Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư và thực tiễn trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở việt nam - Pdf 43

B GIO DC V O TO

B T PHP

TRNG I HC LUT H NI

NGUYN TH

Hợp đồng đầu t theo hình thức đối tác công t và thực tiễn
trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông
vận tải ở Việt Nam

LUN VN THC S LUT HC
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 60380101
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. ..

H NI NM 2017

MC LC


PHẦN MỞ ĐẦU 1.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ........... .3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài........... .3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........... . 3
4. Phương pháp nghiên cứu ........... . 3
5. Mục tiêu và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài ........... . 4
6. Đóng góp mới của luận văn. ........... .. 5
7. Kết cấu của luận văn.......... ........... .......... 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ THEO

CÔNG TRÌNH KẾT CẤU Ạ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ................. 61
3.1.Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công
tư trong lĩnh ực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở Việt
Nam.............................. 61
3.2.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
hợp đồngđầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng giaothông vận tải ở Việt Nam ................................ 77
Kết luận Chương 3............................................................. ............................... 83
KẾT LUẬN ............................................................. .............................................. 85


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong sự phát triển kinh tế toàn cầu ngày càng có xu hướng gia tăng ở khắp các
quốc gia trên thế giới thì phát triển cơ sở hạ tầng là vấn đề quan trọng tạo tiền đề cho
mỗi quốc gia tạo lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư, kinh doanh cho các nhà
đầu tư trong nước và cả trên thế giới. Trên thế giới không có Chính phủ nào có thể
đáp ứng đầy đủ cơ sở hạ tầng nói chung và giao thông đường bộ nói riêng từ nguồn
ngân sách nhà nước mà luôn cần có sự hợp tác với khu vực tư nhân. Ở Việt Nam,
trước đây các công trình giao thông được đầu tư xây dựng chủ yếu dựa vào ngân
sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và nguốn vốn ODA nhưng hiện nay nguồn vốn
ODA đang có xu hướng giảm dần nên vấn đề tìm kiếm vốn để xây dựng các công
trình giao thông càng trở nên quan trọng và cần thiết. Trước áp lực cần nguồn vốn để
phát triển xây dựng giao thông thì phương thức hợp tác công - tư (Public Private
Partnership - PPP) là hướng giải pháp thích hợp trong việc thu hút sự đầu tư của khu
vực tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Mô hình PPP được xem như
một phương thức để tổ chức và huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào
những hoạt động mà theo tiền lệ là chức năng của Nhà nước, đồng thời giúp cải cách
quá trình hoạt động của hệ thống nhà nước về hành chính, thu hút nguồn vốn để xây

phát triển và hội nhập (2013); tác giả đã phân tích tính hiệu quả của việc áp dụng mô
hình PPP để giải quyết bài toán vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại
Việt Nam và vấn đề hành lang pháp lý chưa có tính đồng bộ cao, chưa hài hòa về lợi
ích và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các bên.
Nghiên cứu của Bùi Thị Hoàng Lan “Mô hình đối tác công - tư: Đòn bẩy tài
chính cho xã hội hóa phát triển hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam”, Tạp chí


Nghiên cứu kinh tế số 427 tháng 12/2013 đã chỉ ra một số mô hình PPP trên thế giới
và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng giao thông đường
bộ.
Phương thức đối tác công - tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể
chế tại Việt Nam của Nhóm tác giả: Mai Thị Thu, Nguyễn Văn Phúc, Đặng Ngọc
Trâm, Nguyễn Đoan Trang, Nxb Tri thức 2014 đã chỉ ra được bản chất và đặc điểm
của phương thức đối tác công tư và làm rõ những ưu điểm, hạn chế của thể chế pháp
lý và thực tiễn khi áp dụng mô hình PPP ở Việt Nam; từ đó nhóm tác giả đã đưa ra
những khuyến nghị nhằm hoàn thiện khuôn khổ thể chế PPP với mục đích phù hợp
với thực tiễn khi áp dụng tại Việt Nam.
Đầu tư theo hình thức PPP không phải là vấn đề quá mới ở Việt Nam nhưng từ
sự tham khảo các tài liệu cũng như tìm hiểu thực tế trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông - lĩnh vực mới được áp dụng mô hình đầu tư PPP cho một số dự án
giao thông đường bộ trong thời gian gần đây; luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về
mô hình PPP cho lĩnh vực giao thông đường bộ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý về hợp đồng PPP như
về bản chất, đặc điểm, các hình thức về hợp đồng của loại hình đầu tư này trong lĩnh
vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đường bộ ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung làm rõ
các vấn đề pháp lý hiện hành về hợp đồng PPP và thực tiễn khi áp dụng ở Việt Nam
trong lĩnh vực xây dựng giao thông đường bộ để từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn

