạy một vòng xung quanh sân, vừa chạy vừa học. Đối với
những em này nên hạn chế việc giảng dạy, tốt nhất là giáo viên làm mẫu rồi để các
Cứ liên tục thực hiện các biện pháp gây hứng thú trong các giờ học cho các em đến
cuối năm học thì kết quả lại càng đáng mừng hơn.
Cuối năm học lớp 9/3 (thuộc nhóm đối chứng) vẫn còn hiện tượng học sinh
làm việc riêng trong giờ, số lượng học sinh xây dựng bài không cao hơn thời điểm
trước là bao, nhưng lớp 9/2 đã không còn học sinh nào ngủ gật hoặc vắng học, số
học sinh thuộc bài cũ tăng lên nhanh, số học sinh tham gia các hoạt động học, đóng
góp xây dựng bài khoảng gần như cả lớp, đặc biệt căn cứ vào kết quả kiểm tra
đánh giá chất lượng cuối kì thì sự phân hóa về tỉ lệ điểm khá, giỏi ở hai lớp càng có
sự chênh lệch rõ ràng. Để minh chứng cho điều đó ta có thể theo dõi các tổng hợp
sau đây:
16
Bảng. Kết quả thu được sau thực nghiệm tính đến hết học kỳ 1
Thời điểm
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
Nhóm đối
chứng
Nhóm
thực
nghiệm
Nhóm đối
chứng
8-10
Số HS xây dựng bài trong
giờ
3
3
5
9
Số HS đạt điểm giỏi
5
7
10
18
Số HS đạt điểm khá
10
10
Đối với BGH nhà trường
- Tổ chức các buổi tập huấn về tâm sinh lí, về khả năng vốn có của học sinh
cho giáo viên
- Cần có những cơ chế khen thưởng cho những giáo viên giỏi, có những
phương pháp dạy học tích cực
Đối với giáo viên
- Cần có kiến thức sâu rộng không chỉ về chuyên môn mà về tính cách, khả
năng bẩm sinh của học sinh
- Cần quan tâm, thấu hiểu, đến từng nhóm đối tượng học sinh
- Cần trang bị những kĩ năng sư phạm, phải chủ động và sáng tạo để có
những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh
- Cần tôn trọng những tích cách, phong cách học của học sinh
17
VI.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Khánh Ngọc. Chương trình dạy học tích cực
http://dayhoctichcuc.com/
2. Howard Gardner. Thuyết đa trí tuệ
http://geniusprint.vn/san-pham/91-thuyet-da-thong-minh-cua-howardgardner.html
3. Hướng dẫn xem tính cách qua dấu vân tay
http://dayconthanhtai.com/huong-dan-xem-tinh-cach-qua-dau-van-tay.html
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)