TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ KINH tế THỊ TRƯỜNG ở các QUỐC GIA và VÙNG LÃNH THỔ NICS CHÂU á và ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
I.

2
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở CÁC QUỐC GIA

1.
2.
3.

VÀ VÙNG LÃNH THỔ NICS CHÂU Á
Nước công nghiệp mới
Bốn con rồng châu Á.
Kinh tế thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ

3
3
3
8

II.

NICS Châu Á.
PHÁT TRIỂN NỀN KTTT ĐỊNH HƯỚNG

1.
2.

XHCN Ở VIỆT NAM.

nghiệp mới, nền kinh tế thị trường ngày càng mở, cho phép tự do thương mại
với các nước trên toàn thế giới; các tập đoàn quốc gia lớn bành trướng hoạt
động ra toàn cầu…Bên cạnh nhiều ưu việt của nền kinh tế thị trường ở các
nước NICS, cũng còn có những hạn chế nhất định. Với quan điểm, phát huy
hiệu quả nội lực kết hợp thu hút các nguồn ngoại lực, chủ động nghiên cứu
tìm tòi để sáng tạo, quyết định và thực hiện mô hình kinh tế thị trường phù
hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình. Đảng ta khẳng định:
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là đường
lối chiến lược nhất quán trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, chúng ta luôn học tập các kinh nghiệm quý báu được rút ra rừ quá
trình thực hiện của các nước trên thế giới nói chung và các nước NICS nói
riêng. Chính vì vậy, bản thân chọn đề tài: “Kinh tế thị trường ở các quốc gia
và vùng lãnh thổ NICS Châu Á và vấn đề phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam ”.


3

NỘI DUNG
I.

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG

LÃNH THỔ NICS CHÂU Á.
1. Nước công nghiệp mới.
Nước công nghiệp mới (Newly Industrialized Country - NIC) là từ
ngữ kinh tế - xã hội sử dụng bởi các nhà kinh tế, lý luận chính trị để chỉ một
quốc gia mới công nghiệp hóa trên thế giới. Đây là các quốc gia chưa đạt
được trình độ tiến bộ kinh tế xã hội như các nước thuộc thế giới thứ nhất

Bốn con hổ châu Á giờ đây đã đạt trình độ tương đương các nước phát
triển với tiến trình cởi mở chính trị, GDP trên đầu người cao, và chính sách
kinh tế mạnh mẽ, hướng về xuất khẩu. Các quốc gia và vùng lãnh thổ này có
chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức hơn 90% chỉ số trung bình của Liên
minh châu Âu, riêng Hàn Quốc là thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD). Đôi khi "Bốn con hổ châu Á" được gọi là các nước
công nghiệp mới thế hệ thứ nhất để phân biệt với các nước công nghiệp hóa đi
sau. Những nét chính về quá trình giành độc lập và sự phát triển cuả một con
rồng nổi trội nhất trong 4 con rồng châu Á.
SINGAPO. Với diện tích khoảng 652 km2, Singapor vốn là thuộc địa
của nhiều nước đế quốc. Những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ II, nền
kinh tế Singapor hầu như không có gì. Cuộc đấu tranh giành độc lập: Trong
chiến tranh thế giới thứ hai (1945), Singapo bị Nhật chiếm đóng (1942-1945)
và bị đổi tên thành Senan (có nghĩa là “ảnh hưởng Phương Nam”). Sau khi
Nhật đầu hàng, tháng 9/1945, quân đội Anh quay trở lại Singapo và lập lại
nền thống trị cuả mình. Thực dân Anh đã thi hành chính sách mở cửa ở
Singapo, vì vậy, nhanh chóng trở thành một trung tâm buôn bán lớn nhất ở
Đông Nam Á. Trước sức ép cuả cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cuả
người dân Singapo và sự lớn mạnh cuả phong trào giải phóng dân tộc ở khu
vực, thế giới, năm 1957, cùng với việc công nhận nền độc lập cuả Malayxia,
Anh phải thừa nhận nền độc lập Singapo. Năm 1963, Singapo gia nhập liên
bang Malayxia, nhưng hai năm sau tách ra thành nước Cộng hoà Singapo.


