ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
Nhân kỷ niệm 63 năm ngày thành lập QĐNDVN ngày 22/10/1944- 22/12/2007 và 18 năm
ngày hội Quốc phòng toàn dân 22/12/1989 – 22/12/2007.
I/ SƠ LƯC TÌNH HÌNH TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN TRỖI
Khoảng tháng 7-8 năm 1993 sau khi đươc cháp thuận của Ban giám hiệu Trường TH
Thống Nhất hồi đó chỉ có 4 lớp, từ lớp 1 đến lớp 4. Do cô Sơn làm Hiệu trưởng, cho phép tập
đoàn 9 mở 2 lớp học gồm 21 học sinh chia thành 2 lớp. Lớp 1 có 12 hs, lớp 2 có 9 hs, vận động
được 2 GV ra đứng lớp là: 1. cô Lý Thò Nấm, 2. cô Bế Thò Mùi. Đó là sự cố gắng của tập thể
nhân dân lúc bấy giờ do ông Ma Văn Thái, Nông Văn Tư làm chủ trì.
Có được như ngày hôm nay Nhà trường đã lớn lên không ngừng và vinh dự được mang
tên vò Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn văn Trỗi.
Vậy anh hùng Nguyễn Văn Trỗi là ai?. Anh quê ở huyện Điện Bàn - tỉnh Quảng Nam
vào Sài Gòn làm công nhân điện lực tham gia biệt động thành. Năm 1964 trong chuyến công
du của tên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ là Macnavara sang Việt Nam nghiên cứu về chiến lược
ngăn chặn cộng sản Bắc việt. Sau khi nghiên cứu kỹ đường đi, tổ của anh Trỗi đã đặt mìn tại
cầu Công lý nối giữa sân bay Tân Sơn Nhất với sứ quán Mỹ tại sài Gòn. Sự việc bò bại lộ, tổ
của anh bò bắt và anh Trỗi đã nhận tất cả về mình và bò kết án tử hình. Trước khi sử bắn anh
còn kòp hô “ Đả đảo đế quốc Mỹ, đả đảo Nguyễn Khánh” “Hồ Chí Minh muôn năm, Việt Nam
muôn năm” (3 lần). Đó là một hình ảnh một tinh thần kiên cường, trước cái chết vẫn còn hô to
khẩu hiệu vì một nước Việt nam độc lập. Vì tổ quốc và nhân dân đã hi sinh anh dũng. Tưởng
nhớ đến công lao, tinh thàn anh hùng kiên cường của ông, được sự đồng ý của Sở GD tỉnh –
Phòng GD Bù Đăng đã đặt tên cho trường ta là Nguyễn Văn trỗi.
Tất cả chúng ta đang ngồi đây phải biết đạo lý: “ù Uống nước nhớ nguồn” luôn tưởng nhớ
đến những công lao hi sinh to lớn của hàng triệu người mới giành được tự do độc lập như ngày
hôm nay. Phải tích cực học tập trở thành người con ngoan, trò giỏi, thấm nhuần tư tưởng của
Bác Hồ qua câu nói của người: “ Học, Học nữa, Học mãi” học để làm người, học để làm cán
bộ, học để phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. Muốn đạt được mục đích ấy phải: “ Cần- Kiệm –
Liêm – Chính, Chí Công Vô Tư” đó là hoài bão lớn của Chủ tòch Hồ Chí Minh luôn mang
cho chúng ta.
II/ LỊCH SỬ NGÀY THÀNH LẬP QĐNDVN, NGÀY QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN
(22/12/1944- 22/12/2007 VÀ 22/12/1989 – 22/12/2007 )
giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức lãnh đạo và tuyên bố thành lâïp đội. Đội gồm 34
người trong đó có 3 nữ, chia thành 3 tiểu đội, có Chi bộ Đảng lãnh đạo. Vũ khí gồm 34 khẩu
súng các loại, sau lễ thành lập cả đội đã ăn một bữa cơm nhạt không rau, không muối để tượng
trưng cho tinh thâøn chòu đựng gian khổ của người chiến só Cách mạng.
