VAI TRÒ của CHI TIÊU CÔNG TRONG GIAI đoạn 2006 đến NAY - Pdf 25

Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn lại xuyên suốt chiều dài lịch sử, nền kinh tế thế giới đã có những dấu
hiệu hồi phục bước đầu sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ (2008), được coi
là tồi tệ nhất kể từ khi xảy ra cuộc Đại suy thoái năm 1930-1933. Đối với Việt
Nam, cho đến nay, chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã đạt được
những kết quả nhất định trong quá trình chuyển đổi kép: từ một nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung mang nặng tính hành chính chuyển hẳn sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu chuyển
sang một xã hội công nghiệp. Sự phát triển đó đòi hỏi Nhà nước cần phải đổi mới
chính sách tài chính trong đó có chính sách quản lý chi tiêu công. Chi tiêu công
nắm một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giúp nhà nước phân bổ và sử dụng
các nguồn lực tài chính của xã hội một cách hiệu quả. Sử dụng chủ yếu là nguồn
từ ngân sách nhà nước, vì thế chi tiêu công gắn liền với chức năng quản lý của nhà
nước và có nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Trên tiến trình hội nhập kinh
tế thế giới, vấn đề quản lý chi tiêu công một cách hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối
với Việt Nam.
Để tìm hiểu cụ thể hơn về vai trò của Chi tiêu công trong thời gian qua,
nhất là giai đoạn từ năm 2006 cho đến nay, em đã tiến hành thực hiện đề tài “VAI
TRÒ CỦA CHI TIÊU TRONG GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN NAY”. Kết cấu của tiểu
luận gồm 3 chương:
- Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHI TIÊU CÔNG
- Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA CHI TIÊU CÔNG GIAI
ĐOẠN 2006 ĐẾN NAY
1
- Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHI TIÊU CÔNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHI TIÊU CÔNG
1.1 Khái niệm, phân loại chi tiêu công
1.1.1 Khái niệm
Chi tiêu công là chi tiêu của các câp chính quyền, các đơn vị quản lý hành

+ Chi hành chính
+ Chi chuyển giao
+ Chi an ninh quốc phòng
- Chi hoạt động sự nghiệp
3
Là nhóm chi gắn liền với chức năng phát triển kinh tế của Nhà nước.
Chi đầu tư phát triển bao gồm:
+ Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp
+ Hỗ trợ các quỹ tài chính chính phủ
+ Chi dự trữ nhà nước
 Căn cứ vào quy trình lập ngân sách, chi tiêu công được chia thành:
- Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào
- Chi tiêu công theo các yếu tố đầu ra
1.2 Vai trò của chi tiêu công
- Chi tiêu công có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư của khu vực
tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Chi tiêu công góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế
- Chi tiêu công góp phần tái phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân
cư, thực hiện công bằng xã hội.
4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA CHI TIÊU CÔNG GIAI
ĐOẠN 2006 ĐẾN NAY
2.1 Khái quát tình hình thực kế hoạch chi tiêu ngân sách trong giai đoạn
2001-2005
Sau gần 20 năm đổi mới , đặt biệt trong giai đoạn 2001- 2005, công cuộc
đổi mới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt với rất nhiều
khó khăn, chính phủ buộc phải thực hiện các biện pháp quyết liệt nhằm cắt giảm
chi đầu tư công, giảm chi thường xuyên để kiềm chế lạm phát. Thế nhưng ngoài