5

Công cuộc xây dựng đất nước: Bắt đầu từ 1963, Singapo đã tìm được
những bước đi thích hợp cho mình, và đưa đất nước vào thời kỳ phát triển
mới với những điều “thần kỳ” trong sự phát triển kinh tế. Sau ba thập kỷ xây
dựng và phát triển kinh tế Singapo đã bước vào hàng ngũ các “nước công

chấm dứt tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Hàn Quốc vô cùng khó khăn.
Những khó khăn khi bước vào xây dựng đất nước như: Chính trị không ổn
định; GDP bình quân đầu người thấp (đạt 83 USD năm 1961). Năm 1962,
Hàn Quốc tìm cách vượt qua nhiều trở ngại thử thách để phát triển đất nước.
Kinh tế - Xã hội có sự thay đổi từ thập niên 60 của thế kỉ XX : Tỉ lệ tăng
trưởng hàng năm 8%. Từ năm 1962 đến năm 1991, Tổng sản phẩm quốc dân
(GNP) tăng 130 lần CHDCND Triều Tiên). Cơ cấu kinh tế thay đổi : Tỉ trọng
nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân giảm 36,6 % xuống 5% GNP), công
nghiệp tăng (24,1 % lên 50%). Từ một nước nghèo nàn lạc hậu, sau 30 năm, Hàn
Quốc, đã trở thành một nước công nghiệp mới (NIC) và là một con “Rồng”
trong bốn con “Rồng kinh tế” ở châu Á. Có nền công nghiệp phát triển, nông
nghiệp tiên tiến, cơ sở hạ tầng hiện đại, là một xã hội thông tin cao (hệ thống
đường cao tốc phát triển với 1720 km (năm 1998), mạng lưới tàu điện ngầm ở
thủ đô đứng thứ 6 thế giới...), có nhiều sản phẩm nổi tiếng trên thế giới như: máy
ghi hình, catxet, máy tính điện tử v.v… Văn hoá, giáo dục tiên tiến (Giáo dục bắt
buộc từ 6 đến 12 tuổi). Công tác giáo dục được coi trọng. Trong vài thập niên
gần đây giữa miền Nam, Bắc Triều Tiên đã tiến hành nhiều cuộc hội đàm cao
cấp nhằm giải quyết vấn đề thống nhất đất nước.
ĐẶC KHU HÀNH CHÍNH HỒNG CÔNG. Hồng Công nằm bên bờ
biển Nam Trung Hoa, Hồng Công không có tài nguyên, điều kiện khí hậu
không thuận lợi. Một thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ II, tình trạng nghèo
nàn vẫn bao trùm lên hòn đảo này với dân cư đông đúc.
Vài nét về lịch sử Hồng Công: Đặc khu hành chính Hồng Kông ngày
nay bao gồm đảo Hồng Kông, bán đảo Cửu Long, khu Tân Giới và 262 các


7

hòn đảo lớn nhỏ; phía bắc tiếp giáp với Đặc khu kinh tế Thâm Quyến thuộc
tỉnh Quảng Đông, phía đông là vịnh Đại Bằng, phía tây là cửa Chu Giang và

