TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG
TRONG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, hệ thống nghiên cứu về động
lực tăng trưởng ở các nước ngày càng hoàn thiện. Mặc dù còn tồn tại nhiều quan
điểm đối lập về tính chất và mức độ tác động, nhưng nghiên cứu đa số thống
nhất với nhau về các yếu tố có tác động đáng kể nhất. Các yếu tố đó có thể được
chỉ ra thông qua hàm sản xuất và hàm tiêu dùng, đây là hai cách tiếp cận được
các nhà nghiên cứu thường xuyên lựa chọn. Theo đó, nội dung trình bày trong
bài sẽ lần lượt đề cập tới hai cách tiếp cận này cùng với những yếu tố tác động
tới tăng trưởng kinh tế.
1. Xét từ khía cạnh hàm sản xuất
1.1. Các động lực tăng trường kinh tế từ mô hình lý thuyết
Nhìn nhận từ phía hàm sản xuất, Adam Smith khẳng định vai trò của lao
động trong việc tạo ra giá trị sản lượng, chứ không phải của cải hay tiền bạc
(học thuyết giá trị lao động). Tuy nhiên, không đồng tình với quan điểm trên,
David Ricardo cho rằng, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới tăng trưởng là đất đai,
lao động và vốn. Trong đó, đất đai mới là giới hạn của tăng trưởng, tăng trưởng
là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào
chi phí sản xuất lương thực. Điều này có thể giải thích bởi bối cảnh kinh tế, khi
nông nghiệp đang là ngành quan trọng nhất và chi phí sản xuất tất yếu phụ thuộc
vào đất đai.
Sau đó, C.Mác tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của lao động, đất đai
và vốn trong thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài ra, C.Mác còn mở rộng sang yếu tố
tiến bộ kỹ thuật. Theo đó, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khác với giá
trị sử dụng của các loại hàng hóa khác, nó có thể tạo ra giá trị thặng dư. Muốn
tạo ra nhiều giá trị thặng dư cần quan tâm đến tiền lương và tăng năng suất bằng
cách cải tiến kỹ thuật. Bổ sung và phát triển những lý luận trên, Alfred Marshall
xây dựng mô hình tăng trưởng tân cổ điển, được đánh dâu bởi “các nguyên lý
của kinh tế học” năm 1890. Ông tiếp tục khẳng định vai trò của tiến bộ công
nghệ. Mặc dù không phủ nhận vai trò của lao động, nhưng Marshall cho rằng lao
động có thể được thay thế bởi vốn. Từ đây, ông đưa ra hai quan điểm: tăng
Trước hết, về quy mô lao động, Emily (năm 2012) đưa ra giả thiết dân số
đông và nguồn lao động dồi dào vừa là thị trường lớn, vừa kích thích sản xuất,
vừa là đầu vào quan trọng để tăng số lượng sản phẩm. Giả thiết này được kiểm
định với bộ số liệu của Oxtrâylia giai đoạn 1980-2011, tác giả nhận thấy mỗi hệ
thuận chiều giữa gia tăng lao động và tăng trưởng GDP. Ngoài ra, tác giả cũng
2
đưa ra những tín hiệu cảnh báo về tác động ngoài dự kiến của chính sách khi
tăng trưởng dựa vào số lượng lao động. Cụ thể là nêu không cải thiện năng suất
lao động, chi phí tiền lương sẽ tăng lên nêu tăng trưởng dựa nhiều vào số lượng
lao động và sử dụng sức người để thay thế vốn.