Tốc độ tăng chi ngân sách tăng khoản 11.2%/năm đảm bảo cơ cấu hợp lý
giữa đầu tư phát triển, chi thường xuyên và chi trả nợ. Trong đó ,chi đầu tư bằng
khoản 30% chi ngân sách nhà nước.
Cơ cấu chi ngân sách nhà nước dự kiến sẽ dịch chuyển theo hướng , đảm
bảo tăng chi cho phát triển cơ cấu hạ tầng, trong đó ưu tiên cho đâu tư hạ tầng xã
hội, đảm bảo nguồn tài chính trả nợ đúng hạn, thực hiện các chính sách xã hội theo
mục tiêu đã đề ra cho 5 năm ( 2006 – 2010 ).
6
2.2.1.1,Thực trạng chi ngân sách nhà nước trong năm 2006
( Đơn vị :tỷ đồng )
STT Khoản mục Dự toán 2006
Quyết toán
2006
Tổng chi ngân sách nhà nước 294,400 308,058
1 Chi đầu tư phát triển 81,580 88,341
2 Chi trả nợ và viện trợ 40.800 48,192
3
Chi phát triển sự nghiệp KT-XH,
QPAN, QLHC NN, Đảng , đoàn
thể.
131,473 161,852
4 Chi cải tiến tiền lương 29,197 26,987
5 Chi bổ sung dự trữ tài chính 100 135
6 Dự phòng 11.250
Cân đối nguồn chi năm 2006 (Nguồn : Bộ tài chính )
Đánh giá thực hiện:
Cơ bản các bộ, ngành và địa phương lập và giao dự toán chi ngân sách theo
quy định của luật NSNN, đã bố trí đúng mục tiêu, cơ cấu ngành và cơ cấu nguồn
vốn, đảm bảo chi đầu tư phát triển, thường xuyên và chi theo lĩnh vực.
Chi quản lý hành chính: 18.515 tỷ đồng , tăng 9,4%( 1.590 tỷ đồng) so với

STT Khoản mục Dự toán 2007
Ước thực hiện
2007
Tổng chi ngân sách nhà
nước
357.400 368.340
1
Chi đầu tư phát triển
Trong đó: chi đầu tư XDCB
99.450
95.230
101.500
97.280
2 Chi trả nợ và viện trợ 49.160 49.160
3
Chi phát triển sự nghiệp KT-
XH, QPAN, QLHC NN,
Đảng, đoàn thể
199.150
206.000
4
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài
chính
100 100
5 Dự phòng 9.040
Cân đối chi năm 2007 (nguồn: bộ tài chính)
*Đánh giá thực hiện
Dự toán chi Quốc hội quyết định là 357.400 tỷ đồng, bao gồm cả nhiệm vụ
chi từ số thu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007 (19.000 tỷ đồng), ước cả năm
đạt 368.340 tỷ đồng, tăng 3,1% (10.940 tỷ đồng) so với dự toán, bằng 32,3% GDP,

Năm 2007, công tác kiểm tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử
dụng NSNN và tài sản công được tăng cường, góp phần củng cố kỷ cương, kỷ luật
10
tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách vẫn được đặc biệt quan tâm
thực hiện.
2.2.1.3,Thực trạng chi NSNN 2008
Kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới
và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Giá dầu thô và giá nhiều
loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những
tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong
nước,lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới, khủng hoảng tài chính toàn cầu
dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm, thiên tai, dịch
bệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước gây ảnh
hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư.
11
( Đơn vị: tỷ đồng)
STT Khoản mục Dư toán 2008
Tổng chi NSNN 398.980
1 Chi đầu tư phát triển 99.730
2 Chi trả nợ và viện trợ 51.200
3 Chi phát triển sự nghiệp KT-XH, QP-
AN, QLHCNN, Đảng, đoàn thể
208.850
4 Chi cải cách tiền lương 28.400
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 10.700
Cân đối chi năm 2008 (nguồn: bộ tài chính)
Đánh giá thực hiện:
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/10/2008 ước tính đạt
87,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 75,7% (riêng chi đầu tư xây