Nhập khẩu chủ yếu từ: Trung Quốc (chiếm tỷ lệ 45%), Nhật Bản (11%), Đài
Loan (7,2%), Singapore (5,8%), Hoa Kỳ (5,1%), Hàn Quốc (4,4%).
Cán cân thanh toán: Số dư tài khoản thanh toán là 19,7 tỷ USD (năm 2005).
Dự trữ ngoại tệ và vàng: 124,3 tỷ USD (năm 2005), đứng thứ 7 trên thế giới.
Nợ nước ngoài: 72,04 tỷ USD (năm 2005) Tỷ giá hối đoái: 1 USD = 7,7988
HKD (2001), 7,7989 (2002), 7,7868 (2003), 7,788 (2004), 7,7773 (2005).
Lượng du khách đến Hồng Kông: 23,36 triệu người (năm 2004), đứng thứ 7
trên thế giới.
3. Kinh tế thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á.
Phải khẳng định rằng, mô hình này là sản phẩm của thời đại mới. Một
mặt, nó vừa hội tụ được ưu điểm của con đường phát triển rút ngắn cổ điển
nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển KTTT hiện đại với sự điều tiết mạnh
và “thông minh” của nhà nước, mặt khác, có sự khác biệt cơ bản so với mô
hình phát triển rút ngắn cổ điển ở mức độ sử dụng tư bản nước ngoài và độ
mở cửa kinh tế. Tuy có những nét riêng biệt, nhưng sự phát triển kinh tế thị
trường các nước và vùng lãnh thổ NICS Châu Á có những đặc điểm chung cơ
bản giống nhau, đó là:
Thứ nhất, xác định và thực thi vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế
thị trường.Tiêu chuẩn lý tưởng của cơ chế vận hành kinh tế là vừa kích thích
sức sống và động lực phát triển kinh tế, lại vừa đảm bảo vận hành nền kinh tế
một cách cân đối, nhịp nhàng. Từ đây, bốn con rồng châu Á đã thiết lập hai cơ
chế vận hành vừa dị biệt lại vừa có điểm tương đồng: cơ chế kết hợp điều tiết
thị trường ở mức cao nhất với sự can thiệp của chính phủ ở mức thấp nhất và
cơ chế kết hợp “chính phủ cứng” với “thị trường mềm”. Trong khi cơ chế
đầu nhấn mạnh sự điều tiết thị trường, thì cơ chế sau lại coi trọng vai trò chủ
đạo của chính phủ. Chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á


9


10

tham gia vào hệ thống phân công quốc tế và phát triển trong thời đại toàn
cầu hóa. Nhưng điều này lại tùy thuộc vào vị trí của quốc gia cũng như
mức độ liên kết với nền kinh tế thế giới, nói cách khác, tùy thuộc vào
chính sự phát triển sức sản xuất của quốc gia đó. Trong quá trình cất cánh,
các con rồng châu Á đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa mậu dịch
đối ngoại và phát triển kinh tế, biến ngoại thương thành động lực chủ yếu
cho tăng trưởng. NICS Châu Á tuy có thực hiện sản xuất thay thế nhập
khẩu, nhưng chỉ trong thời gian ngắn, không đáng kể. Vì vậy có thể nói
rằng chiến lược “hướng ngoại”, hướng về xuất khẩu là chiến lược chủ yếu
trong đường hướng phát triển của NICS Châu Á. Công nghiệp hóa hướng
về xuất khẩu được thực thi một cách nhất quán theo phương thức: vốn, kỹ
thuật, phương pháp quản lý hiện đại là của các công ty xuyên quốc gia,
còn lao động và nguyên liệu (một phần nào đó) là của nước sở tại và thị
trường tiêu thụ là các nước công nghiệp phát triển. Gắn liền song song với
phương thức phát triển như vậy là hệ thống giải pháp, chính sách để
khuyến khích xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài rất hữu hiệu.
Thực tiễn NICS Châu Á chứng minh rằng, mở cửa kinh tế; gắn sự phát
triển kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, gắn sự phát triển thị trường trong
nước với thị trường thế giới là con đường phát triển có hiệu quả nhất trong
thời đại ngày nay. Kể từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, các nước này đã luôn
giữ tốc độ phát triển mậu dịch đối ngoại vượt xa tốc độ của các nước phát
triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp… Đóng góp quyết định cho thành tích mậu dịch
đối ngoại phải kể đến: sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kiên
định với sách lược xuất khẩu linh hoạt, đa dạng; tích cực xây dựng căn cứ
mậu dịch xuất khẩu- khu gia công xuất khẩu (khu chế xuất) và vườn ươm
KH- CN, tạo môi trường tốt cho công nghiệp xuất khẩu; về phía chính phủ
cũng có những chính sách nhằm ưu tiên và tổ chức dịch vụ xuất khẩu.


dịch đều qua mạng mà trước hết là giữa tất cả các trường học.


