ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP TỈNH ĐẮK NÔNG
(01/01/2004 - 01/01/2014)
Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 15/8/2012 của Tỉnh ủy Đắk Nông về
một số hoạt động tiến tới kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Đắk
Nông (01/01/2004 - 01/01/2014), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã biên soạn và phát
hành Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Đắk Nông
(01/01/2004 - 01/01/2014) nhằm tuyên truyền rộng rãi đến cán bộ, đảng viên,
công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh nhận thức sâu sắc
về những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an
ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị sau 10 năm thành lập tỉnh Đắk
Nông và những định hướng phát triển cơ bản trong những năm tới. Báo Đắk
Nông điện tử xin đăng tải toàn bộ nội dung Đề cương như sau:
PHẦN I
MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI ĐẮK NÔNG
VÀ QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TỈNH
I. MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI ĐẮK NÔNG
1. Tổ chức hành chính, dân cư
Đắk Nông hiện có 8 đơn vị hành chính cấp huyện (Thị xã Gia Nghĩa và các huyện:
Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’Lấp, Krông Nô, Đắk G’Long, Tuy Đức); 71 xã,
phường, thị trấn. Diện tích tự nhiên: 6.514,38km².
Dân số đến cuối năm 2012 là 538.034 người. Mật độ dân số trung bình là
82,61người/km
2
, phân bố không đều, dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã,
thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ. Dân số đô thị chiếm 15,03%,
Dak Peur nối với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia.
Về địa hình, địa bàn tỉnh Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, độ cao
trung bình khoảng 600m đến 700m so với mặt nước biển, nơi cao nhất là 1.982m
(Tà Đùng). Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự
xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải,
lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng. Địa hình thung
lũng thấp, có độ dốc từ 0-3
0
chủ yếu phân bố dọc sông Krông Nô, Sêrêpôk, thuộc
các huyện Cư Jút, Krông Nô. Địa hình cao nguyên đất đỏ bazan chủ yếu ở các
huyện Đắk Mil, Đắk Song, độ cao trung bình 600 - 800m, độ dốc khoảng 5-10
0
.
Địa hình chia cắt mạnh và có độ dốc lớn > 15
0
phân bố chủ yếu trên địa bàn các
huyện Đắk G’Long, Đắk R'Lấp. Nhìn tổng thể, địa hình Đắk Nông như hai mái của
một ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nam Nung, có hướng thấp dần từ Đông
sang Tây.
b) Khí hậu thời tiết
Đắk Nông là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông
Nam Bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận
xích đạo, nhưng do sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao
nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. Mỗi
năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90%
lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa
không đáng kể.
d) Đất đai
Đắk Nông có tổng diện tích đất tự nhiên là 651.561 ha. Cấu tạo thổ nhưỡng khá
phong phú và đa dạng, nhưng chủ yếu gồm 05 nhóm chính: Nhóm đất xám trên
nền đá macma axit và đá cát chiếm khoảng 40% diện tích và được phân bổ đều
toàn tỉnh. Đất đỏ bazan trên nền đá bazan phong hóa chiếm khoảng 35% diện tích,
có tầng dày bình quân 120cm, phân bổ chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song. Còn lại là
đất đen bồi tụ trên nền đá bazan, đất Gley và đất phù sa bồi tụ dọc các dòng sông,
suối.
Về sử dụng: Đất nông nghiệp có diện tích là 306.749 ha, chiếm 47% tổng diện tích
tự nhiên. Trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm phần lớn diện tích.
Đất cây hàng năm chủ yếu là đất trồng lúa, ngô và cây công nghiệp ngắn ngày. Đất
lâm nghiệp có rừng diện tích là 279.510ha, tỉ lệ che phủ rừng toàn tỉnh là 42,9%.
