NGUYỄN THỊ HOA
Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
Tên đề mục
I.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
II.
2.1.
2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.3.3.
2.3.4.
2.4.
III.
3.1
3.2
Trang
Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
11
11
Tài liệu tham khảo
Danh mục SKKN đã được cấp Sở GD&ĐT công nhận xếp loại
12
13
1
NGUYỄN THỊ HOA
Sáng kiến kinh nghiệm
I. MỞ ĐẦU
1. 1.Lý do chọn đề tài
Văn học trung đại Việt Nam đặc biệt là thơ trữ tình trung đại là một di sản vô
cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú đa dạng về nội dung và hình
thức. Nhờ có di sản này mà cuộc sống văn hóa, tinh thần của chúng ta ngày nay
thêm phần phong phú. Trong nhà trường, di sản này có khả năng bồi dưỡng cho
học sinh những năng lực và năng khiếu thẩm mĩ, nhận thức thẩm mĩ, góp phần
xây dựng nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, bồi đắp tâm hồn tư tưởng,
tình cảm cho học sinh. Những tác phẩm văn học trung đại dạy trong nhà trường
chính là công cụ quan trọng để bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm nhân văn cho tâm
hồn các em. Bởi lẽ giá trị to lớn của văn học cổ, cái cốt lõi của nó chính là vấn
đề nhân văn. Cho nên, dạy thơ trữ tình trung đại ngoài mặt cung cấp cho học
sinh hiểu biết về cuộc sống, xã hội và cung cấp cho các em về vốn văn học, lại
còn phải biết khơi gợi tinh thần nhân văn cho các em bởi như M.Gorki đã nói
NGUYỄN THỊ HOA
Sáng kiến kinh nghiệm
Nghiên cứu vấn đề, bản thân tôi nhằm mục đích tìm ra một số biện pháp cụ
thể để đổi mới cách dạy những bài đọc văn về thơ trữ tình trung đại Việt Nam
trong chương trình Ngữ văn THPT, theo hướng hiện đại hóa các giá trị của thơ
trữ tình trung đại tạo nên hứng thú cho học sinh trong giờ học.
Qua đó tôi muốn trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp để tìm ra những
biện pháp hiệu quả nhất trong giảng dạy thơ trữ tình Trung đại Việt Nam ở
trường THPT.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Chương trình ngữ văn lớp 10 và lớp 11 THPT
- Học sinh lớp 10 và lớp 11 trường THPT Quảng Xương 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phân tích tổng hợp
- Quan sát, thực nghiệm.
- Đối chiếu so sánh.
3
NGUYỄN THỊ HOA
Sáng kiến kinh nghiệm
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề.
2.1.1 Xuất phát từ quá trình và quy luật tiếp nhận văn học.
chiều về tác phẩm văn học. Trong khi đó những tác phẩm thơ được học ở
chương trình THPT lại thuộc vào đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam. Vì
vậy người đọc cần phải có cái nhìn đa chiều về tác phẩm, có như vậy mới cảm
nhận hết được vẻ đẹp của nó và thấy hết được sức sống của tác phẩm.
2.1.2 Tính hiện đại trong thơ trữ tình trung đại Việt Nam.
a. Thuật ngữ thơ trữ tình trung đại.
Thơ trữ tình là: “thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình trong đó
những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện
tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hoá của cảm
4
NGUYỄN THỊ HOA
Sáng kiến kinh nghiệm
nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của
thơ trữ tình. Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những
biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới
những chính kiến, những tư tưởng triết học. Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng
nhằm phân biệt với thơ tự sự thuộc loại tự sự. Tùy theo truyền thống văn học cụ
thể, người ta có thể phân loại thơ trữ tình theo nhiều cách khác nhau” [5].
