TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-----------------------------------
TẬP BÀI GIẢNG
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT
CHÍNH TRỊ PHÁP LÝ
(DÀNH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH LUẬT)
Tác giả: Nguyễn Thị Như Nguyệt
NĂM 2017
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ......4
1.1. Khái niệm, đối tượng của môn học lịch sử các học thuyết chính trị.................................4
1.1.1. Khái niệm lịch sử các học thuyết chính trị.....................................................................4
1.1.2. Đối tượng lịch sử các học thuyết chính trị.....................................................................5
1.2. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của môn học lịch sử các học thuyết chính trị.......6
1.2.1. Phương pháp nghiên cứu môn lịch sử các học thuyết chính trị.....................................6
1.2.2. Ý nghĩa của môn học lịch sử các học thuyết chính trị...................................................7
CHƯƠNG 2. CÁC HỌC THUYẾT THỜI KỲ CỔ ĐẠI .......................................................8
2.1. Tư tưởng chính trị - Pháp lý ở các nước Phương Đông cổ đại.........................................8
2.1.1. Tư tưởng chính trị - Pháp lý ở ấn Độ cổ đại..................................................................9
2.1.2.Tư tưởng chính trị - Pháp lý ở Trung Quốc cổ đại.......................................................11
2.2. Các học thuyết chính trị - Pháp lý ở Phương Tây cổ đại...............................................16
trình đào tạo cử nhân luật học trong mấy năm gần đây. Thông qua môn học này, sinh viên có
thể nắm bắt được trên những nét tổng quát các quan điểm chính trị - pháp luật tồn tại trong
lịch sử đấu tranh tư tưởng. Từ đó, sinh viên sẽ tiếp thu và ứng dụng vào học tập và công tác
của mình những luận cứ mang tính khoa học về nhà nước và pháp luật phục vụ kịp thời
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước hiện nay.
Tập bài giảng “Lịch sử các học thuyết chính trị pháp lý” là sự tổng hợp tri thức nhân
loại về các học thuyết chính trị pháp lý trong lịch sử nhằm định hướng cho việc nghiên cứu và
học tập của sinh viên. Tập bài giảng bao gồm 04 chương vừa thể hiện chiều dài lịch sử tư
tưởng vừa thể hiện lí luận sâu sắc.
Mặc dù đã hệ thống hóa một cách cô động những nội dung cơ bản tuy vậy không thể
tránh khỏi những bổ sung và chỉnh sửa. Rất mong các đồng nghiệp và sinh viên đóng góp ý
kiến để bài giảng hoàn thiện hơn.
Quảng Bình, tháng 05 năm 2017
Nguyễn Thị Như Nguyệt
3
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ
Sự vận động không ngừng của các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội trong lịch sử các
quốc gia trên thế giới đã được phản ánh khá phong phú trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội.
Lịch sử các học thuyết chính trị là một trong những bộ phận quan trọng trong hệ thống các
lĩnh vực nói trên bởi nó hàm chứa quá trình hình thành và phát triển của những tư tưởng
chính trị tiêu biểu - kể cả những tư tưởng chính trị từng được đánh giá và đang được đánh giá
có một ý nghĩa to lớn đối với công cuộc xây dựng nhà nước và pháp luật.
1.1. Khái niệm, đối tượng của môn học Lịch sử các học thuyết chính trị
1.1.1. Khái niệm
Lịch sử các học thuyết chính trị là lịch sử các hệ luận cơ bản về bản chất và hình thức
thể hiện của các chính thể. Các hệ luận cơ bản này lại chính là những nhận thức và những
ích kinh tế của các giai cấp xã hội có thể được duy trì hoặc bị xâm phạm tùy thuộc vào thiết
chế nhà nước. Điều này lý giải tại sao lại có sự khác nhau trong các học thuyết chính trị về
bản chất của cùng một chính thể. Chẳng hạn, đối với nhà nước chiếm nô (Hy Lạp, La
Mã.v.v…) thì cùng tồn tại hai hệ luận đối nghịch, một hệ luận chính trị coi nhà nước chiếm
nô là hợp lý, sự phân biệt giàu nghèo là điều nguy hiểm bởi giàu nghèo là hiện tượng mang
tính tự nhiên.v.v…còn một hệ luận khác thì coi nhà nước là điều ác, là trái với tự nhiên, hoặc
nhà nước sẽ hợp lý nếu nó là công cụ ngăn chặn bạo lực và kìm chế tham muốn từ phía những
người giàu có. Sự trái ngược có tính nguyên tắc nói trên cũng được thể hiện trong nội dung
các học thuyết chính trị thời phong kiến và tư sản.
Trong quá trình phát triển, có những học thuyết chính trị hàm chứa nội dung phản ánh
khá chính xác bản chất của thời đại lịch sử, những luận cứ chặt chẽ về nguồn gốc xuất hiện,
nguyên nhân phát triển và tiêu vong của mô hình nhà nước cụ thể. Có những học thuyết chính
trị được số đông sử dụng như một vũ khí tư tưởng sắc bén trong cuộc đấu tranh có mục đích
nhằm thủ tiêu một chế độ xã hội đã lỗi thời hoặc thay đổi một thiết chế cho nó phù hợp với
quy luật phát triển của xã hội.
Chính vì vậy, ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết chính trị thể
hiện ở khả năng nhận biết những giá trị tư tưởng tiến bộ hoặc phản tiến bộ để từ đó xây dựng
cho mình một hệ luận hợp lý nhằm sử dụng nó để góp phần cải biến chế độ kinh tế xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu tiến trình phát sinh và phát triển các học thuyết chính trị là lịch sử của
một quá trình nhận thức của con người trong xã hội. Nhận thức nói trên không phải bất di bất
dịch mà nó luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội loài người và mục đích cơ bản là đạt
tới những giá trị tư tưởng hoàn thiện hơn, tiến bộ hơn cho phù hợp với quy luật khách quan.