Đất phi nông nghiệp có diện tích 42.307 ha. Đất chưa sử dụng còn 21.327 ha, trong
đó đất sông suối và núi đá không có cây rừng là 17.994 ha.
e) Tài nguyên khoáng sản
Đắk Nông đã phát hiện được khoảng 20 loại khoáng sản với trên 178 mỏ và điểm
quặng chủ yếu là bauxit, wolfram, antimoal, bazan bọt; bazan cột, bazan khối, cát
xây dựng, đá bazan, đá granit, sét gạch ngói, than bùn, opal, thiếc sa khoáng,
kaolin, nước khoáng thiên nhiên, saphir Trong đó, bô xít là nguồn khoáng sản có
trữ lượng lớn với trữ lượng dự đoán 5,4 tỉ tấn, trữ lượng thăm dò 2,6 tỉ tấn, hàm
lượng Al2O3 từ 35-40%. Ngoài ra còn có một số khoáng sản quí hiếm, như: vàng,
đá quí ngọc bích, saphir, opal…
3. Đặc trưng văn hóa –tín ngưỡng, tôn giáo.
Nguyên trên một địa bàn rộng lớn từ cao nguyên M’Nông, đến cao nguyên Đắk
Lắk và cả một phần của Campuchia. Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng là ngọn
cờ đầu chống Pháp, tiêu biểu cho truyền thống bất khuất, chống xâm lược của đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước, xây dựng và phát triển miền đất Đắk Nông được đánh dấu
bằng sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập trong nhà Ngục Đắk
Mil, năm 1943. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào các dân tộc M’Nông, Mạ… đã sớm giác ngộ và
đi theo cách mạng. Đắk Nông trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng, là địa
bàn trọng yếu ghi nhiều dấu ấn trong cả hai cuộc kháng chiến. Trong kháng chiến
chống Pháp, Đắk Nông là hậu cứ quan trọng của lực lượng Việt Minh ở Đắk Lắk.
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đắk Nông là địa bàn trọng yếu của hành
lang chiến lược Bắc – Nam, tuyến chiến lược quan trọng từ Nam Tây Nguyên vào
Đông Nam Bộ. Ngày 9/3/1975, trận đánh Đức Lập – Đắk Mil đã trở thành trận
đánh mở màn cho Chiến dịch Tây Nguyên lịch sử. Ngày 23/3/1975, Gia Nghĩa –
tỉnh lỵ Quảng Đức cũ được giải phóng, đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử hình
thành và phát triển Đắk Nông.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân
các dân tộc tỉnh Đắk Nông một mặt nhanh chóng ổn định tổ chức, ổn định đời sống
nhân dân, từng bước phát triển kinh tế-xã hội; mặt khác vừa phải tiến hành truy
quét, phá rã tổ chức Fulro, vừa phải chống trả sự gây hấn, xâm chiếm của lực
lượng Kh’me đỏ, giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới.
Ghi nhận những đóng góp của Đảng bộ, Chính quyền, quân và dân các dân tộc Đắk
Nông, Đảng và Nhà nước đã trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho
8 tập thể: Nhân dân và LLVT nhân dân tỉnh Đắk Nông; Nhân dân và LLVT nhân
dân: huyện Đắk Mil, huyện Đắk R’Lấp, xã Nâm Nung – huyện Krông Nô, xã Đạo
của tỉnh Đắk Lắk, một phần quận Kiến Hòa của Thủ Dầu Một để thành lập tỉnh
Quảng Đức. Địa giới hành chính tỉnh Quảng Đức, về cơ bản giống như địa giới
tỉnh Đắk Nông ngày nay, được chia làm 3 quận: Quận Đức Lập, quận Kiến Đức,
quận Khiêm Đức.
Năm 1950, tỉnh Đắk Lắk đã cử Đội công tác 124 về tiến hành xây dựng cơ sở ở
xung quanh núi Nâm Nung. Đến năm 1959, khu vực Nâm Nung trở thành khu căn
cứ của lực lượng cách mạng.
Tháng 12 năm 1960, Trung ương quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức, dựa trên sự
phân chia địa giới của địch (lấy mật danh là B4). Khi mới thành lập, tỉnh Quảng
Đức thuộc Liên tỉnh IV, do Liên khu V chỉ đạo.
