NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA VỎ RỄ CÂY CHÙM RUỘT Ở TP ĐÀ NẴNG BẰNG HỆ DUNG MÔI ETHANOL NƯỚC - Pdf 43

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
---------------

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA VỎ RỄ CÂY CHÙM RUỘT Ở TP ĐÀ NẴNG BẰNG HỆ
DUNG MÔI ETHANOL - NƯỚC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN HOÁ HỌC

Đà Nẵng - Năm 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


KHOA HOÁ
NHIỆM VỤ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Lớp: 12CHD
1. Tên đề tài: “Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hoá học của vỏ rễ

cây chùm ruột ở TP Đà Nẵng bằng hệ dung môi Ethanol – Nước”.
2. Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị
• Nguyên liệu: Vỏ rễ cây chùm ruột được lấy ở Liên Chiểu – Đà Nẵng
tháng 7 năm 2015.
• Hoá chất: Ethanol, Hexan, Benzene, Ethyl acetace (Trung Quốc).
• Dụng cụ, thiết bị:
Các dụng cụ: Bộ chưng ninh, bếp cất thuỷ, bình tam giác có nút nhám,
bình cầu, cốc thuỷ tinh, pipet, bình định mức,…


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn các Thầy cô trong khoa Hoá-Trường
ĐH Sư Phạm Đà Nẵng đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và nhiều kinh
nghiệm quý báu trong suốt thời gian em theo học tại trường.
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành khoá luận với lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy Trần Mạnh Lục – Người thầy đầy tâm huyết đã
trực tiếp truyền thu, hướng dẫn cho em những kiến thức từ ngày mới làm quen
ngành học, cho đến khi em học tập, nghiên cứu và hoàn thành bài khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy !
Em xin cảm ơn các thầy cô quản lý phòng thí nghiệm đã tạo điều kiện cho
em trong suốt quá trình làm thí nghiệm.
Trong quá trình làm khoá luận không tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận
được những ý kiến đóng góp, bổ sung của thầy cô để em thu nhận thêm nhiều kiến
thức và kinh nghiệm cho bản thân sau này.
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô sức khoẻ, hạnh phúc và thành công
trong cuộc sống cũng như sự nghiệp giảng dạy của mình. Em xin chân thành cảm
ơn.
Đà Nẵng, ngày 12 tháng 4 năm 2016
Sinh viên


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
3.1
3.2
3.3

31
32
33
34
35
36
38
40
42
43


DANH MỤC CÁC HÌNH
Số
hiệu
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
1.6
1.7
1.8

Tên hình

Trang
4
7
7

Thiết bị sắc ký khí khối phổ (GC-MS) Agilent 7890/5975C
Phễu chiết
Sơ đồ nghiên cứu
Bộ chưng ninh vỏ rễ chùm ruột.
Chiết lỏng-lỏng bằng dung môi Hexan.
Chiết lỏng- lỏng bằng dung môi Benzene.
Chiết lỏng-lỏng bằng dung môi Ethyl acetace.
Mẫu đã được tro hoá
Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của độ cồn đến hàm lượng cao chiết.

3.3

Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời gian đến hàm lượng cao chiết.

32

3.4

Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến hàm lượng cao chiết.
Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ rắn – lỏng đến hàm lượng cao
chiết.
Đồ thị biểu diễn số lần chiết.
Sắc ký đồ GC của dịch chiết Ethanol.
Sắc ký đồ GC của dịch chiết Hexan
Sắc ký đồ GC của dịch chiết Benzene
Sắc ký đồ GC của dịch chiết Ethyl acetate

33

2.1


Atomic Absorption Spectrophotometric

GC-MS:

Gas Chromatography Mas Spectrometry

STT: Số thứ tự
ĐH:

Đại học

NSX:

Nhà sản xuất



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề chăm sóc sức khoẻ ngày càng được quan tâm nhưng thực trạng thuốc
tây y hiện nay giả và kém chất lượng tràn lan trên thị trường. Con người có xu
hướng chữa bệnh tìm về “cây nhà lá vườn”. Việt Nam là nước có nguồn Dược liệu
từ thiên nhiên phong phú gồm nhiều loài thuộc nhiều chi họ khác nhau được dùng
để bào chế thuốc chữa bệnh. Trong đó loài cây thuộc chi Phyllanthus, họ
Phyllanthaceae cũng được cho là có nhiều hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, [9]
khả năng trong chữa bệnh sơ nang,[10] bệnh ung thư phổi, [11] chữa trị tổn thương gan,
[12]