- Cách thức để hợp đồng PPP được thực hiện thành công và triển vọng thu hút
vốn đầu tư tư nhân trong phát triển giao thông đường bộ ở Việt Nam.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu cụ thể trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn cần làm rõ các vấn đề sau:
- Mô hình nghiên cứu nào phù hợp cho phép thực hiện thành công hình thức
PPP nói chung và hợp đồng PPP ở Việt Nam?
- Các nhà đầu tư tư nhân có muốn đầu tư vào các dự án PPP đường bộcủa Việt
Nam không?
- Hợp đồng PPP cần có hành lang pháp lý thế nào để thu hút vốn đầu tư tư nhân
để phát triển hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam.
6. Đóng góp mới của luận văn
Với các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đã đặt ra như trên thì luận văn
của tác giả đóng góp một số kết quả nghiên cứu như sau:
- Một là, kết quả nghiên cứu định tính cho thấy sự tương tác chặt chẽ giữa khu
vực nhà nước và khu vực tư nhân trong quá trình hợp tác là cần thiết. Sự tương tác
này phải hướng đến dung hòa lợi ích của các bên cũng như tạo ra chất lượng của các
công trình giao thông vận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng ở Việt
Nam.
- Hai là, từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về hợp đồng PPP để rút
ra phương thức áp dụng cho Việt Nam khi áp dụng mô hình này cần phải đạt được


các yếu tố: (i) Lợi nhuận đầu tư; (ii) Khung pháp lý đầy đủ và minh bạch; (iii) Chia
sẻ rủi ro phù hợp giữa nhà nước và tư nhân; (iv) Kinh tế vĩ mô ổn định; (v) Đối tác
tin cậy để từ đó tạo tiền đề thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân thông qua PPP để phát
triển giao thông đường bộ ở Việt Nam như: xây dựng bộ tiêu chuẩn để lựa chọn các
dạng hợp đồng PPP cho từng điều kiện cụ thể (quy mô, tài chính, đặc điểm dự án, lợi
ích kinh tế, lợi ích xã hội...), cung cấp hành lang pháp lý, cơ chế phân bổ rủi ro và
một số giải pháp hỗ trợ các dự án PPP đường bộ thành công.
7. Kết cấu của luận văn

vực nhà nước và khu vực tư nhân trên cơ sở một hợp đồng. “Hợp tác Công- Tư Giải pháp thu hút các nguồn lực từ khu vực tư nhân” tại địa chỉ:


Mục đích cao nhất của hợp tác công tư là nhắm tới sự sẵn có của nguồn lực,chất
lượng, tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ và việc sử dụng hiệu quả,hợp lý các
nguồn vốn”.
- Theo Word Bank thì: “PPP việc chuyển giao cho khu vực tư nhân cácdự án đầu tư
mà theo truyền thống thì đó là các dự án phải do Nhà nước đầutư vận hành”4,Khác
với ADB, ủy ban Châu Âu không đưa ra một định nghĩa cụ thể vềthuật ngữ hợp tác
công tư mà sử dụng các đặc trưng tổng quan về định nghĩacác dự án hợp tác công tư.
Theo đó, hợp tác công tư được hiểu là:
- Các mối quan hệ tương đối lâu dài giữa đối tác nhà nước và đối tác tưnhân trên tất
cả các khía cạnh của một dự án đã được lập kế hoạch từ trước.
- Cơ cấu vốn là sự liên kết các nguồn vốn của khu vực nhà nước vàkhu vực tư nhân.
- Tổ chức chịu trách nhiệm vận hành tức khu vực tư nhân đóng vai tròquan trọng
trong từng giai đoạn cụ thể của dự án.
- Có sự phân chia rủi ro giữa hai bên đối tác là khu vực nhà nước và khuvực tư nhân.
Ngoài ra, một số quốc gia, tổ chức cũng đưa ra định nghĩa như sau:
- Hội đồng hợp tác giữa nhà nước - tư nhân Canada, Hội đồng quốc giavề PPP của
Mỹ đưa ra định nghĩa: “PPP là một liên doanh hợp tác giữa khuvực công và tư, dựa
trên lợi thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộngđồng thông qua sự phân bố
hợp lý các nguồn lực, rủi ro và lợi ích”.
Ở Việt Nam tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14tháng 02 năm
2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư quy định:“Đầu tư theo hình thức đối