Đến giữa năm 1961, khu VI được thành lập, tỉnh Quảng Đức thuộc sự chỉ đạo của
Khu VI. Xuất phát từ nhiệm vụ, yêu cầu của cách mạng, đầu năm 1962, ta giải thể
tỉnh Quảng Đức; cắt huyện Khiêm Đức về tỉnh Lâm Đồng; huyện Đức Lập và Đức
Xuyên nhập về Đắk Lắk; huyện Kiến Đức nhập về Phước Long. Tháng 10/1962,
cắt huyện Khiêm Đức và xã Đăng Gia của huyện Đức Trọng thành lập huyện mới,
mang mật danh E25.
Năm 1963, ta tái lập tỉnh Quảng Đức, thuộc sự chỉ đạo của khu X. Huyện E25 giải
thể và trở lại mang tên Khiêm Đức như trước. Tháng 10/1963, ta quyết định giải
thể khu X, đồng thời giải thể luôn tỉnh Quảng Đức. Huyện Đức Lập, Đức Xuyên
về lại tỉnh Đăk Lắk; Khiêm Đức về Lâm Đồng; Kiến Đức lúc này là một huyện
nhỏ vẫn tiếp tục đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Phước Long.
Năm 1966, khu X được thành lập lại và quyết định tạm thời chia tỉnh Quảng Đức
thành Tiền phương A (gồm 02 huyện Đức Lập, Đức Xuyên) và Tiền phương B
(gồm 02 huyện Khiêm Đức và Kiến Đức).
I. NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN
Sau 10 năm thành lập tỉnh (2004 - 2014), với tinh thần tự lực, tự cường, năng động,
sáng tạo, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, Đảng bộ và nhân dân Đắk
Nông đã nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi, giành được nhiều thành
tựu quan trọng.
1. Một là, nền kinh tế phát triển nhanh trên các lĩnh vực theo hướng tích cực
phát huy tiềm năng lợi thế của tỉnh, đã tạo ra bước đột phá quan trọng.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng khá cao. Nếu như giai đoạn 2000 - 2003,
tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn chỉ đạt mức 7,3%/năm, thì trong 10 năm
qua (2004-2013) tốc độ tăng trưởng kinh tế đã vượt lên 13,8%/năm[1]. Trong đó,
giai đoạn 2006 - 2010 đạt 15,19%/năm; 3 năm gần đây (2011-2013), mặc dù chịu
nhiều tác động không thuận từ suy thoái kinh tế trong nước và quốc tế nhưng tốc
độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt trung bình 12,45% /năm. Tổng giá trị sản phẩm
(GDP) theo giá hiện hành năm 2012 đạt hơn 32 ngàn tỷ đồng, gấp 21,6 lần so với
năm 2003. Thu nhập bình quân đầu người/năm tăng liên tục qua các năm: Năm
2003 là 3,83 triệu đồng/người; đến năm 2013 đạt khoảng 29,87 triệu đồng, tăng 7,8
lần.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông thủy sản, tăng
tỷ trọng khu vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng. Nếu như năm 2003 tỷ trọng các
ngành nông nghiệp chiếm 71,8%; công nghiệp, xây dựng chiếm 9,2%; dịch vụ
chiếm 19%, thì đến năm 2013 tỷ lệ tương ứng là 55,32% - 22,04% – 22,64%
Tổng thu ngân sách nhà nước tại địa bàn tăng nhanh. Năm 2013 ước đạt 1500 tỷ
đồng tăng gấp 5,3 lần so với 2003.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản liên tục tăng trưởng và giữ vai trò nền tảng
Công nghiệp khai khoáng bước đầu có sự khởi động tích cực. Nhà máy Alumina
Nhân Cơ đã được khởi công xây dựng, dự kiến đi vào hoạt động cuối năm 2014;
đồng thời chuẩn bị khởi công xây dựng nhà máy điện phân nhôm tại Nhân
Cơ; triển khai dự án khai thác Antimon và khai thác Wolfram tại xã Đăk Drông,
huyện Cư Jut.