Theo giáo sư Trần Đình Sử “ Xét về tên gọi, trong quá khứ các nhà thơ trung
đại Việt nam chưa bao giờ tự gọi thơ mình là thơ trữ tình. Trữ tình là một khái
niệm hiện đại. Mặc dù trong cửu chương của Khuất Nguyên có thể tìm thấy hai
chữ trữ tình song nó chưa trở thành thuật ngữ trong thời trung đại. Phần lớn thơ
làm trong các dịp tiễn tặng, hoạ thơ người khác, đề thơ kỷ niệm, tức cảnh, tức
sự, thư sự, tức là làm thơ theo sự đòi hỏi, khêu gợi của ngoại cảm. Khi muốn tự
bộc lộ nỗi lòng thì họ gọi là “Ngôn hoài”, “Thuật hoài”, “Ngôn chí”, “Tự tình”,
5
NGUYỄN THỊ HOA
Sáng kiến kinh nghiệm
trình Ngữ văn THPT, Thơ trữ tình Việt Nam thời trung đại được sắp xếp vào
chương trình Ngữ văn lớp 10 và học kỳ I của lớp 11. Thơ trữ tình Việt Nam
thời trung đại được học trong tiết với các bài thơ tiêu biểu như: Thuật hoài của
Phạm Ngũ Lão, Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới số 43) của Nguyễn Trãi,
Nhàn ( Nguyễn Bỉnh Khiêm) và Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du, đoạn trích
trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn bản dịch Đoàn Thị Điểm [1],[2]. Ở
lớp 11 có: Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát), Tự tình (Hồ Xuân Hương),
Câu cá mùa thu (Thu điếu- Nguyễn Khuyến), Thương vợ (Trần Tế Xương,) Bài
ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ), Hương Sơn phong cảnh ca (Chu Mạnh
Trinh)[3],[4].
c. Hiện đại hóa các giá trị của thơ trữ tình trung đại.
- Chất hiện đại trong thơ trữ tình trung đại là gì?
Đây là vấn đề mà chưa có tài liệu nào đề cập đến. Tuy nhiên trong quá trình
giảng dạy tôi luôn suy nghĩ làm sao cho học sinh cảm nhận được sức sống của
tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong bối cảnh hiện tại. Vì vậy tôi
muốn làm mới các tác phẩm ấy bằng cách hiện đại hóa một số giá trị cơ bản về
nội dung và nghệ thuật theo cách nghĩ, cách cảm nhận của những con người
sống trong hiện tại. Điều đó làm cho học sinh thấy các tác phẩm ấy gần gũi hơn,
dễ tiếp nhận hơn.
Theo tôi chất hiện đại trong thơ trữ tình trung đại Việt Nam đó chính là sự mới
mẻ, trẻ trung là sự gần gũi trong tâm hồn, trong tư duy nghệ thuật, trong quan
niệm thẩm mỹ của các nhà thơ trung đại đối với thế hệ đang sống trong hiện tại.
đại.
Có nhiều lý do dẫn đến việc ngại dạy và học thơ trung đại:
1.Tiếp nhận tác phẩm văn học cổ đối với học sinh THPT ngày nay gặp nhiều
khó khăn:
Học sinh ngày nay vốn liếng từ Hán Việt rất ít. Đến với văn học cổ, các em
vấp phải hàng rào của từ ngữ, địa danh, điển tích, điển cố, thi liệu,… xa lạ khó
hiểu, muốn hiểu được phải nhờ sự cắt nghĩa giảng giải của giáo viên, không phải
là sự hiểu trực tiếp do đó hạn chế sự rung cảm, hứng thú ở các em.
2. Do khoảng cách về văn hóa, khái niệm về hệ giá trị khiến học sinh khó tiếp
nhận và cảm thụ đầy đủ được giá trị quý báu của thơ cổ.
3. Thứ ba thi pháp của thơ trung đại Việt Nam có ảnh hưởng rất sâu đậm từ văn
học cổ Trung Quốc vì vậy học sinh cảm thấy xa lạ với các tác phẩm thơ trung
đại Việt Nam.
Biết rằng, dạy học các văn bản văn học trung đại là hết sức khó khăn nhưng
thiết nghĩ cần có một số biện pháp dạy học để cả người dạy và người học đều có
niềm vui khi dạy và học từ đó tạo hiệu quả cho giờ đọc- hiểu thơ trung đại.
2.3. Một số biện pháp cụ thể.
2.3.1 Hướng học sinh tiếp cận tác phẩm từ góc độ thi pháp.
Bản chất của quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học là người đọc phải là người
đồng sáng tạo. Nếu đứng ở góc độ thi pháp thơ trữ tình trung đại giáo viên biết
gợi mở cho học sinh để các em phát hiện ra những điểm mới mẻ thì bài học sẽ
trở nên hấp dẫn lôi cuốn.