1.1.2. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết chính trị là hệ tư tưởng chính trị
được thể hiện qua các học thuyết có nội dung đề cập một cách tổng thể về nhà nước và pháp
luật qua các thời đại lịch sử. Nội dung lịch sử các học thuyết chính trị không thể được hình
thành ngoài các mối quan hệ kinh tế xã hội lịch sử cụ thể, tức là không nằm ngoài lịch sử.
Điều này có nghĩa là: Khi nghiên cứu các học thuyết chính trị còn phải đi sâu vào việc khám
phá ra các nguyên nhân mang tính lịch sử - xã hội đã làm phát sinh ra chúng. Bởi vì sự phát
Đương nhiên khi nghiên cứu cũng cần phân biệt chúng theo từng trường phái hoặc từng “hệ
tư tưởng” cụ thể để tránh sự nhầm lẫn về bản chất của chúng, đặc biệt đố với những hệ tư
tưởng nằm vào vị trí “trung tâm”. Việc phân loại tương đối như vậy còn cho phép hiểu được
cả một quá trình “vận hành” của những tư tưởng đó trong lịch sử có chứa đựng quy luật kế
thừa thậm chí cho tới ngày nay. Đương nhiên, khi trong nội dung các học thuyết chính trị có
sự kế thừa những giá trị tư tưởng của thời đại trước nó thì cũng không thể kết luận về cái gọi
là “sự mô phỏng trần trụi” hay sự ghi chép “rập khuôn”. Có những tư tưởng xuất hiện từ thời
cổ đại, nhất là những quan niệm về nguồn gốc và bản chất nhà nước, những quan niệm về
quyền tự do của con người, về sự thỏa thuận xã hội.v.v… vẫn còn giữ được những giá trị nhất
định của chúng. Tuy vậy trong các thời kỳ lịch sử tiếp theo đó những quan điểm chính trị phổ
quát nói trên lại được nâng lên ở tầm giá trị cao hơn, được bổ sung đầy đủ hơn để trở thành
giá trị tư tưởng chung cho cả nhân loại - những giá trị tư tưởng không thể bị phủ nhận theo
thời gian và không gian lịch sử.
Nói tóm lại, đối tượng nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết chính trị là những tư
tưởng chính trị, những quan điểm về nhà nước và pháp luật xuất hiện và phát triển trong lịch
sử của loài người từ khi có tổ chức nhà nước. Những học thuyết chính trị này được xác định
bởi các mối quan hệ kinh tế và chúng đã phản ánh lợi ích của các giai cấp xã hội trong cuộc
đấu tranh không khoan nhượng về quyền lợi xã hội và tài sản nói chung.
1.2. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của môn học Lịch sử các học thuyết chính
trị
1.2.1. Phương pháp nghiên cứu
6
Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp so sánh trên quan điểm duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử chúng ta có thể phân kỳ quá trình xuất hiện và phát triển của
các học thuyết chính trị. Tuy vậy, sự phân kỳ hợp lý nhất vẫn phải dựa vào nguyên tắc thay
thế các hình thái kinh tế xã hội. Ranh giới giữa các thời kỳ trong lịch sử dân sự được tính
bằng sự thắng thế của một chính thể này đối với một chính thể trước đó, còn ranh giới giữa sự
Trong đa số những công trình nghiên cứu về triết học, lịch sử, xã hội học, kinh tế v.v..
Phương Đông đã nổi lên như đối tượng cơ bản của những khám phá khoa học. Thậm chí
nhiều nhà nghiên cứu phương Tây, những người có một số mặc cảm với phương Đông cũng
phải thừa nhận một thực tế lịch sử rằng Phương Đông là sự khởi đầu của văn minh nhân loại.
Các nền văn minh ở Phương Đông xuất hiện rất sớm, và đó không chỉ đơn thuần là kết
quả của quá trình chinh phục, khai thác những điều kiện tự nhiên. Sở dĩ Phương Đông đã xuất
hiện một số nền văn minh rực rỡ vì bởi cũng chính tại đây con người đã sớm nhận thức được
giá trị của sức mạnh cộng đồng, và ý thức đó đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình tạo dựng nhà
nước.
Nhà nước phương Đông cổ đại có đặc trưng nổi bật là nhà nước chuyên chế. Bộ máy nhà
nước chuyên chế này được tạo dựng và được củng cố bảo vệ bằng sự kết hợp giữa ba bộ phận
chính trị thống soái. Bộ phận quý tộc quân sự thực hiện hai chức năng: xâm chiếm và trấn áp.
Bộ phận quan lại cường hào chuyên về việc thu thuế, bộ phận lao công (chuyên phụ trách
việc điều hành các loại hình lao động công cộng: đắp đê điều, làm đường sá và các công trình
công cộng khác). Ba bộ phận nói trên là chỗ dựa vững chắc của người đứng đầu nhà nước nhân công chuyên chế độ tài.
Đặc điểm nổi bật thứ hai của nhà nước chuyên chế phương Đông thể hiện ở tư tưởng
thần thánh hóa vai trò của người đứng đầu nhà nước, ở quan niệm giàu nghèo là do thiện ý.
Quan niệm “Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên” trở thành như một chân lý vĩnh hằng vậy.
Cho nên nếu người đứng đầu nhà nước coi mình như “thiên tử”, như là đại diện và thậm chí
như là hiện thân của thánh thần thì tầng lớp quan lại dưới ông ta coi như vi lộng hành của
mình là lẽ tự nhiên, coi vị trí của họ là sự sắp đặt của tạo hóa. Tư tưởng chính trị được hình
thành từ nhận thức nói trên ở một số quốc gia đã trở thành tư tưởng chính trị xuyên suốt, và
trong nhiều thời đại lịch sử nó làm hạn chế sự phát sinh và phát triển hệ tư tưởng chính trị đối
lập, hoặc tư tưởng chính trị đối lập nếu tồn tại thì cũng chỉ tồn tại trong một tình cảnh bị
khủng bố và bị làm lu mờ mà kết cục chỉ còn là một hệ tư tưởng thụ động. Như vậy có thể nói
sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền là đặc điểm thứ hai của các học thuyết chính trị
phương Đông cổ đại.