12

Thứ năm, đẩy mạnh sự hình thành và phát triển các loại thị trường, đặc
biệt là thị trường tài chính – tiền tệ và thị trường sức lao động; gắn với củng
cố, kiện toàn và hiện đại hóa hệ thống tài chính, ngân hàng.
Tóm lại, các quốc gia, vùng lãnh thổ NICS Châu Á, một mặt vừa rất
tôn trọng những nguyên tắc, quy luật, thể chế thị trường; vừa xác định đúng
giới hạn về sự can thiệp vào kinh tế của Nhà nước và không ngừng nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.
II.

PHÁT TRIỂN NỀN KTTT ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM.
1. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Thực tế trên cho thấy, thực tiễn và lý luận về mô hình kinh tế thị trường

hết sức phong phú, đa dạng và phức tạp, không thể áp dụng máy móc mô hình
kinh tế thị trường của nước này cho nước khác được. Nó luôn là bài toán đầy
thách thức đối với bất cứ nước nào muốn phát triển nền kinh tế thị trường. Do
đó mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cần thực sự cầu thị, khiêm tốn học hỏi kinh
nghiệm của các nước khác. Không nên rập khuôn, máy móc theo bất cứ một
mô hình ngoại lai nào. Thành công của các nước NICS cũng mở ra con đường
phát triển mới độc đáo, không giống với con đường hiện đại hóa và phát triển
KTTT phương Tây, cho thấy: khả năng kết hợp giữa văn hóa phương Đông
với văn minh công nghiệp và KTTT phương Tây để tạo ra một hình thái kinh
tế mới đầy sức sống. Nó khẳng định rằng, trong sự phát triển kinh tế của một
quốc gia hay khu vực, hoàn cảnh quốc tế tất nhiên là quan trọng, nhưng nhân
tố bên trong mới có ý nghĩa quyết định và không gì thay thế được. Để phát

và các chủ thể kinh tế tham gia thị trường được xây dựng, vận hành và hoạt
động sao cho vừa đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa đảm bảo thực hiện
công bằng xã hội ngày càng tốt hơn. Do đó, mô hình thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao giờ cũng gắn bó hữu cơ với những
bộ phận cấu thành phương thức sản xuất đang phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.

1 Ngụy Kiệt- Hạ Diệu. Bí quyết cất cánh của bốn con rồng nhỏ. Nxb CTQG, HN, 1993, Tr9.


14

Bản chất KTTT định hướng XHCN: Đây là kiểu tổ chức nền kinh tế
đặc biệt của xã hội đặc biệt – nền kinh tế quá độ của xã hội quá độ, đang
trong quá trình chuyển biến cách mạng từ nấc thang nọ sang nấc thang kia.
Do đó, nó vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của bản thân hệ thống
KTTT, lại vừa bị chi phối bởi những nguyên tắc và quy luật nằm ngoài hệ
thống KTTT. KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế quá độ thuộc dạng đặc
biệt: “tiến hóa- cải cách”, trong sự khác biệt với các bước quá độ thông thường:
“tiến hóa- tự nhiên”. Đây cũng là nền KTTT mới, có tổ chức, có kế hoạch, đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và sự quản lý của Nhà nước XHCN. Nó
hoạt động trên cơ sở kết hợp giữa nhận thức sự tất yếu khách quan với phát huy
vai trò năng động sáng tạo của chủ thể, có thể loại bỏ những khuyết tật và mặt
trái của thị trường, phát huy ưu thế của cả hai thể chế kế hoạch và thị trường,
nhằm phục vụ cho lợi ích chung, sự giàu mạnh và phồn vinh của đất nước, đặc
biệt, thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH và phát triển rút ngắn, đưa nước
ta hội nhập và trở thành quốc gia phát triển trong thế kỷ XXI.
Xét về mặt kinh tế, định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở nhiều phương
diện, nhiều khâu, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ việc vạch ra
đường lối chính sách, luật pháp đến quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện.