Tuy nhiên dù có tiếp cận thơ trung đại ở góc độ nào đi nữa thì cũng phải chú ý
đến mạch cảm xúc của nó. Bản chất của thơ là trữ tình. Đặc trưng của thơ cổ
phương Đông là trọng về gợi, “tả cảnh ngụ tình”. Điều đó xuất phát từ tư duy
“cầu tính tổng hợp” “thâm mặc huyền ảo” nghiêng về cảm xúc, cảm giác của
người phương Đông[6] . Thưởng thức thơ trữ tình trung đại Việt Nam, để đến
được với “hồn thơ”, người đọc phải mở rộng hồn mình phối hòa với tất cả các
giác quan, phải trải lòng ra cho mạch thơ tuôn chảy, cho chất thơ lan tỏa. Điều
đó tạo cho người học sự hứng thú khi học thơ trữ tình trung đại. Học sinh không
nghiêm mang tính giáo huấn của văn chương khi lên chùa mà vẫn “ Gót tiên
theo đủng đỉnh một đôi dì”. Đó chính là tinh thần hiện đại làm nên giá trị nhân
văn mới mẻ của thơ Nguyễn Công Trứ. Đó chính là hiện đại hóa giá trị nội dung
tư tưởng của bài thơ.
2. 3.2. Dùng phương pháp đối chiếu so sánh.
Đây là một phương pháp lập luận học sinh được học trong chương trình Ngữ
văn lớp 10. Vận dụng phương pháp này giáo viên không những giúp học sinh
phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc các giá trị hiện đại của văn học trung
đại mà còn tích hợp được các kiến thức và khơi dạy tính tích cực chủ động của
học sinh trong học tập. Dùng phương pháp đối chiếu so sánh là đã tạo ra tình
huống có vấn đề trong học tập giúp học sinh phát huy tối đa khả năng sáng tạo,
liên tưởng của bản thân. Và học sinh sẽ cảm thấy hứng thú khi tìm thấy những
điều mới mẻ.
Giáo viên cần dùng phương pháp đối chiếu, so sánh theo kiểu liên tác phẩm.
Trên cơ sở đối chiếu so sánh giáo viên giúp học sinh nhận thấy chất hiện đại,
hơi thở của cuộc sống trong từng ý thơ, tứ thơ, trong ngôn từ, hình ảnh của thơ
trữ tình trung đại. Có như vậy học sinh mới thực sự cảm nhận được giá trị đích
thực của tác phẩm, cảm thấy hào hứng khi học thơ trung đại.
Chẳng hạn khi cho học sinh đọc bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão có thể
so sánh với những bài thơ thời chống Mỹ như Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh
Xuân, Bài ca Xuân 1968 của Tố Hữu để học sinh cảm nhận về tư thế của người
tráng sĩ trong thơ Phạm Ngũ Lão với tư thế của anh Giải phóng quân trong thơ
Lê Anh Xuân, thơ Tố Hữu từ đó thấy rằng hào khí Đông A vẫn tồn tại trong hào
khí của dân Việt Nam thời chống Mỹ. Đó chính là hiện đại hóa cảm hứng của
bài thơ.
Hay khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du cần
so sánh, liên hệ với bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu để thấy mạch
nối giữa xưa và nay giữa truyền thống và hiện đại từ đó tạo nên sự hấp dẫn đối
với học sinh.
Khi dạy bài thơ Câu cá mùa thu( Thu điếu) của Nguyễn Khuyến giáo viên có
Ở đây chúng tôi chỉ lược ra một số điểm lưu ý có vận dụng các phương pháp
nêu trên chứ không trình bày toàn bộ bài giảng.
-Phần I. Tìm hiểu chung .
Có thể cho học sinh tìm chất hiện đại qua việc tìm hiểu xuất xứ của bài thơ.
Đặt câu hỏi cho học sinh : Bài thơ thuộc phần Bảo kính cảnh giới (Răn dạy
mọi người) trong “ Quốc âm thi tập” nhưng nội dung bài thơ lại là Cảnh ngày
hè, em có suy nghĩ gì về điều đó?
Giáo viên phải chỉ ra cho học sinh thấy được sự khác biệt trong cách cảm nhận,
cách tư duy của Nguyễn Trãi so với thời đại ông sống và sự gần gũi với chính
thế hệ các em trong đề tài của bài thơ.