giảm mở máu và mở trong gan. [13] Cây chùm ruột có tên khoa học là Phyllanthus

- Xác định các thông số hoá lý của vỏ rễ cây chùm ruột.
- Tìm hiểu các điều kiện chiết tách thích hợp các chất trong vỏ rễ cây chùm ruột.
- Định danh, xác định thành phần hoá học của một số dịch chiết từ vỏ rễ cây
chùm ruột.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Thu thập, tổng hợp, phân tích các tài liệu, tư liệu về nguồn nguyên liệu,
thành phần hóa học và ứng dụng của cây chùm ruột.
+ Tổng hợp tài liệu về phương pháp lấy mẫu, chiết tách và xác định thành
phần hóa học các chất từ thực vật.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
+ Xác định độ ẩm, hàm lượng tro bằng phương pháp trọng lượng.
+ Xác định hàm lượng kim loại nặng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ
nguyên tử.
+ Chiết tách các chất bằng các dung môi khác nhau theo phương pháp chiết
lỏng- lỏng và chiết chưng ninh.
+ Dùng phương pháp GC-MS để định danh các chất trong các dịch chiết.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu trong công trình này sẽ góp phần cung cấp các
thông tin có ý nghĩa khoa học về thành phần được chiết tách từ loài Phyllanthus
acidus và qua đó góp phần nâng cao giá trị ứng dụng của chúng trong ngành dược.
5. Bố cục bài nghiên cứu khoa học
Bài nghiên cứu khoa học có cấu trúc như sau:

11


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
CHƯƠNG 2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Lớp (class)

Hai lá mầm thật (Eudicots)

Phân lớp (subclass)

Hoa hồng (Rosids)

Bộ (ordo)

Sơ ri (Malpighiales)

Họ (familia)

Diệp hạ châu (Phyllanthaceae)

Tông (tribus)

Diệp hạ châu (Phyllantheae)

Phân tông (subtribus)

Flueggeinae

Chi (genus)

Diệp hạ châu (Phyllanthus)

Loài (species)


chùm ruột, đó là:
- Chùm ruột ngọt (ít chua): được dùng để ăn chơi, làm mứt.
- Chùm ruột chua: được dùng để làm mứt và lấy chất chua nấu canh. [18]
1.1.3. Điều kiện sinh trưởng, phát triển
Cây chùm ruột thích hợp trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Là loài cây
có sức chịu đựng cao, cây có thể sống ở vùng lạnh và độ cao trên 1000m. Cây chùm

14


ruột được trồng trên loài đất khác nhau, trừ đất sét trộn ít hay nhiều cát. Cây chỉ
thích hợp ở những nơi có nhiều ánh nắng, trừ những vùng đất nóng. Trong qua trình
trồng cần phải thường xuyên làm cỏ, tưới nước đều đặn. Nếu đất quá khô cây sẽ
kém phát triển, quả bị tông teo và rụng sớm. Sau mỗi đợt hái trái và tỉa cây cần bón
thêm phân nhằm tạo điều kiện cho cây nhanh chóng phục hồi, bù đắp dinh dưỡng,
đảm bảo cho đợt ra cành và ra hoa mới.
Chùm ruột thường ra hoa vào tháng 3-5 và cho quả vào tháng 6-8 là vụ
chính. Ngoài ra còn có những vụ trái mùa, tuỳ theo mà có thời điểm thu hoạch khác
nhau. Ở Ấn Độ cho quả vào hai vụ chính xác vào từ tháng 4-5 và 8-9. Lúc trái chùm
ruột còn non thì có màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng-xanh nhạt hoặc trắng.
Lúc này các rãnh quả cạn hơn có múi to hơn, đây là thời điểm thu hoạch tốt nhất.
Trái chùm ruột thường được thu hoạch thủ công.
Trái chùm ruột được bảo quản ở nhiệt độ 20- 25 0C với độ ẩm tương đối là
85-90%. Nếu bảo quản ở nhiệt độ cao hơn thì chất lượng trái sẽ giảm nhanh chóng.
Đựng trái trong túi polyethylene kín, không có lỗ ở nhiệt độ 23 0C sẽ giữ được trong
hai tuần. [19]
1.1.4. Đặc điểm hình thái thực vật
 Thân cây chùm ruột
Thân chùm ruột là loại thân gỗ lớn, đạt chiều cao trung bình 4-6m, cây cao
nhất có thể đạt đến 10m. Có tán rộng và hoa màu hồng rất đẹp, thường được trồng

thân, có vỏ từ màu xanh non đến vàng nhạt và mờ đục như sáp. Hình dáng và hương
vị của trái tùy thuộc vào giống. Vị chùm ruột giòn và rất chua, do đó thường được
tiêu thụ dưới dạng mứt. [18]