Đặc điểm nổi bật thứ ba thể hiện trong nội dung các học thuyết chính trị phương Đông
cổ đại là tư tưởng đặt giá trị các quy phạm đạo đức lên trên hết, coi đạo đức là cái căn bản chi
phối sự vận hành của các quan hệ xã hội - nhà nước và pháp luật. Trong thực tế, đạo đức xã
Người Ấn Độ đã tin vào sự tồn tại 4 loại Varna:
1) Varna Brahman (Bàlamôn)
2) Varna Ksatria
3) Varna vaisia
4) Varna Sudra
* Thuyết giáo Brahmanisme (hình thành vào nửa đầu thiên nhiên kỷ I TCN) coi thế
giới linh hồn - Brahma sáng tạo ra các thần linh, vũ trụ, con người và cả muôn loài động và
thực vật. Brahma ban cho mỗi loài một số kiếp (dharma) theo một trật tự vĩnh hằng. Với xã
hội con người thì sự tồn tại của 4 Varna trên đây cũng phát sinh từ số kiếp mà ra. Vì vậy việc
Varna bậc thấp tuân thủ ý chí của Varna bậc cao là điều hiển nhiên.
Thuyết Brahmanisme kêu gọi hai đẳng cấp Vaisia và Sudra hãy bằng lòng với vị trí của
mình trong xã hội mà tôn vinh quyền lực của nhà vua, một quyền lực có xuất xứ thần thánh.
9
Từ sự khẳng định tính bất biến của trật tự các đẳng cấp xã hội phân chia theo Varna
thuyết Brahmanisme còn khẳng định: thế giới trần tục và con người chỉ là ảo giác, là hư ảo.
Cuộc sống khổ đau, đói nghèo cũng chỉ là hư vô, linh hồn con người là cái quan trọng nhất,
nên cần phải hoàn thiện linh hồn bằng cách từ bỏ mọi mưu toan khắc phục trật tự hiện hành
trên thế giới trần tục.
Để cụ thể hóa ý tưởng trên đây, thuyết Brahmanisme nêu khái niệm “nghiệp” (karma).
Khái niệm này bao hàm nội dung quan niệm về sự thành đạt hoặc thất bại của con người ở thế
giới linh hồn hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi trong cuộc sống thực tại của anh ta, của kiếp
anh ta trước đó. Nếu con người không muốn linh hồn mình được thanh thoát cao siêu mà
không nhập vào loài thú vật thì hãy tuân thủ quyền lực của các giáo sỹ Brahman và của nhà
nước nói chung.
Quyền lực nhà nước, vua chúa và tầng lớp giáo sỹ Brahman lại được khẳng định qua nội
dung “Các luật Manu” (tuyển tập tập quán pháp của người Ấn, lấy tên của vị thần sáng tạo ra
con người là Manu. Tên gọi đầu tiên của các luật Manu là “Manavadharmasastra”.
“hưng thịnh”.
* Nếu như trong buổi bình minh của nhà nước Ấn Độ thuyết giáo Brahman được coi như
là hệ tư tưởng thống soát thì khi chế độ chiếm nô phát triển, một tôn giáo khác đã ra đời để
thay thế vào vị trí đã suy yếu của thuyết giáo Brahman đó là Phật giáo.
Người sáng lập Phật giáo được đặt tên trong các tài liệu văn bản là Xich-har-ta, thần
danh là Sakiamuni (Thích ca mâu ni) Sakiamuni được coi là một người thuộc bộ lạc Sakia,
sống vào khoảng giữa những năm 560 - 480 TCN và thuộc dòng hoàng tộc Gautama
(Gôtama). Năm 29 tuổi Sakiamuni rời nhà đi “tìm chân lý” và sau 7 năm đã thành “chính
quả” (đã giác ngộ). Bốn mươi năm tiếp sau đó ông tiến hành tuyên truyền đạo khắp các thị
thành và thôn quê ở vùng trung lưu sông Hằng. Thuyết giáo của ông được đặt tên trong khoa
học là “Đạo Phật” và Sakiamuni được tôn thờ là Phật tổ (Buddha). Có thể nói, Phật giáo ra
đời trong một hoàn cảnh lịch sử có sự gia tăng những mâu thuẫn xã hội gay gắt do quan hệ
chiếm nô ngày càng phát triển trong một hoàn cảnh xã hội khi mà “nhà vua mặc dầu đã chinh
phục mọi quốc gia trên thế giới, dầu đã trở thành bá chủ mọi vương quốc ở phía bên này bờ
biển cho đến tận đại dương, nhưng vẫn cảm thấy chưa đủ mà còn thèm khát có được mọi
nước phía bên kia đại dương”… “các hoàng đế giàu sang luôn ham thèm vô độ”… “trái đất
không thể yên bình vì cơn xoáy của nhục dục”… Điều này cho thấy Phật giáo lúc sơ khai đã
ghi nhận sự xuất hiện quyền lực gắn liền với những phát sinh xã hội như nạn cướp bóc, lừa
đảo. Nhà nước như một công cụ xóa bỏ mọi hiềm khích đã bị thao túng, cho nên con người
phải đi đến với phật để có thể thay thế tình trạng hiện thời.
Trong giáo thuyết của nhà phật được phổ biến vào thế kỷ III - II TCN đã thể hiện một sự
liên hệ chặt chẽ với tín ngưỡng cổ xưa của người Ấn Độ và Brahmanisme. Nội dung của nó còn
kế thừa những quan niệm tâm linh về nghiệp báo, về quan hệ nhân quả qua một kết luận rằng:
Cuộc đời là điều ác, sống là đau khổ. Bởi vậy cho nên mỗi người phải vươn tới điều mà sau khi
chết có thể được hồi sinh ở vật thể khác và lại tiếp tục một cuộc đời mới rồi phải chịu những
đau khổ khác hơn. Kiếp luân hồi (Nirvana) buộc con người phải thoát tục, nghĩa là phải từ bỏ
mọi ham muốn nơi trần thế, phải xa rời trần thế để đến cõi vĩnh hằng - cõi niết bàn. Từ bỏ mọi
ham muốn, từ bỏ và xa lánh trần thế tức là không can thiệp vào sự vận động của các quan hệ xã
hội và nghĩ là không đấu tranh chống lại những hiện tượng mang tính bất công và thù ác. Tư
tưởng chính trị thụ động đã thể hiện một cách khá đầy đủ trong giáo lý nhà Phật. Chính vì vậy,
Tác phẩm chủ yếu của Lão Tử cuốn “Đạo đức kinh” (sách về đạo và đức) được ông biên
soạn trước khi ông chọn cho mình lối sống ẩn dật, xa lánh triều chính và xã hội.