được kiểm soát tốt chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách nhà nước-đây
là tác động trực tiếp. Đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển, rất cần hoạt động
chi tiêu công của nhà nước, đặc biệt là chi đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, bội chi
ngân sách được xem là cần thiết và không phải là vấn đề xấu của một nền kinh tế
đang phát triển. Tuy nhiên, đưa ra mức bội chi hợp lý và kiểm soát trong mức bội
chi đã đưa ra rất quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến khu vực công mà nó còn
tác động đến khu vực tư. Với tình trạng bội chi ngân sách như hiện nay, nếu việc
chi tiêu công vẫn tiếp tục không tốt sẽ kéo theo những hệ lụy sau đây từ tình trạng
bội chi ngân sách nhà nước: Gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá
nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN. Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là
do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây "tăng trưởng
nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia. Giảm khả năng đầu
tư của khu vực tư: khi bội chi ngân sách càng nhiều thì Nhà nước sẽ tăng nguồn
13
thu- chủ yếu từ thuế. Nếu đánh thuế càng cao thì tiết kiệm của khu vực tư sẽ giảm,
khi mà tiết kiệm giảm thì sẽ giảm đầu tư, nghiêm trọng hơn nữa sẽ triệt tiêu động
lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế trong nước đối với các nước trong khu vực và trên
thế giới. Do đó, nhà nước nên cân nhắc thật kỹ lưỡng lợi ích và chi phí khi tăng
thu thuế. Góp phần vào việc làm thoái hóa đạo đức con người Việt Nam: Nhà
nước không phát huy được vai trò kiểm tra, giám sát và quản lý trong chi tiêu công
sẽ làm tăng hiện tượng tham nhũng, lấy của công làm của riêng mình (điều này
được chứng mình qua hàng loạt vụ liên quan đến tham nhũng PMU18, sập cầu
Cần Thơ…). Có thể khẳng định, vấn đề này mang tính chất chủ quan nhiều hơn
khách quan, có nghĩa là nó phụ thuộc vào nhân cách con người. Tuy nhiên, nhà
nước có thể hạn chế tình trạng này nếu có cơ chế hợp lý. Không công bằng giữa
các thế hệ: với bội chi ngân sách, để bù đắp Nhà nước vay nợ trong và ngoài nước.
Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm
tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho
các thời kỳ sau. Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc

Đây là gói kích cầu thực hiện với mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ doanh nghiệp
có thể trụ vững, vượt qua thời điểm kinh tế khó khăn, hỗ trợ chi phí vốn và khả
năng tiếp cận nguồn vốn, giúp doanh nghiệp có vốn tiếp tục sản xuất. Ngày 15/1/
2009, thường trực chính phủ và bộ ngành đã thông qua kế hoạch sử dụng gói hỗ
trợ với quy mô 17.000 tỷ đồng để kích cầu đầu tư, thực hiện thông qua bù lãi suất
15
khi doanh nghiệp vay vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Đây là gói
hỗ trợ ngắn hạn, doanh nghiệp vay vốn được hỗ trợ lãi suất trong thời hạn tối đa là
8 tháng. Phương án cấp bù lãi suất được thực hiện thông qua cho vay vốn lưu
động ở các ngân hàng thương mại.
Về cơ chế cho vay, thực hiện hỗ trợ 4% lãi suất đối với các dự án thuộc đối
tượng được hỗ trợ; bù lãi suất cho vay đối với các dự án và chương trình đầu tư
với lãi suất ưu đãi được thực hiện trong năm 2009 và 2010. Gói kích cầu lần một
của Chính phủ đã cho kết quả khả quan nhưng không nên lạm dụng. Gói hỗ trợ
này mang tính tạm thời và chỉ đến được với 20% số doanh nghiệp, tạo ra sự bất
bình đẳng trong cạnh tranh.
* Vai trò của chi tiêu công trong thời gian này:
Trong điều kiện khó khăn, công tác điều hành chi NSNN vẫn đảm bảo dự
toán được giao, tập trung nguồn lực để tăng chi đầu tư phát triển (22.700 tỷ đồng),
tăng kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh (26.705 tỷ đồng), góp phần quan trọng ngăn chặn suy giảm
kinh tế, tạo đà phục hồi tăng trưởng trong năm 2010). Bên cạnh đó, việc triển khai
dự toán NSNN năm 2009 còn chậm, cả chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và
chi chương trình mục tiêu đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các tỉnh trong
nước
2.2.1.4 Chi ngân sách nhà nước 2010
Kinh tế-xã hội nước ta chín tháng năm 2010 diễn ra trong điều kiện một số
nền kinh tế lớn hồi phục sau khủng hoảng, một số nền kinh tế mới nổi đạt mức
tăng trưởng cao. Tuy nhiên, nhìn chung kinh tế thế giới chưa thực sự thoát khỏi
khủng hoảng và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Ở

Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 0.02%
Dự phòng 15300 2.63%
Dự toán bội chi 119700 (tỷ VND) khoảng 6,2% GDP
Trên thực tế
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2010 ước tính bằng
69,7% dự toán năm. Cụ thể, chi đầu tư phát triển đạt 87,3 nghìn tỷ đồng, bằng
69,6% dự toán (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 83,1 nghìn tỷ đồng, bằng
69,2% dự toán năm), chi sự nghiệp kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh đạt 262
nghìn tỷ đồng, bằng 70,8% dự toán, chi trả nợ và viện trợ đạt gần 55,4 nghìn tỷ
đồng, bằng 79% dự toán năm.
18
Bội chi ngân sách nhà nước tính đến 15/9 ước đạt 44,6 nghìn tỷ đồng, bằng
khoảng 12,36% tổng thu ngân sách nhà nước cùng thời kỳ và bằng 37,26% kế
hoạch năm (so với 119,7 nghìn tỷ đồng).
*Vai trò của chi tiêu công trong thời gian này
Theo đánh giá từ Bộ kế hoạch và đầu tư, chi Ngân sách Nhà nước trong
năm đã đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ của ngân sách, đảm bảo đáp ứng kịp thời
nhu cầu chi tiêu hoạt động của bộ máy nhà nước, tập trung xử lý các nhu cầu phát
sinh góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh, xã hội. Tuy nhiên nhiều nội
dung vẫn chưa đạt kế hoạch đề ra. Trong thời gian tới chính phủ cần chỉ đạo cho
các bộ ngành,tiếp tục thực hiện theo kế hoạch, đồng thời luôn luôn theo dõi kiểm
tra tiến trình thực hiện, quy trình thủ tục tránh chi tiêu lãng phí.
2.2.1.5 Kế hoạch chi ngân sách trong giai đoạn 2010 – 2013
Thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách giai đoạn 2011-2013
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 cho thấy, nhiệm vụ
tài chính - ngân sách giai đoạn này là hết sức nặng nề. Chính sách tài khóa phải
đồng thời thực hiện mục tiêu huy động, phân phối, quản lý, sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực trong và ngoài nước, tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, đảm
bảo an ninh tài chính, góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát,
phát triển bền vững với mức tăng trưởng hợp lý, vừa phải giải quyết các vấn đề xã