Thương mại - dịch vụ có bước phát triển, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2006 – 2013
luôn ở mức trên 15%/năm. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, nếu như năm 2003
kim ngạch xuất khẩu ở Đắk Nông chỉ ở mức chưa đầy 3 triệu USD thì năm 2013
con số này đã vượt lên khoảng 540 triệu USD.
Hiện nay toàn tỉnh có 1.875 doanh nghiệp và 488 đơn vị trực thuộc; tổng vốn đăng
ký gần 13 ngàn tỷ đồng[4]; Thu hút được 07 dự án/doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là 23,15 triệu USD, đã giải ngân để đầu tư
được 17,1 triệu USD. Các doanh nghiệp nhà nước hầu hết đã được chuyển đổi
thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bước đầu đã
có một số doanh nghiệp làm ăn có hiệu qủa. Kinh tế tập thể phát triển nhanh về số
lượng, đến nay có 550 tổ hợp tác sản xuất, 131 hợp tác xã hoạt động trên nhiều
lĩnh vực, xuất hiện một số mô hình hợp tác xã hoạt động mang lại hiệu qủa kinh tế
- xã hội cao. Kinh tế dân doanh tuy còn nhỏ bé, nhưng phát triển đa dạng, phong
phú, có đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần giải
quyết việc làm cho lao động địa phương.
2. Hai là, đầu tư phát triển mạnh y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội
Giáo dục - đào tạo có bước phát triển nhanh cả về chất lượng và quy mô. Năm học
2012-2013, toàn tỉnh Đăk Nông từ bậc mầm non đến trung học phổ thông và trung
tâm giáo dục thường xuyên có 349 trường (trong đó có 06 Trung tâm giáo dục
thường xuyên), tăng gấp 2 lần so với năm học 2003-2004. Có 64 trường đạt chuẩn
quốc gia. Tổng số học sinh từ mầm non đến phổ thông và trung tâm giáo dục
tộc, nhất là dân tộc bản địa được quan tâm tiến hành điều tra, sưu tầm, lưu giữ;
nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khôi phục, phát huy. Đắk Nông đã tiến
hành điều tra, lập hồ sơ quy hoạch, tiến hành đầu tư tôn tạo và đề nghị công nhận
di tích lịch sử cấp quốc gia cho 06 di tích lịch sử. Các danh thắng tự nhiên như: Hồ
Ea Snô, thác Dray Sap, thác Gia Long được quan tâm đầu tư, phục vụ phát triển
ngành du lịch của tỉnh.
Việc đầu tư xây dựng các thiết chế vǎn hóa ở cơ sở nhằm hoàn thiện thể chế văn
hóa trên địa bàn tỉnh được các ngành, các cấp quan tâm triển khai, thu hút một
phần vốn xã hội hóa, cơ bản đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển văn hóa ở cơ
sở. Các thiết chế vǎn hóa ở cơ sở được xây dựng tăng lên qua các năm. Một số
thiết chế văn hóa trọng điểm như: Trung tâm Văn hóa, Trung tâm Hội nghị, Nhà
thi đấu và tập luyện thể thao, Sân vận động, Tượng đài N’Trang Lơng và các dân
tộc Tây Nguyên, v.v… được đầu tư xây dựng.
Môi trường văn hóa có sự đổi thay tích cực, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế -
xã hội, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phong trào “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa” đã trở thành cuộc vận động văn hóa lớn, phát huy
được sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc chăm lo xây dựng
đời sống văn hóa cho mỗi người dân, cho mỗi cộng đồng để văn hóa thấm sâu vào
toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội. Tỷ lệ gia đình văn hóa; thôn, bon, buôn văn
hóa; cơ quan văn hóa tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng. Năm 2012 có
66,95% gia đình; gần 7,04% xã/phường, thị trấn; 53% thôn, bon, tổ dân phố;
76,4% cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu văn hoá. Nếp sống văn minh trong việc cưới,
việc tang và lễ hội từng bước được định hình trong xã hội. Nhiều bản quy ước,
hương ước phù hợp với pháp luật, kế thừa được những nét văn hóa trong phong tục
tập quán tốt đẹp của nhân dân các dân tộc đã được nhân dân đồng thuận xây dựng
và thực hiện. Hoạt động văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp có nhiều khởi sắc, góp
phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy và giới thiệu, quảng bá những nét đặc
trưng văn hóa Đắk Nông đến bạn bè trong nước và quốc tế.