Cách mạng tháng 8 thành công VN Tuyên truyền giải phóng quân đổi tên thành Vệ
Quốc Quân và sau đó có tên là Quân đội giải phóng Việt Nam. Năm 1990 theo NQTW II của
Bộ chính trò ngày 22/12 hàng năm trở thành ngày quốc phòng toàn dân.
III/ NHỮNG TRANG SỬ HÀO HÙNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Ngay từ khi thành lập Đảng ngày 03/02/1930 Chủ tòch Hồ Chí Minh đã đề cập việc tổ
chức ra quân đội Công Nông. Luận cương tháng 10/1930 Đảng ta chỉ rõ nhiệm vụ vũ trang cho
Công Nông, lập ra quân đội Công Nông và tổ chức tự vệ cho Công Nông.
Mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang ta là ở những năm 1930-1931 khởi nghóa trong Xô
Viết Nghệ Tónh và đã ra đời tự vệ từ đó của Quân đội CM Việt Nam
Từ cuối năm 1939 Cách mạng Việt Nam chuyển hướng chiến lược đặt nhiệm vụ trọng tâm
vào giải phóng dân tộc, tích cực cho cuộc khởi ngĩa vũ trang giành chính quyền. Ngày 22/12/1944
theo Chỉ thị của Chủ tòch Hồ Chí Minh đội VN Tuyên truyền giải phóng quân đđược thành lập.
Chỉ sau 3 ngày chính thức thành lập, ngày 25-26/12/1944 đội VN Tuyên truyền giải
phóng quân đđược lập chiến cơng trong trận Phay Khắt- Nà Ngần xây dựng nên truyền thống “Ra
qn chiến đấu trận đầu” đến tháng 4/1945 tại Hội nghị CS Bắc kỳ của Đảng, đồng chí Trường
Chinh chủ trì họp hợp nhất các lực lượng vũ trang trong cả nước thành lập “ Việt Nam giải phóng
qn”.
Cách mạng tháng 8/1945 thành cơng, Việt Nam giải phóng qn tên thành Vệ quốc qn và
sau đó đổi tên là Qn đội giải phóng Việt Nam. Đến năm 1950 chính thức lấy tên là “Qn đội
nhân dân Việt Nam”.
Qua 63 năm chiến đấu xây dựng và trưởng thành dưới là có vinh quang của Đảng từ lực
lượng nhỏ bé, vũ khí thơ sơ, tiến lên tác chiến bằng những trung đồn với những vũ khí, khí tài
hiện đại và giành được rất nhiều chiến thắng làm sáng ngời chân lý bất hủ của Chủ tòch Hồ Chí
Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là từ năm 1950ta mở chiến dòch biên giới giải
phóng một vùng rộng lớn nối liền với các nước XHCNbawngf cuộc tấn công vào các điểm
Đông Khê trê cuốc lộ số 4 nối liền từ Lạng Sơn đi Cao Bằng. Tiếp đó ta mới chiến dòch Thu
vì nhân dân mà chiến đấu. Tuyệt đối chung thành với Đảng với Cách mạng và Tổ quốc.
Truyền thống vẻ vang của quân đội ta khắc ghi vào trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Một nét son chói lọi chủ nghóa anh hùng cách mạng. Quân đội ta xứng đáng với danh hiệu vẻ
vang của một quân đội: “Trung thành vô hạn anh dũng tuyệt vời, chiến thắng vẻ vang” một
quân đội của Tổ quốc Việt Nam, của Dân tộc Việt Nam anh hùng.
III/ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LỰC LƯNG VŨ TRANG TỈNH BÌNH PHƯỚC.
1.Sự Hình Thành Lực Lượng Vũ Trang Tỉnh Bình Phước.
Sau khi thực dân pháp sâm chiếm nước ta lần thứ hai cũng là lúc lực lượng vũ trang các
tỉnh thành trong cả nước được thành lập. Bình phước trong những năm đầu có nhiều tổ chức
vũ trang tổ chức thành tiểu đội, trung đội ăn mặc quân phục màu nâu nên được gọi là: “Bộ đội
áo nâu”.
