Tiểu luận hết môn Tâm lý học sức khỏe: Lịch sử hình thành và phát triển Tâm lý học sức khỏe - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÔN: TÂM LÝ HỌC SỨC KHỎE
------------------------------

BÀI TIỂU LUẬN THI HẾT MÔN
CHỦ ĐỀ 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN TÂM LÝ HỌC SỨC KHỎE

HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
KHOA: XÃ HỘI HỌC
MÃ SINH VIÊN: 12031110


1. Đặt vấn đề
Đối với nhiều người, sự khỏe mạnh đơn giản chỉ là cơ thể không đau
yếu hoặc nhanh chóng bình phục sau bệnh tật. Thế nhưng lại có một số vấn
đề thật khó để lý giải, chẳng hạn như: Tại sao những người đàn ông đã kết
hôn thường sống lâu hơn những người không lập gia đình?; Khảo sát những
người nhiễm HIV dương tính, các nhà nghiên cứu nhận thấy tâm trạng lạc
quan gia tăng tế bào kháng thể và nâng cao khả năng đề kháng của người
bệnh; Việc thực hiện các lễ nghi tôn giáo tại sao lại khiến con người cảm thấy
khỏe mạnh hơn?... Dường như giữa thể chất và tâm lý của con người luôn tồn
tại một mối liên hệ nào đó. Sự ra đời của Tâm lý học sức khỏe vào đầu thế kỷ
XX – một ngành khoa học còn khá mới mẻ – đã giúp chúng ta giải đáp những
thắc mắc đó.
2. Mối quan hệ giữa cơ thể và tâm lý – Những ý tưởng khởi nguồn
của Tâm lý học sức khỏe
Trong lịch sử, mối quan hệ giữa tâm lý và cơ thể luôn là chủ đề gây
tranh cãi đối với các nhà triết học, các nhà tâm lý học và các nhà sinh lý học1.
Họ luôn phân vân giữa ý kiến cho rằng cơ thể và tâm lý là các thành tố của

những linh hồn dữ gây ra sự đau yếu, người Hy Lạp cổ đại phát triển những
lý luận riêng của họ về bệnh tật. Alkmeon, Arixtote đã nói đến mối quan hệ
giữa hiện tượng tâm lý và não, mối quan hệ giữa cơ thể và bệnh tật.
Hyprocrat và sau đó là Galen đã đề cập tới yếu tố dịch thể trong mối quan hệ
giữa tâm lý và cơ thể. Theo quan điểm của họ, con người mắc bệnh khi bốn
thể dịch của cơ thể là: máu, mật đen, mật vàng và niêm dịch mất đi sự cân
đối, hài hòa3. Bởi vậy, mục tiêu của việc chữa bệnh là phục hồi trạng thái cân
bằng của các thể dịch này trong cơ thể. Mặc dù vậy, họ cũng đã nhấn mạnh
đến vai trò của tâm lý. Người Hy Lạp cổ đại đưa ra một nhóm các tính cách
dựa trên các thể dịch này: Những người có quá nhiều máu sẽ là người vui vẻ,
năng động, lạc quan. Những người có nhiều niêm dịch sẽ là những người
chậm chạm, ể oải. Những người có quá nhiều mật vàng rất hay nóng nảy và
những người có nhiều mật đen sẽ hay u buồn. Tương ứng với bốn loại thể
dịch là bốn cách chữa bệnh khác nhau. Người Hy Lạp cho rằng bệnh tật có
nguồn gốc từ các yếu tố thể chất nhưng đồng thời cũng tin rằng các yếu tố
tâm lý cũng có ảnh hưởng nhất định.
Tuy nhiên, tới thời Trung cổ, những kẻ hay do dự, lung lạc lại dùng
những yếu tố siêu nhiên để giải thích nguồn gốc của bệnh tật. Họ cho rằng
bệnh tật là sự trừng phạt của Chúa đối với những hành động tội lỗi của con
người, và phương thức chữa bệnh chính là xua đuổi mọi tội lỗi bằng cách tra

3

Shelley E. Taylor (1999), Health Psychology, Mc Graw Hill, 4.

3


tấn cơ thể bệnh nhân. Sau đó, hình thức chữa bệnh này được thay bằng việc
sám hối thông qua cầu nguyện và làm điều thiện.

