Bài dự thi: “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào”
Chủ đề 2 : Phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các
chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi
hoàn toàn(1963-1975)
Ngay sau khi giành được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước
tương trợ Lào – Việt (ký ngày 16 tháng 10 năm 1945) và Hiệp định về tổ chức
Liên quân Lào - Việt (ký ngày 30 tháng 10 năm 1945), đặt cơ sở pháp lý đầu tiên
cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân
tộc Việt Nam - Lào. Ngày 11-3-1951, theo sáng kiến của của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị khối liên minh nhân dân Việt Nam
– Lào – Campuchia đã thành lập, tạo cơ sở để nâng cao quan hệ đoàn kết và
phối hợp chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương và đã giáng đòn mạnh
mẽ vào chính sách “chia để trị” của bọn thực dân, đế quốc.
Mặc dù ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954, nhưng đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng
xâm lược, ra sức can thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào, âm mưu biến nơi đây
thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, để làm bàn đạp tiến công các nước
xã hội chủ nghĩa. Từ cuối năm 1958, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy mạnh các
hoạt động lật lọng, từng bước xoá bỏ các hiệp ước hoà hợp dân tộc đã được ký
kết để cuối cùng trắng trợn xoá bỏ Chính phủ liên hiệp và hoà hợp dân tộc.
Trước sự can thiệp trắng trợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Bộ Chính trị
Đảng Lao động Việt Nam (2-7-1959) đề ra chủ trương chi viện cách mạng Lào
đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng trong tình hình mới và coi đây là
một nhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng
Việt Nam. Về phía Việt Nam, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các bộ tộc
Lào, các đoàn công tác quân sự của ta đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng,
phục vụ cho việc mở tuyến đường mới dọc Tây Trường Sơn trên đất
Lào. Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ
Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Việc thiết lập quan
1
Lào về việc phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tập trung giúp Lào xây dựng
vùng giải phóng về mọi mặt. Tiếp đó, ngày 3/7/1965, Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết khẳng định: “Việt
Nam cần phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với công cuộc
phát triển cách mạng của Lào”[1]. Đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam
phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Nặm Bạc thắng lợi,
giải phóng hoàn toàn khu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân, nối
liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc
cho hậu phương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của
nhân dân Việt Nam và Campuchia.
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số lãnh đạo Lào trong một tác chiến, chiến đấu
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng
3
Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa
quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành
nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào.
Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳng định
tăng cường đoàn kết giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai trong bất cứ tình huống nào. Với tinh thần đó, đến cuối năm 1972,
cách mạng Lào đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng và cùng với những
chiến thắng to lớn về nhiều mặt của quân tình nguyện Việt Nam và quân giải
phóng nhân dân Lào cuối năm 1972, đầu năm 1973 đã trực tiếp góp phần quan
trọng buộc chính phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định Viêng Chăn “lập lại
hoà bình và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào” (21-2-1973).
Từ năm 1973, bước vào thời kỳ mới, quân và dân 2 nước Việt Nam -Lào đã
Tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời. Đây là thắng
lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan
trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son
sắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào.
Phải khẳng định rằng, giai đoạn chung chiến hào chiến đấu chống kẻ thù chung
(1963-1975), quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam phát triển lên đỉnh cao của
hình thức liên minh chiến lược trực tiếp chống đế quốc, trở thành một mẫu mực về
tình đoàn kết, chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau trên mọi lĩnh vực. Trong cuộc trường
chinh đầy gian khổ ấy, quân tình nguyện Việt Nam đã cùng Quân đội giải phóng
nhân dân Lào mở nhiều chiến dịch cùng hàng loạt trận chiến đấu thắng lợi, đánh
bại từng bước chiến lược“Chiến tranh đặc biệt”, rồi “Chiến tranh đặc biệt tăng
cường” của Mỹ ở Lào, làm cho đế quốc Mỹ phải phân tán lực lượng đối phó,
góp phần hỗ trợ đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của
5
chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, tạo đà phát triển đi lên của cách mạng
Campuchia, dẫn tới thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.
Thủy chung với tình hữu nghị truyền thống, trung thành với chủ nghĩa quốc tế
của giai cấp công nhân, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ, hỗ
trợ đến mức cao nhất cả về vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến chống đế
quốc Mỹ xâm lược của nhân dân các bộ tộc Lào. Đáp lại, Đảng, Nhà nước và
nhân dân Lào đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hết lòng ủng hộ và giúp đỡ Việt
Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ thực tiễn đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào trong những năm
tháng chiến tranh chống kẻ tù chung đã để lại một số bài học lịch sử, rất cần chắt
lọc, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mỗi nước
6