.
Hình 1.6. Quả chùm ruột. (Nguồn: )
 Nhân chùm ruột
Nhân, 1 hột, có 3-6 khía tròn và rất cứng như đá ở trung tâm, mỗi hột chứa 4
đến 6 hạt. [20]
 Hạt chùm ruột
Hạt cứng, to, nằm ở trung tâm của quả. Mỗi quả chỉ có 1 hạt. [18]
1.2. Thành phần hoá học
 Vỏ thân cây chùm ruột Phyllanthus acidus [ L.] Skeels và lá cây có

chứa: Saponine, Flavonoide, tannin, polyphenol.[20]
Saponine là một glycoside phân bố khá phổ biến trong thực vật, có một sô
tính chất đặc trưng, khi hoà tan vào nước sẽ có tác dụng giảm sức căng bề mặt của
dung dịch và tạo nhiều bọt, saponine làm vở hồng cầu còn được gọi là tính phá

17


huyết. Nó thường ở dạng vô định hình, có vị đắng. Chất này rất khó tinh chế, có
điểm nóng chảy thường cao từ 2000C trở lên và có thể cao hơn 300 0C. Người ta chia
saponine thành hai nhóm lớn là saponine triterpenoid và saponine sterol.
Flavonoid là những hợp chất màu phenol thực vật, tạo nên màu cho rất nhiều
rau, củ, quả, hoa,… Phần lớn các flavonoid có màu vàng (do từ flavus là màu vàng),
tuy vậy một số săc tố có màu xanh, tím , đỏ, không màu cũng được xếp vào nhóm
này vì về mặt hoá học chúng có chung khung cơ bản.
Tanin là nhóm hợp chất polyphenol phân bố rộng rãi trong họ thực vật. Các

Ngoài ra, từ cao hexan của rễ cây chùm ruột tại Bình Thuận đã cô lập được
hai hợp chất.[24]

Hình 1.8. Cấu trúc hoá học của một số chất trong rễ và vỏ rễ chùm ruôt.
1.3. Một số ứng dụng của cây chùm ruột.
 Trong đời sống

Quả chùm ruột có vị chua, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, bổ gan, bổ máu. [21]
Quả dùng trong các món gỏi, làm nước uống, nước xốt hay làm mứt hay
ngâm rượu. Khi nấu ở nhiệt độ cao sẽ chuyển sang màu đỏ rất đẹp. [20]
Quả chùm ruột (ngọt hoặc chua) đượng ngâm vói đường cát, trong và tuần
nó tự lên men thành loại rượu chùm ruột dùng để khai vị rất tốt, có tác dụng bổ
dưỡng và vị thuốc kích thích tiêu hóa. Các làm cụ thể như sau:
Nguyên liệu:
1. Chùm ruột: 0.5 kg, lựa quả to không bị dập.
2. Đường cát trắng: khoảng 1 kg (chuẩn bị dư ra 1 chút cũng không sao).
3. Muối: 1 muỗng
4. 1 cái hủ (nhựa hoặc thủy tinh) dùng để ngâm
Chuẩn bị:
Chùm ruột rửa sạch để ráo nước, rửa sạch hủ dùng để ngâm, lau khô.
Thực hiện:
1. Cho 1 lớp đường khoảng 0.5 cm dưới đáy hủ.
2. Cho chùm ruột vào, xếp theo lớp.
3. Cứ như vậy lần lượt 1 lớp đường xen kẽ 1 lớp chùm ruột đến khi đầy bình.
4. Cho 1 muỗng muối vào
5. Đậy chặt bình, để khoảng 1 tuần là có thể uống được.
19


6. Khi uống, ta có thể uống với đá, sẽ có cảm giác mát lạnh nồng nồng của men.

Dưỡng da bạn gái và phụ nữ: Ăn khoảng 200 gr quả chùm ruột mỗi ngày,
nhất là khi trời nắng nóng. (Theo BS CKI YHCT -CKDD Phạm Hồng Nga - Bác sĩ
gia đình). [22]