4


thể. Bệnh tật có thể do nhiều yếu tố gây nên như sự mất cân bằng, vi khuẩn,
virút hoặc các yếu tố di truyền.
Ai là người chịu trách nhiệm cho bệnh tật? Bởi vì bệnh tật nảy sinh từ
các yếu tố sinh học vượt quá khả năng kiểm soát của con người, nên các cá
nhân không phải là người gây ra bệnh. Họ được nhìn nhận như là các nạn
nhân của những sự tấn công từ bên ngoài gây ra những thay đổi ở bên trong
cơ thể.
Bệnh nhân nên được chữa trị như thế nào? Mô hình y sinh cho rằng
chữa bệnh thì cần sử dụng các loại vắcxin, phẫu thuật, sử dụng các hóa chất
hoặc tia X,… - tất cả những yếu tố đó đều nhằm mục đích thay đổi tình trạng
của cơ thể người bệnh.
Ai là người chịu trách nhiệm chữa bệnh? Người chịu trách nhiệm điều
trị bệnh là các chuyên gia y tế: bác sĩ, y tá,...
Mối quan hệ giữa sức khỏe với bệnh tật là như thế nào? Trong mô
hình y sinh, sức khỏe và bệnh tật được xem là những trạng thái hoàn toàn
khác biệt – con người chỉ có thể hoặc là khỏe mạnh hoặc là đau yếu, không
có trạng thái nào ở giữa 2 thái cực đó.
Mối quan hệ giữa giữa cơ thể và tâm lý là như thế nào? Cũng theo mô
hình y sinh, chức năng của tâm lý và cơ thể là hoàn toàn độc lập, không phụ
thuộc lẫn nhau. Quan điểm này khá tương đồng với thuyết nhị nguyên truyền
thống về sự phân tách giữa tâm lý – cơ thể. Theo đó, tâm lý không thể gây ra
những ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý và cơ thể được xác định như là những
thành tố riêng biệt. Thay đổi thể chất được xem như không có liên quan tới
những thay đổi trong trạng thái tâm lý.
Vai trò của tâm lý đối với sức khỏe và bệnh tật ra sao? Bệnh tật có thể
dẫn đến những hệ quả về mặt tâm lý, nhưng bệnh tật không phải do yếu tố
tâm lý gây ra. Ví dụ, bệnh ung thư có thể khiến con người cảm thấy đau khổ

6

Shelley E. Taylor (1999), Health Psychology, Mc Graw Hill, 6 - 7.

6


Y học tâm thể
Việc tìm hiểu mối liên hệ mật thiết giữa đời sống cảm xúc của con
người và các quá trình sinh lý của cơ thể được khởi xướng trong nhiều nghiên
cứu đầu thế kỷ 20. Y học tâm thể đã ra đời trên nền tảng những nghiên cứu
đó. Năm 1938 tạp chí “Y học tâm thể” ra đời ở Mỹ và chỉ một năm sau đó,
“Hiệp hội khoa học Tâm thể Mỹ” được hình thành và trong 25 năm đầu tiên
tồn tại của nó quan niệm về bệnh tật chủ yếu dựa vào nền tảng lý luận của
Phân tâm học và Tâm thần học.
Đầu thế kỷ XX, Sigmund Freud đã bày tỏ sự quan tâm sâu sắc của
mình đối với các bệnh tâm thể trong lá thư của ông gửi cho Georg Groddeck
– người chuyên nghiên cứu các khả năng điều trị rối loạn thể chất thông qua
các quá trình tâm lý vào thời điểm đó7. Freud đã phát triển lý thuyết về việc
các quá trình tâm lý nhất định có thể dẫn đến rối loạn thể chất như thế nào,
chẳng hạn như sự kích động chuyển đổi. Ông cho rằng các cuộc xung đột vô
thức có thể tạo ra các rối loạn thể chất cụ thể - các rối loạn này tượng trưng
cho sự xung đột tâm lý bị dồn nén. Cuộc xung đột được chuyển đổi thành
một triệu chứng: ví dụ như việc đột ngột mất giọng nói và thính giác, liệt cơ,
bệnh động kinh giả8.
Năm 1932, Walter Cannon quan sát thấy rằng những cảm xúc có thể
gây ra những thay đổi sinh lý trong cơ thể có thể dẫn đến bệnh tật, ví dụ: sự
lo lắng có liên quan đến việc tăng nhịp tim, huyết áp,… Dựa trên những quan
sát này, vào những năm 30 và 40, Flanders Dunbar và Franz Alexander đã
liên kết các kiểu mẫu tính cách với từng loại bệnh cụ thể9. Không giống như

giữa tâm lý và cơ thể. Ngày nay, Y học tâm thể được coi là một chuyên khoa
của Tâm thần học và Thần kinh học. Phương pháp điều trị y tế và tâm lý trị
liệu được sử dụng để điều trị các rối loạn tâm thể11.
Y học hành vi
Từ những năm 1960, trong lòng Y học tâm thể đã hình thành và phát
triển các phương pháp tiếp cận và lý thuyết về mối quan hệ qua lại giữa các
yếu tố tâm lý và các yếu tố xã hội, các yếu tố tâm lý và các yếu tố sinh lý. Y
học hành vi xuất hiện từ những năm 1970. Lee Birk là người đầu tiên sử dụng