Năm 1945 được sự chỉ đạo của Sứ ủy Nam bộ xây dựng lực lượng vũ trang tại Lộc Ninh
chính quyền cách mạng đã phân công đồng chí Lê Đức Hạnh phụ trách quân sự và trực tiếp
xây dựng lực lượng vũ trang.
Ngày 21/11/1945 lực lượng vũ trang nam bộ thống nhất sự chỉ huy và chia thành 25 chi đội
(chi đội trưởng đứng 1 trung đoàn ) Lộc Ninh- Hớn quản thuộc chi đội Thủ Dầu Một.
Tháng 3/1948 chi đội 1 trở thành trung đoàn 901-902-903 phụ trách Hớn Quản – Lộc Ninh tiểu
đoàn 903 gồm có 3 đại đội (2707- 2708- 2709).
Tháng 2 năm 1953 đội vũ trang tuyên truyền của Tỉnh được thành lập và hoạt động trên đòa
bàn Hớn Quản – Lộc Ninh kết hợp với tiểu đoàn 303 của tỉnh Thủ Biên (Thủ Dầu Một và Biên
Hòa).
Các tổ chức quân sự tồn tại cho đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.
Đầu năm 1957 tỉnh ủy Thủ Dầu Một (có Bình Phước ngày nay ) bắt tay vào xây dựng lực lượng
vũ trang và bán vũ trang.
Tháng 8/1960 tỉnh thành lập C 270 (thực chất chỉ có 1 trung đội). Đầu năm 1961 tại Bình
Long cùng kết hợp với K (tương ứng với Huyện).
Cuối năm 1965 tỉnh ủy chủ trương thành lập các C như: C271, C273 bộ binh, C14 chợ
chiến, C15 đặc công trinh sát cùng với lực lượng vũ trang huyện.
2. Những Đóng Góp Và Những Chiến Thắng Điển Hình Trong 2 Cuộc Kháng Chiến.
a,Những Đóng Góp.
nghìn súng các loại, 10 nghìn đạn pháo, bắn rơi 5 máy bay, giải phóng trên 50 nghìn nhân dân
tỉnh Phước Long.
Ngày 14/12/1974 ta tiến công Huyện lỵ Bù Đăng cắt đứt quốc lộ 14 giữa Ban Mê Thuật và
Đồng Xoài. Làm cho đòch hoang mang lo sợ dẫn đến thất bại mặt trận Tây Nguyên tháng
3/1975.
Xã Thống Nhất hôm nay trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ trước đây là căn cứ cách
mạng nơi giao lưu giữa vùng chiến khu D rộng lớn từ La Ngà- Trò An- Tiêu Uyên- Tà thiết Lộc
Ninh……là khu căn cứ trung ương cục Miền Nam. Nên là nơi hứng chòu nhiều bom đạn nhưng
nhân dân xã vẫn một lòng theo cách mạng, tin tưởng vào ngày thắng lợi cuối cùng của cuộc
kháng chiến đã đóng góp sức người, sức của bằng hàng ngàn tấn gạo, ngô, khoai.quân dân xã
Thống Nhất đã đánh hơn 36 trận lớn nhỏ tiêu diệt và bắt sống 430 tên đòch, bắn cháy 3 xe
tăng, bắn rơi 6 máy bay, phá hủy nhiều khẩu pháo và nhiều quân dụng của đòch. Ngay tại điểm
trường ta ngồi đây trước đây là khu hủy xe chiến lợi phẩm. Từ năm 1972 ta tập kích Đồng Xoài
thu được của đòch chở hàng đến đây rồi phá hủy xe. Với chiến công hào hùng của cả dân tộc
nhân dan xã thống nhất nói riêng ngày 22/08/1988 nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã
Thống Nhất được nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là vinh dự tự
hào của nhân dân xã nhà. Với chúng ta ngồi đây cần phải làm gì biến sự anh hùng của các lớp
cha anh đi trước thể hiện bằng hành động, việc làm noi theo tấm gương của bậc cha anh đi
trước thường dậy rằng: “Lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò” xây dựng trường chúng ta trở
thành một điểm trường kiểu mẫu xứng đáng với danh hiệu một xã Thống Nhất anh hùng.