bằng 22,9% GDP; thu NSNN năm 2013 ước đạt 752.370 tỷ đồng, bằng 20,4%
GDP. Bình quân ba năm 2011-2013, thu NSNN ước đạt 22,8% GDP, thu từ thuế và
phí đạt khoảng 21,1% GDP, thấp hơn so với tỷ lệ huy động bình quân giai đoạn
2001-2010 với thu NSNN đạt 26,6% GDP, thu từ thuế và phí đạt 24,2% GDP. Đây
cũng là xu hướng phù hợp với Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của Quốc hội,
20
Chiến lược Tài chính đến năm 2020 yêu cầu giảm dần tỷ lệ động viên vào NSNN
so với GDP.
Xét về cơ cấu thu ngân sách, thu nội địa chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu
NSNN và có xu hướng tăng. Thu NSNN từ các sắc thuế gắn trực tiếp với sản xuất,
kinh doanh trong nước như thuế TNDN, thuế TNCN, thuế GTGT trong tổng thu
NSNN ngày càng tăng. Nhờ đó, thu nội địa (không kể dầu thô) trong tổng thu
NSNN đã tăng từ 50,7% năm 2001 lên 61,5% năm 2011, ước đạt 62,9% năm 2012
và 66,3% năm 2013. Điều này, cho thấy tác động hiệu quả của chính sách thu đến
tháo gỡ khó khăn cho DN.
Thứ ba, điều hành chính sách chi tiết kiệm, linh hoạt, hiệu quả. Hoạt động
chi ngân sách trên cơ sở tiết kiệm chi thường xuyên, quản lý chặt chẽ chi đầu tư từ
NSNN nhưng vẫn có tính linh động. Tái cơ cấu chi NSNN được thực hiện, bảo
đảm chi tiêu công hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch trên cơ sở rà soát,
hoàn thiện hệ thống chính sách chi NSNN, xây dựng tiêu chí xác định thứ tự ưu
21
tiên chi NSNN, hoàn thiện chính sách chế độ, định mức kinh tế - kỹ thuật, khai
thác và sử dụng có hiệu quả tài sản nhà nước, ưu tiên đảm bảo các chính sách chế
độ đã ban hành cho con người, chi an sinh xã hội, chi cho lĩnh vực giáo dục - đào
tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, thông tin, y tế, bảo vệ môi trường; đảm bảo chi
cho quốc phòng an ninh; đảm bảo chi cho đầu tư phát triển gắn với tái cơ cấu đầu
tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền
kinh tế, rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách, chống thất thoát, lãng
phí
Thứ tư, NSNN vẫn đảm bảo đủ nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ chi

đó, chi NSNN so với GDP đã có xu hướng giảm nhưng vẫn giữ ở mức cao trên
26% giai đoạn 2011-2013. Đây là vấn đề đáng lưu ý bởi ngân sách chịu cả áp lực
về thu nhằm đảm bảo nhiệm vụ chi tương đối cao.
Tuy tỷ trọng của các khoản thu từ sản xuất trong thu NSNN có chuyển biến
tích cực nhưng tỷ lệ khoản thu “không thường xuyên” vẫn còn cao (dầu thô, giao
quyền sử dụng đất, bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước), chiếm khoảng ¼ tổng thu
NSNN. Điều đó chứng tỏ độ bền vững của thu NSNN chưa cao.
Hai là, áp lực chi NSNN gia tăng, chính sách chi NSNN vẫn còn phân tán,
gây lãng phí nguồn lực. Xét về cơ cấu chi NSNN, trong ba khoản chi lớn là chi
thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi trả nợ, viện trợ thì chi thường xuyên
chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng lên qua các năm.
23
Áp lực tăng chi NSNN để thực hiện các chính sách chi an sinh xã hội đang
có xu hướng mở rộng, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ đối tượng khó khăn trong
năm 2012-2013 và có xu hướng tiếp tục phải thực hiện vào năm 2014-2015. Năm
2011, chi thường xuyên khoảng 59,3% tổng chi đã tăng lên 69,8% năm 2013,
trong khi đó, tỷ trọng chi đầu tư từ NSNN có xu hướng giảm từ 26,4% năm 2011
xuống 20,4% năm 2013. Tỷ trọng này có tác động nhất định đến đầu tư toàn xã
hội, ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu đầu tư công cũng như tái cơ cấu nền kinh
tế.
Ba là, mức bội chi bình quân giai đoạn 2011-2013 là 4,6%, với xu hướng
thu NSNN vẫn tiếp tục còn nhiều khó khăn trong giai đoạn tới cũng như áp lực chi
NSNN mở rộng thì việc đảm bảo đạt được mức bội chi NSNN dưới 4,5% GDP
vào năm 2015 sẽ là một thách thức không nhỏ.
Bốn là, kỷ luật tài khóa thấp, đặc biệt, tình trạng chi NSNN vượt dự toán
còn xảy ra phổ biến ở nhiều bộ, ngành và địa phương cũng như trong từng đơn vị
24
ngân sách. Đồng thời, vấn đề nợ đọng trong xây dựng cơ bản tại nhiều địa phương
hiện vẫn là vấn đề nổi cộm.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status