Về chất lượng lao động, Schultz (năm 1961) cho rằng, giáo dục cũng là đầu
vào của tăng trưởng kinh tế, chứ không đơn thuần là kết quả đầu ra của một quá
trình tăng trưởng. Bảo vệ quan điểm này, ông tìm hiểu và nhận thấy một lợi ích
tương đối lớn cho xã hội khi đầu tư phát triển con người. Trước đó, Griliches
(năm 1957) cũng đã từng thử nghiệm thêm biến giáo dục vào hàm sản xuất mở
rộng và ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp Hoa Kỳ. Griliches tìm thây tác
động tích cực của giáo dục đối với tăng trưởng sản lượng nông nghiệp trong
khoảng thời gian nghiên cứu. Gần đây, Kiani (năm 2010) nghiên cứu ảnh hưởng
của giáo dục vào tăng trưởng kinh tế của Pakixtan. Kết quả là, cứ gia tăng 1% tỷ
lệ nhập học tiểu học trên tổng số lao động thì GDP thực tế sẽ tăng lên 2,67%, và
tỷ lệ này là 2,8% tăng trưởng kinh tế nếu tăng thêm 1% tỷ lệ nhập học trung học.
Các kết quả nghiên cứu trên là những bằng chứng rõ ràng cho sự nhạy cảm của
tăng trưởng kinh tế khi các chỉ số giáo dục thay đổi.
Bên cạnh yếu tố giáo dục, gần đây, ảnh hưởng của sức khỏe đến tăng
trưởng kinh tế cũng là một chủ đề được quan tâm nhiều. Grossman (năm 1972)
cho rằng, sức khoẻ không những là nhân tố sản xuất mà nó còn ảnh hưởng tới
phúc lợi cá nhân, bởi sức khỏe không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của
người lao động mà còn liên quan tới nguồn lực và năng suất lao động của người
cho thấy hiệu ứng tích cực của TFP với tăng trưởng kinh tế.
2. Xét từ khía cạnh hàm tiêu dùng
Khi tiếp cận cách tính toán GDP từ khía cạnh tiêu dùng, chúng ta đề cập tới
các khoản chi tiêu của các chủ thế trong nền kinh tế. Cụ thể, các khoản chi này
bao gồm tiêu dùng của hộ gia đình, chi đầu tư của doanh nghiệp, chi tiêu công
của chính phủ và xuất khẩu ròng. Lý thuyết cho rằng, việc gia tăng các khoản
chi có tác động to lớn tới kích thích sự tăng lên của tổng cầu, từ đó thúc đẩy sản
lượng của nền kinh tế. Đáng lưu ý trong đó là khoản chi tiêu công của chính
phủ. Để tài trợ cho nó, chính phủ phải có nguồn thu, chủ yếu từ các khoản thuế
phí và lệ phí đánh vào tiêu dùng và thu nhập của cá nhân và doanh nghiệp trong
nền kinh tế. Một mặt, chi tiêu công có tác động kích cầu; mặt khác, nó lại tạo ra
gánh nặng đối với các chủ thể trong nền kinh tế. Do đó, điều chỉnh chi tiêu công
và điều chỉnh các khoản thu (cân đối ngân sách nhà nước) sẽ ảnh hưởng lớn tới
chi tiêu của các chủ thế còn lại trong nền kinh tế và động lực của sản xuất, từ đó
ảnh hưởng tới tăng trưởng của nền kinh tế.