động nông thôn, giải quyết việc làm cho 127.946 người; tỷ lệ hộ nghèo giảm
nhanh, bình quân mỗi năm giảm trên 3%. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn
17,55% và tỷ lệ hộ cận nghèo còn 5,7%.
Phong trào đền ơn đáp nghĩa tiếp tục phát triển sâu rộng, việc chăm lo đời sống
cho các đối tượng chính sách, các hộ nghèo và những người có hoàn cảnh neo đơn,
bất hạnh, tật nguyền… ngày càng được cộng đồng xã hội quan tâm, đưa lại hiệu
quả thiết thực, thể hiện trong chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền
các cấp, cũng như trong ý thức của nhân dân.
Tạo điều kiện ưu tiên phát triển kinh tế và xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu
số. Ngoài các chính sách chung của Trung ương, tỉnh còn có các chủ trương và giải
pháp đặc biệt để hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, như: chương
trình phát triển bền vững 12 bon, buôn; chương trình kết nghĩa giữa các cơ quan,
đơn vị với bon, buôn; chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên dân tộc
thiểu số, v.v…
Sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân được đảm bảo. Thống kê đến cuối
năm 2012, trên địa bàn tỉnh có gần 202 ngàn tín đồ (chiếm khoảng 39% dân số);
hơn 100 cơ sở thờ tự. Hoạt động tôn giáo chủ yếu ở 3 tổ chức tôn giáo chính là:
Công giáo (khoảng 114.324 tín đồ, với 63 cơ sở thờ tự, 27 linh mục, 92 tu sỹ thuộc
13 dòng tu); Phật giáo (khoảng 35.953 tín đồ, với 24 cơ sở thờ tự, 11 điểm sinh
hoạt, 52 chức sắc); Tin lành (khoảng 51.023 tín đồ, với 151 điểm nhóm đã đăng ký
sinh hoạt, 06 mục sư thực thụ, 23 mục sư nhiệm chức).
4. Bốn là, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, mở
rộng các hoạt động đối ngoại
Quốc phòng – an ninh được củng cố, tăng cường, xây dựng lực lượng chính quy
tinh nhuệ, từng bước hiện đại; làm tốt vai trò tham mưu, góp phần chủ động phòng
nhân dân ngày càng được củng cố và tăng cường.
Công tác chính trị, tư tưởng luôn được quan tâm và coi trọng, góp phần nâng cao
nhận thức, tính tích cực của cán bộ, đảng viên và nhân dân, củng cố lòng tin của
nhân dân đối với Đảng, tạo sự đoàn kết nhất trí trong Đảng bộ và sự đồng thuận
trong xã hội.
Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được triển khai sâu
rộng, gắn chặt với việc thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải
pháp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách
về xây dựng Đảng hiện nay” tạo được sự chuyển biến tích cực từ nhận thức đến
hành động trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.
Công tác tổ chức, cán bộ và đảng viên được triển khai đồng bộ, số lượng và chất
lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên. Từ chưa đầy 7.000
đảng viên, 322 tổ chức cơ sở đảng ngày đầu thành lập tỉnh, đến nay Đảng bộ tỉnh
Đắk Nông đã có hơn 18.000 đảng viên, 383 tổ chức cơ sở đảng; 100% thôn, buôn,
bon, tổ dân phố đã có chi bộ. Tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh,
chiếm tỷ lệ từ 65 - 70%/năm, với 78% - 80% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt
nhiệm vụ; công tác xây dựng chi bộ ở thôn, bon, tổ dân phố thường xuyên được coi
trọng.
Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng được chỉ đạo có trọng
tâm, trọng điểm, khá toàn diện. Việc thi hành kỷ luật trong Đảng của Đảng bộ
được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo đúng phương hướng, phương châm, nguyên
tắc và thủ tục quy định; góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật, nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.
Công tác dân vận của Đảng được quan tâm. Các tổ chức trong hệ thống chính trị đã
tăng cường phối hợp làm công tác dân vận, nhất là nắm bắt tâm tư nguyện vọng,
lắng nghe và xử lý kịp thời những phát sinh ở các địa bàn trọng điểm, tích cực
nhóm khá. Nếu như năm 2007, Đắk Nông giữ vị trí chót bảng xếp hạng PCI so với
cả nước, thì đến năm 2012 đã vượt lên vị trí thứ 48/63 tỉnh, thành phố.
Cùng với những thành tựu rất đáng tự hào, trong thời gian qua, tỉnh vẫn còn
tồn tại một số hạn chế, yếu kém cần phải khắc phục.
Một là, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chưa vững chắc; công nghiệp phát triển
chậm, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội có sự phát triển, song thiếu đồng bộ, chưa đáp
ứng kịp yêu cầu thực tiễn; khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chưa tận
dụng hết cơ hội để khai thác đúng mức tiềm năng và lợi thế của địa phương. Một
số công trình thời gian thi công kéo dài, chậm phát huy hiệu quả; thu hút đầu tư
nước ngoài chưa mạnh; du lịch phát triển chậm, công tác quản lý, quy hoạch còn
nhiều yếu kém; công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ, bảo vệ tài nguyên môi
trường thiếu sự quan tâm đúng mức. Đầu tư cho phát triển văn hóa chưa tương
xứng với đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, tuy được quan tâm chỉ đạo tích cực,
kiên quyết nhưng vẫn có nhiều điều đáng quan tâm: thu nhập và đời sống đại bộ
phận nhân dân từng bước được cải thiện, nâng lên, nhưng nhìn chung vẫn còn
nhiều khó khăn, chất lượng cuộc sống của nhân dân vùng sâu, vùng có đông đồng
bào dân tộc thiểu số vẫn còn thấp; số lao động chưa được đào tạo nghề còn chiếm
tỷ lệ cao. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tuy được giữ vững, song vẫn còn
tiềm ẩn yếu tố mất ổn định. Ở một số địa bàn, tệ nạn xã hội, trật tự trị an vẫn còn
diễn biến phức tạp.
Ba là, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa đáp
ứng và theo kịp sự phát triển của thời kỳ mới; trong chỉ đạo, điều hành giải quyết
các vấn đề mới nảy sinh chưa kịp thời, chưa kiên quyết làm giảm sút lòng tin trong
nhân dân. Công tác kiểm tra, giám sát và các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế cán bộ,
đảng viên vi phạm kỷ luật chưa mang lại hiệu quả cao. Công tác vận động quần
sinh thái, hài hoà lợi ích của nhà đầu tư với nhân dân địa phương cả trước mắt và
lâu dài. Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà xác định mục tiêu và chính sách ưu tiên,
nhưng trong thực hiện cần gắn kết hoà quyện giữa các mặt, các khâu, các mục tiêu
để phát triển bền vững.
Ba là, bài học về bám dân: Ngay từ những ngày đầu thành lập, tỉnh đã có chủ trương
kết nghĩa với các bon, buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, nên đã tăng cường mối
quan hệ mật thiết gắn bó giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị và cán bộ, đảng
viên với nhân dân; hiểu và nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng, tình cảm để áp dụng
chính sách phù hợp, chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đặc biệt là
quan tâm đến hoàn cảnh khó khăn của đồng bào vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc
thiểu số, gia đình chính sách, có công, đồng bào nghèo; phát huy tinh thần tự quản,
xây dựng thôn, buôn, bon vững mạnh.