tác công tư là hình thức đầu tư thực hiện trên cơsở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanhnghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự
án kết cấu hạ tầng, cung cấpdịch vụ công”
Theo các định nghĩa đưa ra như trên có thể thấy PPP được diễn giảitheo nhiều cách

được ủy quyền cho cơ quan chuyên môn của mình hoặc Ủy ban nhân dân cấp
huyện ký kết và thực hiện hợp đồng dự án nhóm B và nhóm C.
Như vậy, khác với quan hệ hợp đồng hợp tác kinh doanh, chủ thể là các
tổ chức, cá nhân bỏ vốn để tiến hành hoạt động đầu tư; hợp đồng dự án có sự
tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tư cách một bên trong quan
hệ hợp đồng. Các cơ quan nhà nước khi tham gia hợp đồng dự án nhằm mục
đích giảm bớt gánh nặng tài chính của việc đầu tư phát triển hạ tầng để tập
trung nguồn vốn ngân sách vào các nhiệm vụ phát triển đất nước. Cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
theo thoả thuận với nhà đầu tư trong hợp đồng dự án. Tùy thuộc tính chất, quy
mô của từng dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể thành lập bộ phận
chuyên trách hoặc chỉ định cơ quan chuyên môn của mình là đầu mối tổ chức
thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thoả thuận trong hợp đồng dự án nhưng
trong mọi trường hợp phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các nghĩa vụ đã cam
10
kết theo hợp đồng dự án.


- Nhà đầu tư là chủ thể của hợp đồng PPP bao gồm các tổ chức, cá nhân
thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật
có liên quan (Khoản 8 Điều 3 Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày
14 tháng 02 năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư). Như vậy,
theo quy định của pháp luật luật hiện hành, mọi nhà đầu tư, không phân biệt
là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài đều có thể tham gia đấu
thầu dự án và nếu trúng thầu, sẽ được tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng dự
án với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Về đối tượng của hợp đồng PPP:
Không giống như hợp đồng hợp tác kinh doanh, các hợp đồng PPP nói
chung đều có đối tượng là các công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch
vụ công. Theo quy định tại Điều 27 Luật Đầu tư năm 2014, Nhà đầu tư,

nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc xây dựng, kinh doanh và chuyển
giao các công trình kết cấu hạ tầng. Theo đó, nhà đầu tư có nghĩa vụ xây dựng
công trình và bàn giao công trình đó cho Nhà nước vào những thời điểm cụ
thể. Đối với hợp đồng BOT, nhà đầu tư được quyền kinh doanh ngay tại công


trình mà mình xây dựng, sau một khoảng thời gian nhất định mới phải chuyển
giao công trình đó cho nhà nước. Đối với hợp đồng BTO, nhà đầu tư sau khi
xây dựng phải chuyển giao ngay công trình cho nhà nước nhưng vẫn được
Nhà nước cho phép kinh doanh tại công trình đó trong một thời han nhất định.
Khác với hợp đồng BOT và BTO, nhà đầu tư sau khi xây dựng xong công
trình theo hợp đồng BT phải chuyển giao ngay công trình đó cho Nhà nước và
được Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi
vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong
hợp đồng. Còn hợp đồng BOO sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở
hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.
Hợp đồng BTL sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận
12
hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện
nhất định.
* Mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng PPP:
Như trên đã phân tích, đối tượng của Hợp đồng PPP là các công trình
kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công vốn dĩ do nhà nước phải đảm
nhận trực tiếp đầu tư và nhà nước tham gia hợp đồng dự án nhằm đưa ra
những bảo đảm cho nhà đầu tư, đồng thời theo dõi, quản lý các hoạt động
đầu tư và các cam kết của nhà đầu tư đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng.