20


-Các vị thuốc từ lá cây chùm ruột:
Lá chùm ruột có tính nóng, rễ độc, có tác dụng làm tan ứ huyết, tiêu độc, tiêu
đờm, sát trùng, đặc biệt chống độc đối với nọc độc rắn.
Lá cây chùm ruột dùng để đun nước tắm chữa lở, nổi mề đay và các bệnh
ngoài da khác.
Lá chùm ruột tươi giã nát cùng hồ tiêu rồi đắp vào chỗ đau chữa đau nhức.
Lá cây chùm ruột dùng để đun nước tắm chữa lở, nổi mề đay và các bệnh
ngoài da khác.
-Các vị thuốc từ quả, hạt cây chùm ruột:
Quả chùm ruột có vị chua, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, bổ gan, bổ máu.
Hạt chùm ruột chữa trị: Chứng táo bón và buồn nôn với nguyên nhân dạ dày
dơ bẩn nhiều tạp chất.
-Các vị thuốc từ vỏ thân cây chùm ruột:
Vỏ thân cây có khả năng tiêu hạch độc, ung nhọt, tiêu độc, sát trùng, trừ tích
ở phế, đặc biệt là chống độc đối với nọc rắn.
Rượu ngâm vỏ thân cây nhỏ vào tai chữa thối tai tiêu mủ, bôi chữa ghẻ, loét,
vết thương chảy máu ngoài da, ngậm chữa đau răng, đau họng. Ngoài ra, bột vỏ
thân ngâm dấm còn chữa được bệnh trĩ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh.
Cách làm rượu vỏ chùm ruột như sau: Phơi khô vỏ thân cây, tán thành bột
mịn. Rượu trắng nồng độ cao, cứ 200gr bột ngâm với 1lít rượu để trong 10 ngày là
sử dụng được.
-Các vị thuốc từ rể cây chùm ruột:
Rễ cây chùm ruột có tính nóng, độc, có tác dụng làm tan ứ huyết, tiêu độc,

scorbut (một bệnh do thiếu hụt vitamin C).
Các nghiên cứu ở Ấn Độ cho biết trong quả chùm ruột (P. acidus) có chứa 4hydroxybenzoic axit, axit caffeic, adenosine, kaempferol andhypogallic acid. Các
chất này có tác dụng thanh lọc và bổ gan.
Chùm ruột được Tây y xác định là có tác dụng giải độc, là một trong những
loại thực vật được đưa vào chương trình giải độc cơ thể, trị các bệnh về da. [18,20,21,22]
1.4. Một số nghiên cứu về chùm ruột
► Những nghiên cứu khoa học được thực hiện với Cây Chùm ruột
Cicca acida (Phyllanthus acidus)

22




Hiệu quả bảo vệ gan hépatoprotecteur: Các nghiên cứu chứng minh rằng dịch
chiết quả chùm ruột có hepatoprotective đáng kể, chống lại nhiễm độc gan
cấp tính gây bởi CCl4 ở chuột và có đặc tính chống oxy hoá (Lee và al. ,

2006). [14]
• Hơn 35 loài của chi Phyllanthus đã được báo cáo là loài đặc hiệu của Ấn Độ,
được sử dụng chủ yếu như một phương thuốc chữa bệnh gan.[15,16]
• Quả chùm ruột đã được báo cáo là một nguồn phong phú giàu acid ascorbic,
chất xơ và carotene.[17]
• Hoạt động chống loài tuyến trùng: Cây Chùm ruột Phyllanthus acidus cho


thấy một hoạt động mạnh chống loài tuyến trùng. (Muhammad và al., 1997).
Loại bỏ các Brill Red 5B từ một dung dịch tan trong nước bằng cách dùng

sinh khối cây Chùm ruột Phyllenthus acidus biomasse. (Karthik và al., 2009).



(a)

(b)

(c)
(d)
Hình 2.1. (a). Rễ, (b). Vỏ rễ trước khi phơi, (c). vỏ rễ sau khi phơi,
(d). Bột vỏ rễ.
2.2. Hóa chất và thiết bị
* Hóa chất: Benzene, Ethyl acetace, Hexan, Ethanol (PA Trung Quốc).
* Thiết bị: Bộ chiết chưng ninh, bếp cách thủy, tủ sấy, lò nung, cân phân tích,
máy đo sắc ký khí kết hợp với phổ khối GC-MS (Trung tâm đo lường chất lượng II,
Đà Nẵng).
Thiết bị phân tích:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status