Từ những suy luận mang màu sắc triết học về nguồn gốc của vũ trụ là “Đạo” (Đường).
Vậy mà ông gọi là “Đạo” tồn tại tự mình, nó sinh ra tất cả mọi vật, và mỗi một vật tồn tại
trong sự đối lập đó mang tính tuần hoàn như sự tuần hoàn của sự vật luôn vận động. Lão Tử
bắt đầu luận về xã hội bằng những nhận xét mang theo hai nội dung cơ bản:
Thứ nhất, Lão Tử chủ trương ca ngợi một xã hội bình yên trong phạm vi một quốc gia
nhỏ bé, một quốc gia dân ít và thuần phác hiền lành, nơi không cần học vấn, phương tiện đi
lại và binh khí.
Thứ hai, khi Lão Tử cho rằng muốn đạt tới một xã hội bình yên như trên thì người cầm
quyền nên tỏ ra khiêm nhường, không cần dùng đến bạo lực, mà cần dùng “Đạo” (Đắc đạo
hữu thương) để cảm hóa dân chúng. Dân có dốt nát mới dễ trị, mới trở về Đạo được (đi đúng
đường).
Như vậy tư tưởng xuyên suốt trong học thuyết của Lão Tử là nguyên tắc “vô vị” (bất
hành). Ông từng viết: Trong nước cấm kỵ thì dân nghèo đói, dân cày có nhiều phương tiện
kiếm lợi thì quốc gia rối loạn. Người ta càng kỹ xảo thì các vật là càng phát sinh luật pháp
càng nhiều thì trộm cướp càng tăng. Ông chủ trương “vô vi” để dân tự sửa mình “tĩnh lặng”
để dân tự dưỡng hóa, “chẳng nên làm gì cả” để nhân dân tự giàu có, “đừng ham muốn” để
12
dân tự hóa ra chất phác… Vì dân biết nhiều quá thì cứng cổ. Cổ nhân dạy rằng “kẻ nào trị
nước bằng trí thì gây họa cho nước, trị nước bằng “Đạo” thì mang phúc cho dân”.
Những quan niệm trên đây cho thấy tính “thụ động” trong học thuyết của Lão Tử. Việc
ông kêu gọi từ bỏ đấu tranh để quay lại với trật tự nguyên thủy và sống theo quy luật của tự
nhiên đã thể hiện sự bế tắc chung về định hướng chính trị của tầng lớp quý tộc lỗi thời.
* Hệ tư tưởng chính trị thứ hai mà từ trước tới nay chúng ta vẫn quen gọi là “tư tưởng
Nho giáo” được thể hiện một cách cơ bản và có hệ thống trong các quan điểm của Khổng Tử,
một nhà tư tưởng có vị trí lớn trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại.
13
lý để điều chỉnh xã hội và nhà nước mà Khổng Tử thường răn dạy các bậc quân tử. “Đức trị”
là sự phủ nhận ý nghĩa của pháp chế, phủ nhận, động lực phát triển xã hội và nhà nước là lợi
ích kinh tế của mọi tầng lớp con người. Khổng Tử đã đưa “đạo đức” vào tư tưởng chính trị
một cách tương đối nhuần nhuyễn. Ông đã quan niệm về chính trị như sau: chữ chính (cai trị)
do nơi chữ chính (ngay thẳng) mà ra cai; cai trị (chính) tức là săn sóc cho dân trở nên ngay
thẳng, chính đính. Nay đại phu là bậc dẫn đầu trong dân chúng mà tự minh chống tính, thì còn
ai dám ăn ở bất chính. Quan niệm “chính đính” được Khổng Tử giải thích thêm trong câu:
“như ai thi hành việc chính trị, cầm quyền cai trị nước nhà mà biết đem cái đức mình bổ hóa
ra thì mọi người đều tùng phục theo. Tỷ như ngôi sao Bắc đẩu ở một chỗ mà có mọi vì sao
chầu theo”.
Việc lấy “đạo đức” làm tiêu chuẩn chi phối hành vi chính trị đã đưa Khổng Tử đi đến
phủ nhận ý nghĩa của luật pháp. Ông nói “Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm
lệnh mà dẫn dắt dân chúng thì dân sợ mà chẳng phạm pháp đó thôi, chớ họ chẳng biết hổ
ngươi. Vậy muốn dắt dẫn dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết đức hạnh thì chẳng
những dân biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hóa họ trở nên tốt lành”. Sự phủ nhận pháp chế còn
được thể hiện khá đầy đủ trong một câu nói của Khổng Tử… “Xử kiện, ta cũng biết xử như
người; ta cũng biết xét đoán ai phải ai quấy và trừng trị kẻ phạm. Nhưng nếu dạy cho dân biết
nghĩa vụ biết nhường nhịn, biết luật pháp mà giữ gìn, đặng họ chẳng đem nhau đến tụng đình,
như vậy chẳng hay hơn sao?”.
Có thể kết luận rằng tư tưởng chính trị pháp luật của Khổng Tử không chỉ có một ý
nghĩa nhất định nào đó mà từ năm 136 TCN khi được Hán Vũ đế thừa nhận là tư tưởng chủ
yếu thì Khổng giáo đã trở thành hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn, là công cụ tinh thần để bảo vệ
cho nền phong kiến suốt hai nghìn năm ở Trung Quốc.
Từ hai hệ tư tưởng chính trị - pháp luật mà chúng ta vừa xem xét trên đây đã nảy sinh
một số tư tưởng có nội dung tương tự, và chúng không vượt qua được những hạn chế về mặt
lịch sử của những tư tưởng đã có trước chúng. Chẳng hạn, tư tưởng của Lão Tử đã nảy sinh tư
“kiêm ái” chính là cái cốt yếu của vấn đề.