10

Shelley E. Taylor (1999), Health Psychology, Mc Graw Hill, 6.
Wise TN (2008). "Update on consultation-liaison psychiatry (psychosomatic medicine)". Curr Opin
Psychiatry.
11

8


thuật ngữ “Y học hành vi” trong tiêu đề một cuốn sách được xuất bản vào
năm 1973 của mình12.
Y học hành vi là một liên ngành kết hợp cả hai lĩnh vực y học và tâm
lý học; là sự tích hợp của kiến thức trong sinh học, hành vi, tâm lý, và khoa
học xã hội có liên quan đến sức khỏe và bệnh tật. Y học hành vi đặc biệt phát
triển ở Mỹ, nơi mà nguyên nhân của rất nhiều các vấn đề sức khỏe chủ yếu là
do hành vi và lối sống của con người như: hút thuốc lá, ít vận động, lạm dụng
rượu hoặc ma túy…Tất cả các yếu tố trên đều nằm trong các nguyên nhân
gây tử vong hàng đầu tại Mỹ. Y học hành vi sử dụng các phương pháp trị liệu
hành vi, mô hình hóa hành vi và đặc biệt là kỹ thuật trị liệu “mối liên hệ
ngược sinh học” để chữa trị một số loại bệnh.

Tâm lý học trong việc cung ứng các dịch vụ y tế”14. Dù có một số trường hợp
ngoại lệ, nhưng ông nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu tâm lý thường
xem xét sức khỏe tâm thần và sức khỏe thể chất là hai mặt riêng biệt, và ít coi
trọng đến tác động của các yếu tố tâm lý lên sức khỏe thể chất. Là một trong
số ít các nhà tâm lý học làm việc trong lĩnh vực này vào thời điểm đó,
Schofield đề xuất hình thức giáo dục và đào tạo mới cho các nhà tâm lý học
trong tương lai. Đáp ứng đề nghị của ông, vào năm 1973 APA cho thành lập
một tổ chức chuyên biệt để xem xét làm thế nào các nhà tâm lý học có thể (a)
giúp mọi người kiểm soát những hành vi liên quan đến sức khỏe, (b) giúp đỡ
các bệnh nhân kiểm soát các vấn đề về sức khỏe thể chất, và (c) đào tạo nhân
viên chăm sóc sức khỏe để làm việc hiệu quả hơn với bệnh nhân15.
Được dẫn dắt bởi Joseph Matarazzo, vào năm 1977, APA thành lập
thêm một ban phục vụ cho việc nghiên cứu Tâm lý học sức khỏe. Tại hội
nghị đầu tiên, Matarazzo phát biểu rằng việc xác định vị trí của Tâm lý học
sức khỏe là hết sức quan trọng. Ông cho rằng: “Tâm lý học sức khỏe là một
tổ hợp của những đóng góp về mặt giáo dục, khoa học và nghề nghiệp đặc
thù của ngành Tâm lý học với tư cách là một phân ngành khoa học về việc
bảo vệ và hỗ trợ sức khỏe, phòng ngừa và điều trị bệnh tật, nghiên cứu về

13

Belloc N. & Breslow L. (1972), Relationship of physical health status and health practices. Preventive
Medicine, 1(3), 419 - 421.
14
Schofield (1969), The role of psychology in the delivery of health services. American Psychologist, 24(6).
15
Johnston. M., Weinman J. & Chater A. (2011), A healthy contribution. The Psychologist, 24(12), 890-892.