Bốn là, bài học về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phải xây dựng quy
chế, lấy quy chế làm nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ, quy định các vấn đề
cơ bản trong mối quan hệ giữa các cấp uỷ Đảng với các cấp chính quyền và các tổ
chức khác trong hệ thống chính trị. Thực hành và phát huy dân chủ; thực hiện
nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng để tạo ra sức mạnh tổng
hợp, trên cơ sở làm rõ và phát huy vị trí, chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức
thành viên trong hệ thống chính trị; thực hiện tốt vai trò hạt nhân nòng cốt chính trị
của tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên.
PHẦN III
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẮK NÔNG ĐẾN NĂM 2020
1. Định hướng chung
Trên cơ sở những thành tựu và những bài học rút ra sau 10 năm xây dựng quê
và ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm yêu cầu nhân lực phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Hai
làtập trung xây dựng hạ tầng thiết yếu và đô thị hạt nhân, thu hút đầu tư, đặc biệt là
giao thông và hạ tầng đô thị lớn.
- Ba khâu đột phá. Đột phá về kinh tế trong công nghiệp khai khoáng và năng
lượng. Đột phá trong công nghiệp chế biến và nông nghiệp công nghệ cao. Đột phá
trong dịch vụ và du lịch.
2. Một số mục tiêu cơ bản
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011- 2015 ở mức
15,5%; giai đoạn 2016 - 2020 phấn đấu đạt từ 16-17%. Cơ cấu kinh tế đến năm
2015: Công nghiệp, Xây dựng: 39,57%; Dịch vụ: 26,7%; Nông lâm nghiệp:
33,73%; đến năm 2020 cơ cấu tương ứng đạt: 45,7% - 37,6% - 16,5%.
2. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt trên 27 triệu đồng; năm 2020 phấn đấu
đạt 66 triệu đồng; bằng 76% so với mức bình quân chung của cả nước.
3. Về tài chính: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2015 đạt 69,5 ngàn
tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm trên 28%; thu ngân sách Nhà nước hằng năm
tăng trên 20,7%;
4. Kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 550 triệu USD, tốc độ tăng bình quân giai
đoạn 2011-2015 đạt 16,17%/năm; đến năm 2020 đạt khoảng 1.500 triệu USD, tốc
độ tăng bình quân giai đoạn 2016-2020 khoảng 22,2%/năm.
5. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đến năm 2015:
- Thủy lợi: Đảm bảo nguồn nước cho 80% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới.
11. Về văn hóa: có 75% số hộ đạt gia đình văn hóa, 60% thôn, bon, buôn, tổ dân
phố; 85% cơ quan, đơn vị và 11% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn văn hóa.
12. Quốc phòng - an ninh: Tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh
nhân dân, biên phòng toàn dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc, phát huy sức
mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các
thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị; đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
13. Công tác xây dựng đảng: có trên 80% tổ chức sơ sở đảng phát triển đảng viên;
100% chi bộ trực thuộc đảng bộ xã, phường, thị trấn có kết nạp đảng viên, 100%
thôn, bon, buôn có chi bộ là đảng viên tại chỗ. Hằng năm có trên 75% số tổ chức
cơ sở đảng đạt trong sạch - vững mạnh.
3. Định hướng phát triển một số ngành và lĩnh vực
a) Về kinh tế
- Phát triển nền nông nghiệp toàn diện theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả
và bền vững, đồng thời tạo mũi đột phá về nông nghiệp công nghệ kỹ thuật cao; sử
dụng hiệu quả quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp; sản xuất hàng hoá quy mô ngày
càng lớn về trồng trọt, chăn nuôi đại gia súc và phát triển vốn rừng, bảo vệ môi
trường sinh thái và ứng dụng KHCN vào sản xuất. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn
mới, phấn đấu tỷ lệ xã đạt tiêu chí nông thôn mới đến năm 2015 đạt 20%, đến năm
2020 đạt 50%.