Có thể nói, ở một chừng mực nhất định nào đó thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử có một giá
trị chống “bạo quyền, áp bức”, đề cao những phẩm hạnh tự nhiên của con người. Tuy nhiên,
tư tưởng “phi công” của ông ít nhiều mang màu sắc cảu hệ tư tưởng chống lại mọi hình thức
pháp chế nhà nước, và ít nhiều mang nội dung không tưởng, nội dung “luân lý luận” thuần
túy.
* Hệ tư tưởng chính trị pháp luật thứ tư là hệ tư tưởng “Pháp trị”. Người đặt nền cho hệ
tư tưởng này là Hàn Phi Tử (280 - 233 TCN), là công tử nước Hàn, học trò của Tuân Tử.
Hàn Phi Tử là đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, chịu ảnh hưởng sâu sắc của những biến
động lớn lao của thời chiến quốc. Ông đã kế thừa những tư tưởng dùng luật để trị nước của
một số người trước ông như Thương Ưởng, Ngô Khởi, Lý Khôi, Thân Bất Hại, Thận
Đáo.v.v…để đề ra một số quan điểm nhằm chống lại Nho giáo, phủ nhận mọi tư tưởng lấy
luân lý đạo đức để chấn chỉnh xã hội.
Hàn Phi Tử cho rằng nhà nước rất cần tới pháp luật bởi pháp luật là công cụ quan trọng
để điều chỉnh xã hội, đặc biệt pháp luật sẽ không phân biệt các quy phạm khác nhau đối với
những tầng lớp khác nhau. Theo ý ông mọi người phải được bình đẳng trước pháp luật. Ông
nói “pháp luật không a dua quý tộc, pháp luật đã đặt ra thì người có tiền cũng không từ được,
người dũng không tránh được, hình phạt không tránh quan đại thần. Khen thưởng không bỏ
rơi kẻ thường dân”.
Hàn Phi Tử phê phán nghiêm khắc tệ lũng đoạn quyền lực. Ông quan niệm phải thực
hiện pháp luật vì lợi ích tối cao của toàn xã hội. Ông từng răn dạy: “nếu bỏ pháp thuật mà cứ
làm theo tâm ý riêng khi trị nước thì có như các bậc thánh hiền Nghiêu, Thuấn cũng không
giữ cho ngay ngắn được một nước”.
15
Song song với việc đề cao ý nghĩa của pháp luật, Hàn Phi Tử còn nhấn mạnh khái niệm
“cao thuật, thuận thế”, ông chủ trương kêu gọi sự củng cố quyền lực từ phía những người cai
trị nhà nước. Ông nói “cai trị bằng sức mạnh thì được làm vua”… “không cai trị bằng sức
pháp lý, triết học, trùng hợp với thời kỳ hưng thịnh và suy vong của nền dân chủ học thuyết
của Đêmôcrít, Xôcơrát, Platôn, Aristốt. Giai đoạn thứ ba (nửa sau thế kỷ IV đến thế kỷ II
TCN) là thời kỳ suy thoái của nhà nước Hy Lạp cổ đại - thời kỳ các quốc gia thành thị Hy
Lạp rơi vào quyền lực của A-Ma-Xê-đoan và sau đó là La Mã.
16
Sự ra đời, củng cố, hưng thịnh và cuối cùng là sự suy vong của nhà nước chiếm hữu nô
lệ ở Hy Lạp luôn gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt đầy máu và nước mắt.
Những biến đổi sâu sắc của đời sống xã hội các quốc gia làm phát sinh nhu cầu tìm kiếm các
phương thức cai trị các quốc gia, từ đó chính trị, triết học đã xuất hiện với tư cách là một
trong những lĩnh vực tri thức nhằm định hướng cho các hoạt động điều hành của các quốc gia
thành thị Hy Lạp cổ đại.
Trong giới dân tự do hình thành hai phe phái với những quan điểm chính trị đối lập.
Khẩu hiệu chung của phái dân chủ là đập tan chế độ chuyên chế, chuyên quyền độc đoán của
tầng lớp quý tộc, giải phóng khỏi mọi sự nô dịch của giới quý tộc. Còn giới quý tộc bằng mọi
phương thức nhằm duy trì địa vị thống trị xã hội của mình, duy trì trật tự xã hội với những
đặc quyền đặc lợi. Chính những quan điểm chính trị đối lập đó làm cho các cuộc giao tranh
đẫm máu, triền miên giữa các quốc gia thành thị nhằm giành quyền lãnh đạo đất nước càng
trở nên khốc liệt. Song quan điểm chính trị giữa phái dân chủ và giới quý tộc có khác biệt đến
đâu đi nữa, thì quan điểm cơ bản lại giống nhau. Đó là sự thừa nhận chế độ sở hữu cá nhân là
không thay đổi, chế độ nô lệ là đương nhiên phải có, những nô lệ không thuộc thành phần
công dân là không phải bàn cãi. Sự bất công xã hội là đương nhiên, nhà nước là tổ chức
quyền lực của người tự do và chỉ dành riêng cho họ, chỉ có họ mới có quyền lãnh đạo xã hội.
Những người nô lệ luôn vẫn là nô lệ, không được tham gia vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ mâu thuẫn giai cấp chủ yếu hình thành vẫn là mâu thuẫn
giữa nô lệ và chủ nô. Những người nô lệ muốn vùng lên phá tan gông cùm, xiềng xích của
giới chủ nô. Lòng căm thù, uất hận của họ nhiều khi đã bùng lên thành những cuộc khởi
nghĩa. Tuy vậy, cuộc đấu tranh bi thảm của người nô lệ, các phong trào sâu rộng của người
người dân không có tài sản.
Các huyền thoại Hy Lạp cổ đại phần lớn thể hiện bằng thơ ca, sau đó được đưa vào
trường ca của Hô-me và Ghêxiôt. Theo các trường ca này thì việc thiết lập quyền lực của các
thiên thần trên dãy núi Ôlempơ có quan hệ trực tiếp với việc thiết lập công bằng, trật tự của
một nhà nước, nói một cách khác nhà nước phải có thứ bậc như thứ bậc của các thần linh.