10


18
Johnston M. (1994), Health psychology: Current trends, The Psychologist, 7.
19
Johnston M., Weinman J. & Chater A. (2011), A healthy contribution, The Psychologist, 24 (12), 890-892.
20
Freedheim & I. Weiner (2001), Handbook of Psychology Vol.1: History of Psychology, New York Wiley,
117 – 118.
17

11


bệnh tật. Đây là điểm tương đồng chính giữa Y học tâm thể, Y học hành vi và
Tâm lý học sức khỏe. Nhưng khác với Y học tâm thể và Y học hành vi, Tâm
lý học sức khỏe là một ngành đặc thù của Tâm lý học.
Cái gì gây ra bệnh tật? Tâm lý học sức khỏe cho rằng con người nên
được nhìn nhận là một hệ thống phức tạp và nguyên nhân gây ra bệnh tật là
do vô số yếu tố chứ không phải chỉ là một yếu tố đơn lẻ. Bệnh tật là kết quả
của sự tương tác, sự kết hợp giữa các yếu tố sinh học (ví dụ: virút), yếu tố
tâm lý (ví dụ: niềm tin, hành vi) và yếu tố xã hội (ví dụ: nghề nghiệp). Điều
này được thể hiện trong “Mô hình Sinh – Tâm – Xã hội” do D. Engel đưa ra
vào năm 1977 và bổ sung, làm rõ vào năm 1980. Mô hình này cố gắng hợp
nhất các yếu tố tâm lý (Tâm) và yếu tố môi trường (Xã hội) vào trong mô
hình y sinh truyền thống (Sinh)21.
Sinh:

Tâm:

Xã hội:


rd

Jane Ogden (2004), Health Psychology – A textbook 3 edition, Mc Graw Hill, 4 - 5.

12


chịu một phần trách nhiệm cho việc điều trị của họ. Bệnh nhân có nghĩa vụ
phải uống thuốc, thay đổi những thói quen có hại và những niềm tin sai lầm
của họ. Họ không phải là những nạn nhân.
Mối quan hệ giữa sức khỏe và bệnh tật? Sức khỏe và bệnh tật không
phải là những thái cực hoàn toàn riêng biệt mà có sự tồn tại của những trạng
thái, những mức độ khác nhau giữa chúng. Con người không chỉ đơn thuần
khỏe mạnh hay đau yếu mà cứ đi đi lại lại giữa 2 thái cực đó, lúc thì ở điểm
này và lúc thì ở điểm khác.
Mối quan hệ giữa tâm lý và cơ thể? Tâm lý học sức khỏe cho rằng giữa
tâm lý và cơ thể có mối tương tác.
Vai trò của tâm lý đối với sức khỏe và bệnh tật? Các yếu tố tâm lý
không phải chỉ là hệ quả của bệnh tật mà nó còn đóng vai trò như là nguyên
nhân gây ra bệnh. Các yếu tố tâm lý có thể ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe
của con người theo cả con đường trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp có nghĩa là
cách một con người cảm nhận cuộc sống của họ (ví dụ “Tôi cảm thấy rất áp
lực và căng thẳng”) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể họ và làm thay đổi tình
trạng sức khỏe của họ. Theo con đường gián tiếp, cách mà một người suy
nghĩ (ví dụ “Tôi cảm thấy căng thẳng”) sẽ ảnh hưởng đến hành vi (“Tôi sẽ
hút một điếu thuốc”) và chính điều này tác động đến sức khỏe của họ.
Có một thực tế là, sự thay đổi các kiểu mẫu bệnh tật đã và đang diễn ra
ở Mỹ và ở hầu hết các nước phát triển khác trên thế giới. Cho tới thế kỷ 20,
nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong ở Mỹ là các rối loạn cấp tính,
đặc biệt là bệnh lao, viêm phổi và các bệnh truyền nhiễm khác. Các rối loạn


92

3

Nhiễm trùng hô hấp

44

4

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

44

5

Bệnh tiêu chảy

25

6

HIV/AIDS

23

7

Khí quản, phế quản, ung thư phổi

23

Shelley E. Taylor (1999), Health Psychology, Mc Graw Hill, 8 -9.
World Health Organization, World Health Statistics 2013: A wealth of information on global public health.