quyền sang cho khu vực tư nhân để thực hiện một dự án nào đó. PPP có hai
loại cơ bản là trao quyền vận hành và trao quyền đầu tư. Ở mô hình trao
quyền vận hành, nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu với các công trình công cộng
còn tư nhân thì sẽ thực hiện vận hành và cung cấp các hàng hóa hoặc dịch vụ
đã được cam kết trong các điều khoản hợp đồng. Đối với mô hình trao quyền
đầu tư, khu vực tư nhân sẽ chịu trách nhiệm cung cấp vốn và vận hành các
công trình và có thể sở hữu tài sản trong một khoảng thời gian còn nhà nước
sẽ phải đáp ứng các ưu đãi cho các nhà đầu tư tư nhân như thỏa thuận.
Trên thế giới, có nhiều loại hợp đồng PPP nhưng một số loại hợp đồng dưới
đây là dạng phổ biến được nhiều quốc gia áp dụng:
1.1.2.1. Hợp đồng dịch vụ
Đây là dạng hợp đồng thỏa thuận giữa một cơ quan/đơn vị thuộc khu
vực công (sau đây gọi là cơ quan nhà nước) có thẩm quyền với một đơn
vị/công ty tư nhân, trong đó cơ quan nhà nước thuê đơn vị tư nhân thực hiện
một hoặc một số nhiệm vụ trong một thời gian nhất định. Khi đó, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là người cung cấp chính các dịch vụ cơ sở hạ tầng và chỉ
thuê các đối tác tư nhân điều hành một phần hoạt động. Đối tác tư nhân phải


thực hiện dịch vụ với một mức chi phí được thỏa thuận và thường được đáp
ứng các tiêu chuẩn hoạt động do cơ quan nhà nước đặt ra. Trong các hợp
đồng dịch vụ, Chính phủ phải trả đối tác tư nhân một khoản phí định trước
cho dịch vụ, có thể dựa trên cơ sở chi phí một lần, trên cơ sở chi phí đơn vị
dịch vụ hoặc dựa trên các cơ sở khác. Vì thế, lợi nhuận của nhà thầu sẽ tăng
lên nếu nhà thầu có thể giảm được chi phí điều hành mà vẫn đáp ứng được
các yêu cầu tiêu chuẩn dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ thông thường thích hợp
14
nhất khi dịch vụ có thể xác định rõ ràng trong hợp đồng, mức độ nhu cầu
tương đối chắc chắn và việc thực hiện có thể theo dõi một cách dễ dàng.
Các hợp đồng dịch vụ là một lựa chọn có độ rủi ro tương đối thấp trong

các nhà điều hành cần ít nhân viên hơn cho các dịch vụ công.
1.1.2.3. Hợp đồng nhượng quyền khai thác/cho thuê
Hoạt động nhượng quyền cho phép nhà điều hành tư nhân (người được
nhượng quyền) chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ dịch vụ trong khu vực cụ
thể bao gồm việc điều hành, duy trì bảo dưỡng, thu phí, quản lý xây dựng và
tu bổ hệ thống. Khi đó, nhà điều hành tư nhân chịu trách nhiệm đối với toàn