Trong các trường ca, các vị thần xuất hiện như những người bảo vệ tối cao cho công bằng,
bình đẳng, trừng phạt nghiêm khắc những kẻ gây ra bạo lực, đau thương. Công bằng theo
Hôme là cơ sở và nguyên tắc của tập quán pháp. Tập quán pháp là sự cụ thể hóa công bằng
vĩnh cửu.
Một trong những văn bản đầu tiên ghi chép về sự khởi đầu của việc thiết lập chính quyền
nhà nước cổ Hy Lạp là bản trường ca tuyệt tác của Ghêxiôt mang nặng màu sắc bi ai của
người nông dân bị phá sản miền Bêôti, với nhan đề “Lao động và ngày tháng” (cuối thế kỷ
VIII - đầu thế kỷ VII TCN).
Nhà thơ nuối tiếc chế độ phụ hệ đang biến mất. Ông buồn vì “thế kỷ hoàng kim”, thiên
đường vĩnh viễn tan đi trong màn sương của quá khứ xa xôi. Ông căm giận trước sự phụ
thuộc hoàn toàn của những người tốt và hảo tâm vào bọn khốn nạn và tàn ác. Ghêxiôt tức
giận khi phải chứng kiến sự lộng hành của “bọn vua chúa ăn hại dốt nát” (tức là giới quý tộc)
cầm quyền. Chúng được tôn kính như thần thánh, chúng xét xử và trừng phạt, giải quyết các
cuộc tranh chấp, mặc dù bản thân chúng ngập ngụa trong sự dối trá và ăn hối lộ. Pháp luật
hoàn toàn thuộc về sức mạnh, đau khổ được dành cho những ai có ý định tranh cãi với kẻ
mạnh để tìm ra chân lý. Trong thâm tâm Ghêxiôt, người đầu tiên thể hiện ý thức giai cấp đang
trỗi dậy trong tầng lớp nông dân, đã không thấy chút hy vọng nào là có ngày chân lý sẽ thắng.
Trường ca “Lao động và ngày tháng” có những lời đe dọa trực tiếp bọn áp bức. Thần Dớt sẽ
vung kiếm chém đầu bọn áp bức, sớm hay muộn người sẽ trị tội bọn lộng quyền, cướp bóc và
lừa đảo. Nó như một lời cảnh tỉnh đối với chế độ đương thời.
Trường ca của Ghêxiôt cho rằng thượng đế là thần sáng tạo ra các nguyên tắc và sức
mạnh của pháp luật, của đạo đức luân lý vốn có. Luận thuyết này về sau được bổ sung và phát
triển với các tác giả của “Các gia đình của những nhà hiền triết”, như Pitắc, Xô-lông. Tất cả
họ đều khẳng định các đạo luật thống trị sự công bằng trong đời sống nhà nước, xã hội. Ngày
nay khi nghiên cứu về nhà nước pháp quyền đều có quan niệm chung rằng tư tưởng về sự
đặt pháp luật ngang hàng với nhà nước, đó là hai nhân tố đảm bảo cho sự tự do, bình đẳng
trong xã hội. Sức mạnh ở đây là sức mạnh chính thống, sức mạnh quyền lực. Sau này, nói về
ông, Arixtốt cho rằng chính Xôlông đặt nền tảng cho những nguyên lý dân chủ.
Tuy vậy, do những hạn chế của thời đại và lịch sử các quan điểm của Xôlông mang dấu
ấn của sự thỏa hiệp giai cấp. Nhà tư tưởng thuộc tầng lớp quý tộc thượng lưu đã mong muốn
thông qua một số nhượng bộ cho nhân dân và hạn chế bớt một số đặc quyền đặc lợi của quý
tộc cũ, để đạt được sự tăng cường quyền uy chính trị của các giới sản xuất kinh doanh chủ nô
và qua đó thủ tiêu sự chém giết và tranh giành quyền lực lẫn nhau ở Aten.
Nếu như Ghêxítôt đứng về phía những người nông dân phá sản không nhà cửa, ruộng
vườn, ngày càng bị bần cùng hóa, Xôlông đại diện cho tầng lớp thị dân đang lên, thì Pitago
(580-500 TCN) đưa ra học thuyết về cơ bản bảo vệ quyền lợi của tầng lớp quý tộc.
19
Tư tưởng cải biến chính trị - pháp lý của ông dựa trên cơ sở triết học. Học thuyết về các
con số của Pitago đóng vai trò quan trọng trong việc biểu hiện các hiện tượng chính trị pháp
lý. Ông cho rằng con số là cái đầu tiên và là bản chất của thế giới tự nhiên cũng như xã hội.
Về pháp luật Pitago là một trong những người đầu tiên xây dựng lý thuyết về sự bình
đẳng. Pháp luật, theo ông là phương tiện bằng nhau để bình thường hóa các quan hệ bất bình
đẳng và của các cá nhân bất bình đẳng. Công bằng chính là sự đền bù bằng nhau. Ông cho
rằng sự công bằng là tiêu chuẩn, cơ sở để con người xử sự với nhau.
Luận thuyết trung tâm của Pitago là nhằm chống những người bình dân (demos) và thiết
chế nhà nước dân chủ. Chẳng hạn như việc điều hành xã hội thuộc về tầng lớp những người
được giáo dục thẩm mỹ - tín ngưỡng đặc biệt và hơn hẳn người khác về trí tuệ và đức hạnh
(kiểu như tinh thần quý tộc). Ông kêu gọi vâng lời người trên và cha mẹ, hoàn toàn tuân thủ
người cầm quyền và điều tệ hại nhất trong xã hội chính là tình trạng không có lãnh đạo,
không có chính quyền.
Phải chăng ông đã coi trật tự trong nhà nước như trật tự trong gia đình và đó cũng là tư
tưởng về đẳng cấp xã hội của ông, muốn cố níu giữ chế độ các quốc gia thị dân đang lụi tàn,
pháp luật như phương thức thực hiện cái phổ biến. Các thành phố phải được thiết lập trên cơ
sở pháp luật; người ta phải đấu tranh cho pháp luật như đấu tranh cho thành lũy của thành phố
quê hương.