14


độ ăn uống hay hút thuốc lá đều có liên quan tới sự phát triển của các bệnh
tim mạch và ung thư, hoặc việc quan hệ tình dục không lành mạnh dẫn tới sự
phát triển của bệnh AIDS.
Ngày nay, trên thế giới, các rối loạn tâm thần và thần kinh chiếm tới
11% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu trong năm 2004, được đánh giá bằng
công cụ DALYs – tạm dịch: “Những năm của cuộc đời phải thích nghi với
trạng thái mất khả năng hoạt động”. Điều này được dự báo tăng lên 15%
trong năm 2020. Trầm cảm góp phần lớn thứ 4 cho gánh nặng bệnh tật trong
năm 2004 và ước đoán xếp hàng thứ 2 sau bệnh nhồi máu cơ tim vào năm
2020. Năm trong mười nguyên nhân hàng đầu gây ra tàn tật là các rối loạn
tâm thần (Tâm thần phân liệt; Rối loạn cảm xúc lưỡng cực; Trầm cảm; Sử
dụng rượu và Rối loạn ám ảnh cưỡng bức)24. Mất trí và động kinh cũng là
nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật và mức độ tàn tật cao thường đi kèm với
chậm phát triển tâm thần. Ở khu vực Tây Thái Bình Dương, gánh nặng thậm
chí còn cao hơn ở một số khu vực khác của thế giới.
Gánh nặng của các rối loạn tâm thần sẽ rất nặng nề và đang tăng lên,
phổ biến ở tất cả các quốc gia. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới
(WHO), chỉ số phổ biến của các rối loạn thần kinh – tâm lý tăng lên 4
lần/1000 người dân trong thế kỷ XX25. Ở tất cả các quốc gia, tỷ lệ các rối
loạn tâm thần cao hơn ở những người đã trải qua bất hạnh trong các quan hệ
xã hội. Một số loại rối loạn nặng, có sự khởi đầu rầm rộ tấn công vào lứa tuổi
trẻ như trầm cảm, nghiện rượu và ma tuý, động kinh, tâm thần phân liệt và

những phương thức chữa trị truyền thống. Để hiểu được điều gì đã khiến
người bệnh cố gắng tìm kiếm những phương thức chữa trị khác và tính toán
những ảnh hưởng của nó cũng là một trong những vấn đề mà nhà tâm lý học
sức khỏe cần phải làm sáng tỏ.
Gánh nặng bệnh tật sinh ra bởi các rối loạn tâm thần và thần kinh có
thể giảm đi bởi hiện nay đã có các kỹ thuật điều trị mới và có hiệu quả bằng
các trị liệu tâm lý xã hội của Tâm lý học sức khỏe. Những điều trị này bao
gồm các liệu pháp nhận thức ngắn và các trị liệu tâm lý khác, hỗ trợ – giáo
dục gia đình, phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho những người bệnh. Các
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chung có thể
giải quyết hữu hiệu phần lớn các rối loạn tâm thần. Tâm lý học sức khỏe ngày
26

Nguyễn Thị Minh Hằng (2014), Tập bài giảng Tâm lý học sức khỏe, 6.
Shelley E. Taylor (1999), Health Psychology, Mc Graw Hill, 9.

27

16


càng mở rộng phạm vi phát triển của nó ở Anh nói riêng và ở châu Âu nói
chung, ở Mỹ, Úc, New Zealand và cả ở Nhật Bản. Các số liệu thống kê cho
thấy, chăm sóc sức khỏe là ngành công nghiệp dịch vụ lớn nhất tại Mỹ, và nó
vẫn đang tiếp tục phát triển một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Người Mỹ
chi tới 1.7 nghìn vào năm 2003 cho việc chăm sóc sức khỏe và con số này
vẫn sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới28. Các chương trình bảo vệ sức
khỏe tâm lý, các cơ sở chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng tiếp tục mở rộng và
phát triển,…
Đối với các sinh viên, việc học tập bộ môn Tâm lý học sức khỏe trở

tiếp tục thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của ngành khoa học này.

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Thị Minh Hằng (2014), Tập bài giảng Tâm lý học sức khỏe.
2. Đặng Phương Kiệt (Chủ biên) (2000), Tâm lý và sức khỏe, Nhà xuất
bản Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Tiếng Anh
1. Marian Pitts and Keith Phillips (1998), The Psychology of Health 2nd
edition, Routlege, 11 New Fetter Lane London.
2. Shelley E. Taylor (1999), Health Psychology, Mc Graw Hill.
3. Jane Ogden (2004), Health Psychology – A textbook 3rd edition, Mc
Graw Hill.
4. Freedheim & Weiner (2001), Handbook of Psychology Vol.1: History
of Psychology, New York Wiley.
5. Johnston M., Weinman J. & Chater A. (2011), A healthy contribution,
The Psychologist, 24 (12).
6. Johnston M. (1994), Health psychology: Current trends, The
Psychologist, 7.
7. Belloc N. & Breslow L. (1972), Relationship of physical health status
and health practices. Preventive Medicine, 1(3).
8. Erwin, Edward (2002), The Freud Encyclopedia: Theory, Therapy and
Culture, Routledge, 245.
9. Trang web truy cập tháng 5 năm 2014.
10.Trang web truy cập tháng 5 năm 2014.
11.Trang web truy cập tháng 5 năm 2014.
12.Trang web truy cập tháng 5 năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status