dân do Nhà nước nắm. Kinh tế nhà nước cần thông qua hợp tác liên doanh,
liên kết kinh tế với các thành phần kinh tế khác mà phát huy vai trò chủ đạo
để cùng với kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã, hợp thành nền tảng của
nền kinh tế quốc dân. Cùng với nền tảng đó là đa dạng hóa các hình thức sở
hữu, chú trọng phát triển hình thức sở hữu cổ phần, đa dạng hóa các thành
phần kinh tế và các thành phần kinh tế phi công hữu đều là những bộ phận
cấu thành quan trọng, tất yếu của nền kinh tế quốc dân.
Sở hữu là vấn đề quan trọng nhất, nhạy cảm nhất, có ý nghĩa sống còn
đối với mọi chế độ chính trị. Do đó, các thế lực thù địch trên thế giới thường
nhằm vào vấn đề sở hữu để chống phá. Chúng gây sức ép trong các mối quan
hệ để đòi chúng ta phải tư nhân hóa nền kinh tế và tìm mọi cách ủng hộ,
khuyến khích sở hữu tư nhân phát triển.


16

Cùng với việc xác định vị trí của chế độ sở hữu công cộng và cơ chế
thực hiện thì cần phân định các loại hình sở hữu và các thành phần kinh tế. Vì
đây là một công cụ rất quan trọng trong thực thi lãnh đạo, quản lý nền kinh tế.
Có phân định, chúng ta mới thấy được tỷ trọng của mỗi loại hình sở hữu và
của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Từ đó có giải pháp sát
hợp, hữu hiệu trong lãnh đạo, quản lý.
Về quan hệ tổ chức quản lý: Trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta về mặt tổ chức quản lý phải bảo đảm được sự gắn
kết hợp lý giữa 3 yếu tố cơ bản: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng, phát triển đất nước và Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, phản ánh đúng xu thế khách quan của thời đại và điều kiện cụ
thể của đất nước. Sự quản lý, điều hành phù hợp, có hiệu lực, hiệu quả của
Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân bằng một hệ
thống đồng bộ luật pháp, các chính sách, công cụ, phản ánh đúng ý Đảng,

nhập để bảo đảm cuộc sống, khắc phục những tư tưởng trông chờ, ỷ lại một
cách thụ động vào sự cứu trợ của Nhà nước và xã hội.
2. Những vấn đề đặt ra cho phát triển nền KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam.
Qua phân tích đặc điểm một số mô hình kinh tế thị trường của các
nước, một mặt vừa cho chúng ta thấy tiến trình vận động, phát triển của kinh
tế thị trường nhân loại; mặt khác, qua những mô hình kinh tế thị trường khác
nhau đó, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của
Việt Nam như sau. Trong thời gian tới, để phát triển nền KTTT định hướng
XHCN chúng ta cần tập trung làm tốt một số vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, đổi mới vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng
Sản, Đảng phải thực sự tiên phong đổi mới trong tư duy lý luận, nhận thức về
KTTT và CNXH; phải thay đổi căn bản phương thức lãnh đạo và cầm quyền
theo kiểu tập trung cao độ, bao biện, làm thay chính quyền và bao trùm lên
chính quyền, chuyển sang quản lý đất nước theo pháp luật và xử lý tốt mối


18

quan hệ giữa Đảng và chính quyền; đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh
vực hình thái ý thức và công tác tư tưởng.
Thứ hai, hoàn thiện vai trò Nhà nước XHCN và cơ chế quản lý và phát
huy vai trò các tổ chức trong hệ thống chính trị. Xây dựng và hoàn thiện cơ
sở pháp luật- thể chế, đảm bảo các điều kiện cho sự hình thành và hoạt động
hiệu quả của thị trường. Gắn liền với thực thi dân chủ trong kinh tế, chính trị,
xã hội là tăng cường và nâng cao vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô, hiệu lực, hiệu
quả quản lý xã hội của Nhà nước. Yêu cầu đặt ra ở đây trước hết là phân biệt
vai trò, chức năng kinh tế của Nhà nước với sự can thiệp trực tiếp của Nhà
nước vào những hoạt động kinh tế có tính nghiệp vụ trong từng doanh nghiệp.