4
- Tiêu dùng hộ gia đình
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, gia tăng tiêu dùng sẽ góp phần cho
tăng trưởng kinh tế. Ví dụ, trong nghiên cứu của Duesenberry (năm 1949) và
Veblen (năm 1899), các tác giả cho rằng, tăng tiêu dùng làm giảm tiết kiệm, do
đó làm tăng sản lượng. Tuy nhiên, trái lại với quan điểm trên, Harbaugh (năm
1996) không cho rằng tiêu dùng có lợi cho nền kinh tế, bởi nó làm cho tiết kiệm
tăng lên. Có vẻ hơi khó hiểu nhưng, ông giải thích rằng: cùng với mức tăng của
thu nhập, nhu cầu tiết kiệm của mỗi cá nhân sẽ tăng lên, có thể là để phòng ngừa
cho các nhu cầu tiêu thụ về sau (nghỉ hưu). Điểu này dẫn đến mức độ tiết kiệm
có nguy cơ cao hơn trước, làm giảm đầu tư cho xã hội, từ đó kéo tăng trưởng
kinh tế suy giảm. Còn nghiên cứu của Karim và cộng sự (năm 2010) về mối liên
lưu ý rằng, việc phân tích hồi quy sản lượng của nền kinh tế theo các biến số
thương mại chỉ thể hiện được quan hệ tương quan mà không phải là quan hệ
nhân quả. Nguyên nhân là do các biên độc lập trong mô hình hồi quy, bao gồm
cả các biến số thương mại, thường có sự cộng tuyến ở mức độ nhất định (Lill và
Ronald, năm 2008). Nhìn chung, các nghiên cứu vẫn không thông nhất về ảnh
hưởng của thương mại tới tăng trưởng kinh tế. Ví dụ, Mahdavi và cộng sự (năm
2005) phân tích số liệu của Iran và thây rằng tăng cường giao dịch thương mại
có tác động tích cực đến kinh tế của nước này. Trái lại, Azerbaijan và Shirani
(năm 2009) lại cho thấy thương mại không phải yếu tố thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
Chi tiêu công
Có thể nói rằng, các quan điểm về ảnh hưởng của tổng chi tiêu công tới
tăng trưởng kinh tế là không giống nhau, liên tiếp có sự thay đổi và bổ sung theo
thời gian. Có ba quan điểm chính: (i) Chi tiêu công tỷ lệ thuận với tăng trưởng
kinh tế; (ii) Chi tiêu công tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế; và (iii) Tồn tại
một mức chi tiêu công tối ưu. Vấn đề này sẽ lần lượt được bàn tới từng nội dung
cụ thể như sau:
Chi tiêu công tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế.
Năm 1991, Barro nghiên cứu dữ liệu của nhiều quốc gia trong khoảng thời
gian 1960-1985 để xem xét mối quan hệ giữa tổng chi tiêu công và GDP thực tế.
Ông phát hiện ra tác động tích cực và đáng kể của chi tiêu công với tăng trưởng.
Tuy nhiên, Barro cũng cho rằng, chi tiêu công có thể trở thành nguyên nhân
chính bóp méo thị trường. Do đó, nó không phải là giải pháp lâu dài cho một
nền kinh tế tăng trưởng mạnh. Sau Barro, rất nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã
tìm hiểu về chủ đề này và cho thây tác động tích cực của chi tiêu công đối với
6
tăng trưởng kinh tế: ví dụ như Kelly (năm 1997) với việc phân tích số liệu của
73 quốc gia, giai đoạn 1970-1989; Alexiou (năm 2007) nghiên cứu số liệu của
Primoz và cộng sự (năm 1996) sử dụng dữ liệu bảng để phân tích trường
hợp các nước đang phát triển ở châu Âu giai đoạn 1950-1996. Kết quả nghiên
cứu vẫn chỉ ra một mối liên hệ tích cực giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế
ở các nước này. Giải thích cho nguyên nhân trên, nhóm tác giả cho rằng, các
nước nghiên cứu đang ở giai đoạn đầu của “đường cong chữ U”. Do đó, chi tiêu
chính phủ mang lại nhiều lợi ích thông qua phát triển an sinh xã hội. Tuy nhiên,
các lợi ích này cũng đang phải đối mặt với những đe dọa từ tổn thất hiệu quả do
phân phối lại và tăng thuế cao. Cho nên, một mức chi tiêu công tối ưu được
nhóm tác giả đưa ra gợi ý trong trường hợp này là 36-42% GDP.