- Tiếp tục xác định phát triển công nghiệp là khâu đột phá cho phát triển kinh tế -
xã hội. Trong đó, tập trung vào các ngành chế biến nông, lâm sản, khai thác chế
biến bô xít, thủy điện và vật liệu xây dựng. Làm thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh
theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp để đến năm 2020 đạt cơ cấu: công nghiệp -
Tập trung thu hút các dự án phát triển công nghiệp; dự án thủy điện; khai thác bô
xít, khoáng sản quý hiếm; phát huy tiềm năng đất đai trồng cây công nghiệp dài
ngày, chăn nuôi đại gia súc và trồng rừng nguyên liệu.
Vùng kinh tế phía Tây Nam: gồm thị xã Kiến Đức và các huyện Đắk R’lấp và Tuy
Đức. Tập trung thu hút phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản,
chế biến thực phẩm, tinh bột sắn, ngô, sản xuất thức ăn gia súc, xây dựng cơ sở
giết mổ gia súc, gia cầm và đông lạnh rau quả, thực phẩm; cơ khí sửa chữa máy
móc, khai thác chế biến đá.
b) Về lĩnh vực văn hóa - xã hội
- Tăng cường đầu tư nguồn lực cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nâng cao chất
lượng giáo dục phổ thông, đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề, nhất là
dạy nghề ở nông thôn, trong đồng bào dân tộc thiểu số; gắn đào tạo xây dựng
nguồn nhân lực với các chương trình - mục tiêu phát triển, khai thác tiềm năng lợi
thế của tỉnh. Nâng cao chất lượng đào tạo các trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh,
đủ sức thực hiện mục tiêu dạy nghề. Đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động
Trường Cao đẳng cộng đồng Đăk Nông, Trường Trung học phổ thông chuyên,
Trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh. Liên kết với một số trường đại học
trong nước, mở 1 - 2 phân hiệu đại học tại tỉnh.
- Phát triển khoa học và công nghệ trở thành một trong những động lực chính để
phát triển kinh tế - xã hội. Làm chủ một số công nghệ tiên tiến trong lãnh vực công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học xã hội và
nhân văn, trong đó đặt trọng tâm vào các vấn đề lý luận về xây dựng và phát triển
hệ thống chính trị, quản lý nhà nước, quản lý đô thị, phát triển các thành phần kinh
tế trong điều kiện thực tế của tỉnh Đắk Nông.
- Chăm lo phát triển văn hoá, bảo vệ nền tảng đạo đức xã hội. Tăng cường công tác
bào dân tộc thiểu số được hưởng lợi từ thành quả của quá trình phát triển, từng
bước thu hẹp khoảng cách về đời sống vật chất và tinh thần giữa các dân tộc, các
vùng trong tỉnh.
- Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng cho nhân dân. Tạo
điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động tôn giáo tín ngưỡng theo đúng đường
hướng hành đạo và pháp luật của Nhà nước
c) Về Quốc phòng – An ninh
Chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế
trận biên phòng toàn dân vững chắc. Chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn
biến hoà bình”, gây rối, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc
an ninh biên giới và chủ quyền lãnh thổ quốc gia; kiên quyết đấu tranh với các loại
tội phạm; giữ vững trật tự, an toàn xã hội trong toàn tỉnh.
d) Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, nhất là ở cơ sở.
Đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành sinh hoạt
thường xuyên, nền nếp ở chi bộ, đảng bộ, gắn với thực hiện đồng bộ các nhóm giải
pháp của Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây
dựng Đảng hiện nay"; trong đó, trọng tâm là triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra
khắc phục khuyết điểm, hạn chế sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình.
Đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ và của đoàn thể, thực hiện tốt
quy chế dân chủ cơ sở, củng cố khối đại đoàn kêt toàn dân tộc. Đẩy mạnh cải cách
hành chính và cải cách tư pháp. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của
chính quyền các cấp. Xây dựng hệ thống chính quyền các cấp thực sự là chính
quyền của dân, do dân, vì dân.