-Phần II. Đọc- hiểu văn bản.
1. Từ đặc trưng thể loại giúp học sinh hiện đại hóa một số giá trị trong bài
thơ qua các câu hỏi sau:
- Nhận xét về câu đầu và câu cuối của bài thơ so với quy định của thể thơ thất
ngôn bát cú Đường luật thường thấy trong thơ trung đại Việt Nam? Từ đó chỉ ra
sự sáng tạo về thể loại của Nguyễn Trãi trong việc sử dụng câu thơ sáu chữ để
thể hiện tâm trạng và khát vọng của nhà thơ? Đó chính là tinh thần đân tộc hóa
và hiện đại hóa trong nghệ thuật của bài thơ.
- Em có nhận xét gì về hình ảnh “ Lao xao chợ cá làng ngư phủ” được sử dụng
trong bài thơ? Hình ảnh này so với đặc trưng của thơ trung đại là sử dụng những
thi liệu có sẵn trong sử sách thì nó có gì đặc biệt?
GV có thể giúp học sinh liên tưởng tới những âm thanh cuộc sống trong văn
chương hiện đại như bài thơ Tràng Giang của Huy Cận hay trong một số tác
phẩm khác. Từ đó giúp học sinh thấy được chất hiện đại trong hồn thơ Nguyễn
9
NGUYỄN THỊ HOA
10 C
10 D1
10 D1
10 A1
10 A2
2012-2013
2013-2014
2014-2015
2015-2016
2016-2017
HS hứng thú
với tiết học
80%
90%
95%
100%
100%
HS chưa hứng thú
với tiết học
20%
10%
5%
0%
0%
2.4.2. Bằng quan sát trực tiếp:
Không khí lớp học rất sôi nổi.
Tạo được niềm đam mê, hứng thú cho học sinh trong giờ đọc văn nói
chung và đọc thơ trữ tình trung đại Việt Nam nói riêng luôn là điều mong mỏi
của mỗi thầy cô giáo dạy ngữ văn có tâm huyết với nghề. Bởi vậy việc hiện đại
hóa một số giá trị của thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THPT thúc đẩy
việc đưa môn ngữ văn trở thành cầu nối giữa nghệ thuật và cuộc sống giữa quá
khứ và hiện tại, giữa cha ông với cháu con. Điều đó giúp cho học sinh tiếp nhận
được những tinh hoa văn học dân tộc đồng thời tạo nên sự trường tồn cho văn
học trung đại Việt Nam.
Muốn tạo cho học sinh hứng thú trong học văn nói chung và học thơ trữ
tình trung đại Việt Nam nói riêng người dạy cần có vốn kiến thức phong phú, có
những biện pháp thích hợp và sáng tạo, cần có tâm huyết với nghề để từ đó cùng
học sinh cảm nhận chất hiện đại trong các tác phẩm thơ trữ tình trung đại.
Từ thực tế áp dụng tại trường THPT Quảng Xương 3, tôi mạnh dạn nêu
kinh nghiệm nhỏ này để trao đổi cùng đồng nghiệp, rất mong được sự góp ý của
các bạn.
3.2. Kiến nghị.
Đề nghị sở giáo dục và đào tạo phổ biến những sáng kiến kinh nghiệm
đạt giải A cấp ngành về các trường THPT để mọi CBGV học tập, áp dụng.
Sầm Sơn, ngày 4 tháng 05 năm 2017.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của bản thân không sao chép.
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Hoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
7.
Thi pháp học- NXBGD 2005
8.
Những thế giới nghệ thuật thơ – Trần Đình Sử-NXBGD -1995
DANH MỤC
13
NGUYỄN THỊ HOA
Sáng kiến kinh nghiệm
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng Trường THPT Quảng Xương 3
TT
1.
Tên đề tài SKKN
Cách đặt câu hỏi tạo tình huống
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Năm học
đánh giá xếp
loại
có vấn đề cho một bài giảng văn
2.
ở trường phổ thông trung học
Chất nhân văn của ngòi bút
Nguyễn Khải qua nhân vật Đào
3.
trong tác phẩm Mùa lạc
Một số biện pháp tạo hứng thú
cho HS trong giờ lý luận văn
học- Chương trình Ngữ văn
4.
THPT
Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả giờ đọc thơ Đường- Chương
trình Ngữ văn 10 THPT