Gần đây nhất, Alimi và cộng sự (năm 2014) tiếp tục khẳng định chi tiêu
chính phủ thúc đẩy tăng trưởng ở mức chi tiêu thấp và cản trở mức độ tăng
trưởng nhanh ở mức cao. Nhóm tác giả cũng nỗ lực đi tìm mức tối ưu của chi
tiêu chính phủ thông qua dữ liệu chuỗi thời gian của Nigeria giai đoạn 19702012. Kết quả cũng cho thấy mối quan hệ phi tuyến tính, trong đó chi tiêu tối ưu
của chính phủ được tìm thây là 12,58% GDP thực tế. Các tác giả cho rằng, vượt
qua mức tôi ưu này, chi tiêu nên dựa chủ yếu vào khu vực tư nhân để bảo đảm
thị trường tự do, thúc đẩy kinh tế tiếp tục tăng trưởng.
3. Số liệu và phương pháp
3.1. Số liệu
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ công bố của Ngân
hàng Thế giới (WB), về các chỉ số phát triển thế giới (WDI). Số liệu bao gồm
thông tín về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, chi tiêu công, lực lượng lao
động, vốn đầu tư, xuất khẩu và lạm phát. Số liệu đã được xử lý để có được
khoảng thời gian xem xét dài nhất, 23 năm, từ năm 1990 đến năm 2013. Theo
đó, có 77 quốc gia được quan sát và được chia thành 5 nhóm thu nhập gồm có:
nhóm thu nhập cao (25 nước thuộc OECD), nhóm thu nhập cao (7 nước ngoài
OECD), nhóm thu nhập trung bình cao (19 nước), nhóm thu nhập trung bình
thấp (20 nước), và nhóm thu nhập thâ'p (6 nước) (xem Bảng 1).
Bahamas, The
Belize
Bangladesh
Benin
2
Austria
Equatorial
Bot wana
Bolivia
Burkina
Guinea
Faso
3
Belgium
Macao SAR,
China
Rwanđa
6
Denmark
Uruguay
Colombia
E1
Salvador
Uganda
7
Finland
Venezuela,
RB
Costa Rica
Guatemala
8
France
Ireland
Malaysia
Lesotho
13
Italy
Mauritius
Mauritania
14
Japan
Mexico
Morocco
15
Korea, Rep.
Namibia
Nicaragua
Nonvay
Turkey
Senegal
20
Portugal
21
Spain
22
Sweden
23
Switzerland
24
United
Kingdom
25
9,95
28,06
Nhóm thu nhập cao
ngoài OECD
168
11,20
3,19
2,74
24,93
Nhóm thu nhập trung
bình cao
456
16,43
5,85
7,47
39,88
5,96
2,74
43,48
Tổng
10
Thống kê đơn giản cho thây, tỷ lệ chi tiêu công/GDP thâp nhất trong tất cả
các nước thuộc về Equatorial Guinea với 2,74% trong năm 2005. Tỷ lệ cao nhất
thuộc về Nicaragua với 43,48% trong năm 1990. Xét trung bình ở các nhóm
quốc gia, tỷ lệ chi tiêu công/GDP cao nhất là ở nhóm thu nhập cao thuộc OECD
vói khoảng 18,86%, tiêp theo lần lượt là nhóm thu nhập trung bình cao
(16,43%), nhóm thu nhập trung bình thâp (13,07%), nhóm thu nhập thấp
(13,62%) và cuối cùng là nhóm thu nhập cao ngoài OECD với 1,2% (xem Bảng
2).
Bảng 3. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ở 05 nhóm quốc gia
Đơn vị: %
Số quan
sát
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Nhóm thu nhập
trung bình cao
456
4,14
4,06
-14,88
18,67
Nhóm thu nhập
trung bình thấp
480
4,08
3,29
-13,13
33,74
Nhóm thu nhập
thấp
144
Như vậy, thứ hạng giữa các nhóm quốc gia cơ bản không có sự xáo trộn nhiều,
ngoại trừ vị trí thứ ba và thứ tư hoán đổi cho nhau. Khác biệt là trật tự được sắp
xếp theo chiều ngược lại, nhóm có tỷ lệ chi tiêu công/GDP càng cao thì tốc độ
tăng trưởng càng thấp.