Sự chú trọng của Hêraclit tới vai trò của pháp luật thành văn (như ta đã thấy ở Xôlông và
Pitago) cho phép kết luận là quan niệm về quyền chính trị của Hêraclit ở một vài điểm đã xa
rời với những quan niệm của giới quý tộc thị tộc truyền thống, tầng lớp kiên trì bảo vệ những
tập tục cổ truyền nhằm củng cố pháp luật. Hêraclit đã mang sắc thái phê phán sự thay đổi
thường xuyên hình thức điều hành và đòi hỏi trật tự nghiêm khắc và ổn định đời sống xã hội.
c. Thời kỳ nở rộ các tư tưởng chính trị pháp lý (thế kỷ V - IV TCN)
Cùng với sự phát triển của xã hội, nền dân chủ chiếm hữu nô lệ hình thành và phát triển,
bất chấp mọi sự phản kháng nghiệt ngã của giới thị dân đối lập, nó được thiết lập ở nhiều nơi,
dưới nhiều phương diện khác nhau. Hệ tư tưởng chính trị - pháp luật thế kỷ V - IV TCN đã
đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực lý luận về nhà nước và pháp luật và tham gia
tích cực cuộc đấu tranh giai cấp. Nó vượt xa khỏi vòng tù túng của tín ngưỡng, huyền thoại.
Nhưng vấn đề chính trị giờ đây ngày càng mất dần đi tính thần bí. Các nhà tư tưởng của giai
cấp thống trị đã soạn thảo được một học thuyết về sự hoàn thiện và đầy đủ của nhà nước
chiếm hữu nô lệ. Sau đó là đến thời kỳ tìm kiếm miệt mài các phương án và sơ đồ khác nhau
về một quốc gia lý tưởng - cần phải củng cố hệ thống quốc gia thành thị đang bắt đầu hấp hối.
Các nhà tư tưởng, những người thể hiện ý nguyện của các tầng lớp xã hội dạ đẳng đã tiến
hành phê phán kiểu nhà nước và pháp luật đương thời, cùng với việc chỉ ra những khác biệt
giữa những quy phạm “pháp quyền tự nhiên” với các thiết chế chính trị - pháp lý thực định.
Lịch sử phát triển tư tưởng về nhà nước và pháp luật cổ Hy lạp được đánh dấu bằng hệ
tư tưởng của một trong những trí tuệ thiên tài thời kỳ cổ đại: Đêmôcrít (460-370 TCN). Là
người đầu tiên lý giải một cách khoa học về sự xuất hiện và hình thành con người, ông coi đó
là một quá trình phát triển tự nhiên của thế giới. Sự ra đời, tồn tại của nhà nước, pháp luật là
một quá trình phát triển tự nhiên và tất yếu.
Ở ông, nhà nước và pháp luật đã xuất hiện không hề phụ thuộc vào một thế lực thần bí
nào. Sự xuất hiện của chúng là kết quả đấu tranh lâu dài của con người bị thiếu thốn và đè nén
trong xã hội tiền văn minh buộc phải sống liên kết với nhau thành cộng đồng. Nhà nước là sự
thể hiện các quyền lợi chung của các công dân trong đó. Nó chỉ thể thực hiện vai trò nền
nhau về triết học, chính trị và pháp lý, từ đó hình thành hai trường phái: Phái tiến bộ gồm
những người bảo vệ nền dân chủ và mang lại sự khai sáng (Prôtago, Goócghi, Antiphôn,
Ghippi, Prôđích, Licôphrôn, Akiđam); còn phái khác là phái phản động, tự do vô chính phủ
và cá nhân chủ nghĩa, bảo vệ tầng lớp quý tộc chuyên quyền (Phrađimác, Cacliclơ, Criti
.v.v…)
Là một trong những người đầu tiên soạn thảo các vấn đề mấu chốt của học thuyết về
“pháp luật tự nhiên”, các nhà ngụy biện cho rằng, chính trị không phải là việc của thiên đình,
cũng không phải là sản phẩm của tạo hóa sinh ra; Nhà nước và pháp luật là kết quả sự thể
hiện ý chí cá nhân, sản phẩm của sự thống nhất nhận thức do mọi người thỏa thuận với nhau,
đó là những định chế nhân tạo hình thành trên cơ sở những thỏa thuận có nhiệm vụ đảm bảo
an ninh chung và thỏa mãn những nguyện vọng, nhu cầu cá nhân của công dân, bảo vệ các
quyền tự do của họ. Theo Prôtago, sự cần thiết của nhà nước là ở chỗ, không có nhà nước thì
đời sống nhân loại không thể có được.
Đặc trưng của mối quan hệ được hình thành giữa tự nhiên và chính trị không chỉ là ở chỗ
chúng tồn tại bên nhau, mà còn cả trong mâu thuẫn giữa chính trị với tự nhiên. Luật pháp chế
ngự tự nhiên và làm biến đổi nó (Ghippi). theo quan điểm tự nhiên tính cao thượng có nguồn
gốc chỉ là “những lời trống rỗng” (Licôphrôn). Về mặt tự nhiên, mọi người đều bình đẳng
22
(Antiphrôn). Tự nhiên không sinh ra ai để làm nô lệ cả (Ankiđam). Đối với những nhà ngụy
biện tư duy cấp tiến thì tự nhiên hoàn toàn bình đẳng tuyệt đối.