bộ khoản đầu tư vốn, khu vực nhà nước chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu
chuẩn hoạt động và đảm bảo người được nhượng quyền đáp ứng được các
tiêu chuẩn của hoạt động đó; nói cách khác là nhà nước chuyển từ việc là
người cung cấp dịch vụ sang là người điều tiết và quản lý chất lượng dịch vụ.
Đối với loại hợp đồng này thì người được nhượng quyền sẽ thực hiện
thu phí trực tiếp từ những người sử dụng hệ thống và chịu trách nhiệm đối với
bất kỳ khoản đầu tư cần thiết nào để xây dựng, nâng cấp hoặc mở rộng hệ
thống và chịu trách nhiệm thu xếp vốn cho các khoản đầu tư đó từ nguồn lực
tài chính của mình và từ các khoản phí do người sử dụng hệ thống chi trả.
- Nhượng quyền khai thác: Là hình thức PPP trong đó cơ quan nhà
nước nhượng lại quyền vận hành khai thác và cung cấp dịch vụ công cho đối
tác tư nhân dựa trên các tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có, thuộc quyền sở
hữu của khu vực nhà nước. Đối với hình thức này thì đối tác tư nhân được
phép thu phí từ người sử dụng dịch vụ và trả một khoản phí cho cơ quan nhà
nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng thời được phép giữ lại
một phần doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ công.
- Nhượng quyền cho thuê: Với hình thức này, cơ quan nhà nước cho đối
tác tư nhân thuê tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có thuộc sở hữu của cơ quan
nhà nước để thực hiện khai thác, vận hành và cung cấp các dịch vụ công.
Theo đó, đối tác tư nhân phải thanh toán tiền thuê cho cơ quan nhà nước một
khoản cố định, không phụ thuộc vào khả năng thu phí từ người sử dụng và đối
tác tư nhân chịu hoàn toàn rủi ro kinh doanh.

phạm.
1.1.2.4. Hợp đồng nhượng quyền đầu tư
Các hình thức BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BOO (xây
dựng - sở hữu - vận hành), BOOT (xây dựng - sở hữu - vận hành chuyển giao)... là những hình thức phổ biến của nhượng quyền đầu tư.
17
Theo đó, BOT và các thỏa thuận tương tự như trên là một hình thức nhượng
quyền được chuyên môn hóa trong đó có một công ty tư nhân cung cấp vốn
và xây dựng một dự án cơ sở hạ tầng mới hoặc một hợp phần chính của dự án
cơ sở hạ tầng căn cứ trên các tiêu chuẩn thực hiện do Chính phủ quy định.
Đối với các hình thức hợp đồng này thì đối tác tư nhân cung cấp vốn
đầu tư cần thiết để xây dựng cơ sở dịch vụ mới, nhà đầu tư được quyền sở
hữu tài sản trong một khoảng thời gian quy định trong hợp đồng mà các bên
đã tính toán hợp lý để cho đối tác tư nhân xây dựng cơ sở hạ tầng thu hồi chi
phí đầu tư thông qua việc thu phí của người sử dụng. Bên cạnh đó, khu vực
nhà nước đồng ý mua một tỷ lệ tối thiểu sản lượng mà cơ sở dịch vụ tạo ra, đủ
để nhà điều hành tư nhân thu hồi được chi phí trong quá trình hoạt động.
1.1.3. Vai trò của đầu tư theo hợp đồng PPP
Với việc tận dụng được những lợi thế của hai đối tác Nhà nước và tư
nhân, đầu tư theo hợp đồng PPP thể hiện vai trò rất to lớn trong việc mang lại lợi


ích cho cả Nhà nước, khu vực tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ - sản phẩm.
* Vai trò của đầu tư theo hợp đồng PPP đối với Nhà nước
- Tạo điều kiện tốt để Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng
Đi cùng với xây dựng kiến trúc thượng tầng là xây dựng cơ sở hạ tầng
phù hợp, đảm bảo cung ứng công cộng đầy đủ, cải thiện chất lượng cuộc sống
của người dân, đây là cam kết và là nhiệm vụ của bất kỳ nhà nước nào. Tuy
nhiên, việc duy trì phương thức đầu tư truyền thống là Nhà nước sử dụng
ngân sách, tự thiết kế, xây dựng và quản lý các công trình công cộng sẽ gây ra
sự lãng phí lớn và chắc chắn không hiệu quả, do những lối mòn trong tư duy

phản ánh bản chất tổng thể của một dự án PPP.
- Góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ cung ứng
Các dự án đầu tư theo hợp đồng PPP phần lớn dựa vào nguồn vốn cũng
như kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư tư nhân, mà bản thân các nhà đầu tư
này vốn không hoạt động dựa vào ngân sách, nên họ biết cách quản lý và tận
dụng hiệu quả nguồn vốn, tránh xảy ra tham nhũng, lãng phí. Hơn hết, khi
tham gia vào các dự án đầu tư theo hợp đồng PPP, nhà đầu tư tư nhân chịu sự
ràng buộc về các cam kết hiệu suất, nên đây chính là động lực để họ thực hiện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status