Một điều đáng chú ý khác là sự khác biệt về mức độ tỷ lệ chi tiêu
công/GDP khá rõ ràng giữa các nhóm quốc gia và nó được duy trì trong suốt
giai đoạn 1990-2013. Liệu rằng tỷ lệ này là một trong những yếu tố liên quan tới
tốc độ tăng trường? Có ít nhất hai lý do có thể được nhắc tới ở đây: một là từ
công thức tính toán, và hai là những tác động của chi tiêu công tới tăng trưởng
kinh tế. Xem xét từ công thức tính, nếu GDP trong năm có sự tăng trưởng vượt
bậc thì tỷ lệ chi tiêu công/GDP trong năm đó có xu hướng giảm so với trước.
Xét từ khía cạnh thực tiễn, đã có khá nhiều nghiên cứu chỉ ra sự liên hệ này.
Bên cạnh tỷ lệ chi tiêu công/GDP, tìm hiểu về mối quan hệ giữa tốc độ gia
tăng chi tiêu công và tốc độ tăng trưởng vẫn luôn là một chủ đề hấp dẫn, thu hút
nhiều người nghiên cứu, bở tốc độ tăng chi tiêu công không phụ thuộc công thức
với tăng trưởng kinh tế. Nếu có sự liên quan, thì điều đó càng khẳng định ảnh
hưởng của chi tiêu công tới tăng trưởng kinh tế.
Ở mức trung bình, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ gia tăng chi tiêu
công nhìn chung gần bằng nhau và có sự đồng điệu nhất định. Sự vận động của
hai chỉ số này phần lớn thời gian là ngược chiều nhau ở tất cả các nhóm. Tuy
nhiên vẫn có những khoảng thời gian chúng vận động cùng chiều, ví dụ rõ nhất
là ở nhóm thu nhập cao giai đoạn 1995-1998. Điều này làm nảy sinh hai nghi
vấn: Thứ nhất là liệu có mối quan hệ ngược chiều giữa hai chỉ số? Thứ hai là sự
tăng lên về chi tiêu công sẽ tác động tới tăng trưởng kinh tế ngay trong năm đó
hay năm tiếp theo, dẫn tới sự nhập nhằng về môi quan hệ giữa chúng? Tiếp theo,
những nghi vấn đó sẽ được trả lời phẩn nào thông qua phân tích hồi quy với dữ
liệu bảng của 77 quốc gia, chia thành 05 nhóm nước, trong 23 năm.
3.2. Phương pháp
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng để tìm hiểu
về mối quan hệ giữa chi tiêu công (thể hiện thông qua tốc độ tăng chi tiêu công
quy trở nên có ý nghĩa.
Như vậy, kết quả FE(2) cho thây, mối quan hệ đổng biên giữa tổc độ tăng
trưởng kinh tế với tốc độ tăng của các biến giải thích gồm vốn đầu tư, quy mô
lực lượng lao động, chi tiêu công và kim ngạch xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế phụ thuộc phi tuyến tính đôi với tốc độ tăng của các biên chi tiêu của hộ
gia đình, chi tiêu công của năm trước và tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, vì tốc độ tăng
chi tiêu của hộ gia đình ở phần lớn các quốc gia đều cao hơn mức khiến tốc độ
tăng trưởng kinh tế thấp nhất, nên có thể nhận định rằng chi tiêu của hộ gia đình
13
có ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng. Tương tự, tất cả các quốc gia đều có tốc
độ tăng chi tiêu công thấp hơn mức khiến tăng trưởng đạt cực đại nên mối quan
hệ giữa hai biến này cơ bản là đồng biến. Trong khi đó, phần lớn các tỷ lệ lạm
phát của các quốc gia đều nhỏ hơn mức mà tốc độ tăng trưởng đạt cực tiểu, nên
ảnh hưởng của nó tới tăng trưởng là tiêu cực.