Còn pháp luật của nhà nước thì sao? Những luận điểm được trình bày trong đó về các
quyền và vô quyền chỉ có tính ước lệ và thường biến đổi (Prôtago). Chúng là một thứ chuyên
chế, bởi vì chúng buộc con người phải hành động trái với bản tính của mình (Ghippi). Quyền
là lợi tức và sức mạnh của kẻ có quyền cao gắn cho người dưới quyền (Phradimác). Pháp luật
của nhà nước được đem áp đặt cho dân chúng, cho nên người thượng đẳng (quý tộc) có quyền
tuân thủ chúng một cách tùy tiện (Caliclơ). Ở đây nổi bật lên những tư tưởng xã hội tiến bộ
của các nhà ngụy biện, cũng như tính tương đối đặc trưng phần đông trong việc đánh giá tính
23
Vào một phần ba cuối thế kỷ V TCN, sự bất đồng giữa các nhóm cấp tiến thành thị với
tập đoàn địa chủ báo thù Aten tăng lên nghiêm trọng. Những bất đồng này càng trở nên sâu
sắc cùng với sự khủng hoảng của đế chế Aten. Trong hoàn cảnh cực kỳ căng thẳng này,
Xôcrát (469 - 399 TCN) đã trở thành người lừng danh. Giống như các nhà ngụy biện, ông
cũng tự coi mình là nhà hiền triết, đấu tranh cho sự khai sáng. Xôcrát chủ tâm không viết một
tác phẩm nào cả, mà chỉ đơn thuần truyền khẩu những quan niệm của mình, cho nên việc
phân tích các quan điểm chính trị đầy mâu thuẫn của ông hết sức khó khăn.
Xôcrát căm ghét nền dân chủ “cực đoan” hình thành ở Aten và những đại diện của nó.
Ông thể hiện rõ việc ủng hộ thể chế quý tộc của Xpacta. Xôcrát không hài lòng với việc số
đông thường dân, những người tầm thường, vụng về và dốt nát tham gia vào công việc điều
hành nhà nước. Ông cho rằng đứng đầu quốc gia, giữ các trọng trách nhà nước phải thuộc về
thiểu số những người được lựa chọn, được chuẩn bị cần thiết để lãnh đạo chính trị.
Theo Xôcrát, nhà nước là điều ác không thể bình tâm trao mình cho điều quan trọng nhất
của cuộc đời là tự hoàn thiện đạo đức. Cần tận tâm thực hiện mọi đòi hỏi của chính quyền và
tuyệt đối phục tùng nó. Khi sống trong một quốc gia, người công dân dường như đã ký một
bản hợp đồng về việc tuân thủ tuyệt đố các đạo luật của nó, cho dù những đạo luật ấy tốt hay
xấu. Xã hội không thể tồn tại nếu như các đạo luật bất lực. Giá trị cao nhất là công lý, nghĩa là
sống tuân thủ pháp luật nhà nước.
Xôcrát là một nhân vật đầy mâu thuẫn, các quan điểm của ông cho đến nay vẫn gây nên
nhiều tranh luận. Thí dụ, như việc ông cho rằng cần lựa chọn các quan chức theo kiểu rút
thăm có đồng nhất với việc phủ nhận dân chủ nói chung không?. Việc tôn sùng quá mức pháp
luật có dung hợp được với sự coi thường luật pháp Aten từ phía tập đoàn thống trị hay
không?. Lẽ nào không phải chính Xôcrát đã gây nên sự tức giận cho giai cấp chủ nô khi ông
coi việc lao động chân tay là trách nhiệm của mỗi công dân tự do, chứ đâu phải là bổn phận
của riêng những người nô lệ?. Cuối cùng, phải chăng không phải chính ông đã dạy rằng đạo
đức, lòng trung thực, thói quen hành động hoàn toàn biến con người một cách có ý thức thành
quý tộc kiểu Xpacta, trong đó giới chóp bu của giai cấp chủ nô cầm quyền có khả năng dường
như hiểu được những tư tưởng siêu đẳng và nắm được phương pháp cai trị đối với toàn bộ
đám đông dân chúng còn lại.
Về mặt hình thức, nhà nước lý tưởng có thể được thiết lập, theo Platôn, hoặc là theo hình
thức quân chủ, hoặc theo hình thức quý tộc. Ông cho rằng mọi thể chế nhà nước tồn tại trên
thực tế đều đối lập với lý tưởng chính trị và là hình mẫu phản diện của thiết chế xã hội. Ông
nhận xét tinh tế: “Cho dù là nhà nước nào đi nữa thì trong nó bao giờ cũng có hai nhà nước
thù địch lẫn nhau: một là nhà nước của người giàu có, còn nhà nước kia là của kẻ nghèo khổ”.
Trong vấn đề này không thể không công nhận tính hiện thực của Platôn.
Để tạo ra sự bền vững không gì lay chuyển nổi cho nhà nước lý tưởng của mình, Platôn
cho rằng cần có sự thống nhất về sở hữu, phụ nữ, trẻ em và lối sống đối với các nhà triết học
và chiến binh là sự giáo dục của nhà nước đối với các tầng lớp này.
Nhà nước lý tưởng của Platôn đã không trở thành hiện thực. Ông ta chỉ còn cách than
vãn là dự án của mình (mô tả trong “Nhà nước”) - “chỉ dành cho thánh thần và con cháu
thánh thần”. Ông bắt đầu tìm kiếm phương án cải cách thể chế nhà nước và pháp luật.
Platôn tiếp tục bảo vệ nguyên tắc bất công xã hội và tinh chế định phạm vi các quyền
chính trị của công dân tùy thuộc thành phần xã hội của người đó. Trong số các công dân được
chia thành 4 giai cấp (bao gồm cả thảy 5040 người), giờ đây không kể thợ thủ công và thương
nhân (“Các luật”, quyển 8). Làm ruộng là công việc của nô lệ. Thường dân bị cấm sinh sống
ở các đô thị. Tài sản chung của các nhà triết học và chiến binh được bãi bỏ. Xóa bỏ sự phân
cực nguy hiểm về tài sản do sở hữu cá nhân sinh ra. Platôn đề nghị chuyển giao toàn bộ tài
sản cá nhân vượt quá mức tối đa quy định cho nhà nước.
Cũng như trước đây, việc điều hành nhà nước thuộc về người thượng lưu bao gồm các
nhà triết học và am hiểu chân lý. Giờ đây, điều cần nhấn mạnh thêm, họ phải là những công
dân cao tuổi và hiểu biết nhất. Các cuộc bầu cử và các cơ quan bầu cử mang tính hình thức do
Platôn đưa ra đã không làm thay đổi được cái cốt lõi của vấn đề, bởi lẽ đặc quyền của những
25