lao động; mở rộng bàn bạc thảo luận công khai dân chủ để vừa tạo sự nhất trí
về tư tưởng, hành động và sự đồng thuận, đồng hướng về lợi ích; vừa đảm
bảo lợi ích hợp pháp của người lao động và của người sử dụng lao động. Trên
cơ sở đó vừa phát huy hết trí tuệ, tính năng động sáng tạo cá nhân, vừa đảm
bảo kỷ cương, phép nước và sự phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng,
mục tiêu thống nhất.
Thứ ba, điều hòa tốt mối quan hệ lợi ích giữa các nhóm xã hội, tăng
cường sự thống nhất về mục tiêu, động lực và hành động cho toàn xã hội.
Kết hợp hài hòa giữa đảm bảo phúc lợi xã hội với tạo điều kiện cho mỗi cá
nhân được tự do tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, tự do cạnh
tranh, tự do trao đổi trong khuôn khổ luật pháp và trên cơ sở tín hiệu, sự điều
tiết của thị trường. Nhờ đó vừa cho phép khai thác có hiệu quả cao tiềm lực
(về vốn, tay nghề, tư liệu sản xuất…) của mỗi cá nhân trong xã hội để kích
thích năng lực nội sinh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tận dụng
triệt để những ưu thế của thị trường; vừa hạn chế được sự phân cực giàu –
nghèo do thuộc tính của thị trường gây ra. Đường lối nhất quán chính sách
kinh tế nhiều thành phần và gần đây nhất là Nghị quyết TW 5 ( khóa IX ) về
phát triển kinh tế tư nhân; kinh tế tập thể; công nghiệp hóa hiện, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, cùng
những thành tựu xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa; xóa đói, giảm


20

nghèo; chương trình phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn … ở
nước ta thời gian qua, được thế giới đánh giá cao là những minh chứng
cho sự kết hợp hài hòa giữa đảm bảo phúc lợi xã hội với phát triển kinh tế
thị trường tư nhân phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đồng thời,
những chính sách, thành tựu đó cần tiếp tục được thực thi một cách nhất
quán với hiệu quả ngày càng cao hơn.

ngắn nếu không dựa vào khoa học và công nghệ tiên tiến nhất, do đó phải đi
tắt trong phát triển khoa học và công nghệ. Tích cực chủ động áp dụng công
nghệ hiện đại, công nghệ tiên tiến của thế giới vào phát triển tất cả các ngành
kinh tế xã hội. Trong thời gian tới phải tăng nhanh năng lực khoa học, công
nghệ có trọng tâm, trọng điểm và đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, tổ chức, cơ chế
quản lý, cơ chế hoạt động khoa học, công nghệ, trong đó coi trọng việc đào
tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực bậc cao, đặc biệt là các nhân tài và phát triển
các khu công nghệ cao là giải pháp quan trọng để phát triển công nghệ cao.
Chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học, công nghệ làm nền tảng
cho phát triển kinh tế tri thức như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ môi trường..và hình thành hệ thống đánh
giá kết quả, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ. Vấn đề quốc sách
hàng đầu đó là phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo và phấn
đấu xây dựng một xã hội học tập, tạo cơ hội, điều kiện cho mọi người được
học tập suốt đời.
Tóm lại, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là mô
hình chưa có tiền lệ trong lịch sử cả về lý luận lẫn thực tiễn. Vì vậy, vừa phải
tiến hành trong thực tiễn, nhưng đồng thời cũng phải không ngừng nghiên cứu
để khái quát thành lý luận. Và đây là quá trình phát triển lâu dài, trải qua
nhiều giai đoạn; đòi hỏi phải thực thi có hiệu quả cao đồng bộ nhiều giải
pháp, chính sách khác nhau một cách linh hoạt, uyển chuyển.


22

KẾT LUẬN
Nền kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đương
đại. Đây là thành tựu chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản
phẩm mang tính đặc thù của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, việc áp dụng và
thực hiện mô hình kinh tế thị trường trên thế giới rất phong phú, đa dạng. Ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status