Từ những lý do đó, chúng ta có động lực để điều chỉnh mô hình hồi quy về
dạng tuyến tính đối với tất cả các biến, FE(3). Kết quả cho thấy sau khi bỏ đi các
biến bình phương thì hệ số hồi quy đối với tốc độ tăng chi tiêu của hộ gia đình
và lạm phát trở nên mất ý nghĩa thống kê. Giá trị đo lường mức độ phù hợp của
mô hình cũng giảm đáng kể, từ 0,446 giảm còn 0,426. Ngoài ra, giá trị thống kê
t của nhiều ước lượng bị giảm xuống, như đối với tốc độ tăng của vốn đầu tư,
chi tiêu công của năm hiện tại, năm trước đó và xuất khẩu. Như vậy, mô hình
FE(2) được đánh giá tốt hơn để tiếp tục phân tích và đi đến kết luận về các mới
quan hệ.
Bảng 4. Kết quả phân tích hồi quy
Capital_g
gdp_g
0.00352***
0.00353***
0.00294**
0.00353
0.00353**
(3.32)
(3.33)
(2.83)
(1.55)
(2.71)
18.13*
17.68*
18.23*
17.68*
(1.54)
0.00000740***
0.00000751***
0.00000751
0.00000751
(4.58)
(4.65)
(0.92)
(1.48)
0.0553***
0.0553***
0.0539***
0.0553**
0.0553***
(10.43)
14
Laggov_g
Laggov_g2
export_g
0.0594***
0.0603***
0.0231***
0.0603
0.0603***
(5.33)
(5.41)
(4.33)
(1.46)
(4.40)
(3.13)
(4.99)
-0.00685**
-0.00710**
0.000283
-0.00710
-0.00710*
(-2.93)
(-3.04)
(0.37)
(-1.76)
(-2.28)
0.00000191**
0.00000199**
0.00000199*
1.416
2.962***
3208***
2.962
2.962
(1.16)
(3.74)
(4.09)
(4.09)
(1.90)
N
1694
1694
1694
1694
Trong khi đó, ảnh hưởng của lạm phát tới gia tốc của nền kinh tế vẫn là tiêu cực.
Cuốỉ cùng, kiểm định Parasan xác định có hiện tượng sai số tương quan chéo
qua các quốc gia. Do vậy, sai số chuẩn Driscoll và Kraay được áp dụng vào tính
toán. Kết quả của phép hồi quy này, FE(5), ủng hộ phẩn lớn phát hiện của FE(2)
ngoại trừ ảnh hưởng của tốc độ tăng chi tiêu của hộ gia đình và tỷ lệ chi tiêu
công/GDP.
15
Tóm lại
Thông qua thống kê mô tả và phân tích hồi quy với dữ liệu bảng, đã chỉ ra
tác động của chi tiêu công cùng với những biên vĩ mô khác tới tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Cụ thể là, tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tốc độ tăng
vốn đầu tư, lao động, quy mô chi tiêu công (kể cả năm hiện hành và năm trước
đó) và tốc độ tăng xuất khẩu. Ngược lại, lạm phát cơ bản tác động tiêu cực tới
tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các nước trong giai đoạn 1990-2013. Điều đáng
lưu ý khác là mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm hiện hành với
tốc độ tăng của quy mô chi tiêu công trong năm trước đó và lạm phát có dạng
phi tuyến tính. Tuy nhiên, tác động tiêu cực của gia tăng chi tiêu công và tác
động tích cực của lạm phát ít có khả năng xảy ra.
Mặc dù đã có nhiều biến giải thích được đưa vào mô hình hồi quy, tuy
nhiên vẫn còn có những biến có thể ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế mà
chưa được tính tới. Ví dụ chất lượng của lao động, nguồn vốn đầu tư, hay các
đặc điểm của chi tiêu công. Chính những hạn chế đó là gợi ý thú vị cho các
nghiên cứu tiếp theo.
16