Ngày soạn 26/11/2011
Tiết 52 :
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG
( PHẦN VĂN )
A. Mục tiêu cần đạt : Giúp HS :
- Hiểu biết thêm về các tg văn học ở địa phương và các tác phẩm văn học viết
về địa phương trước 1975 .
- Biết đầu biết thẩm bình và biết được công dụng tuyển chọn tác phẩm văn học .
1. Kiến Thức :
- Cách tìm hiểu về các nhà văn , nhà thơ ở địa phương .
- Cách tìm hiểu về tác phẩm thơ văn viết về địa phương .
2. Kĩ năng :
- Sưu tầm , tuyển chọn tài liệu văn thơ viết về địa phương .
- Đọc – hiểu và thẩm bình thơ văn viết về địa phương .
- Biết cách thống kê tài liệu , thơ văn viết về địa phương .
3. Thái độ : Có thái độ trân trọng các tác phẩm thơ văn của các nhà văn , nhà thơ
ở địa phương .
B. Chuẩn bị :
- Giáo Viên : Giáo án , Sách ngữ văn địa phương
- Học Sinh : Tài liệu ngữ văn địa phương , tìm hiểu tác giả , tác phẩm
C. Tiến trình lên lớp :
Hoạt động 1 : Khởi động
- Mục tiêu:Tạo tâm thế và định hướng chú ý cho hs
- Phương pháp: Thuyết trình
1. Ổn định tổ chức : Kiểm tra sĩ số
2.Kiểm tra bài cũ : GV kiểm tra sự chuẩn bị của h/s
3. Bài mới : GV giới thiệu sơ lược về chương trình địa phương phần văn .
HỌAT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ
KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN ĐẠT
4. Huy Cận (1919 - 2005)
Ông sinh ra trong một gia đình nhà
nho nghèo gốc nông dân dưới chân
núi Mồng Gà, Hương Sơn (nay là
huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh.
5. Nguyễn Công Trứ (1778-1858)
Ông là người làng Uy Viễn nay là xã
Xuân Giang-Nghi Xuân-Hà Tĩnh.
1. Xuân Diệu (2 /2/1916 - 18 /12/1985)
- Là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ
mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của
Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944, thể hiện một triết lý bi quan,
tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực
sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình".
- Sau khi theo đảng (1945), thơ ông chủ yếu ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam, Hồ
Chí Minh, thơ tình của ông không còn được biết đến nhiều như trước.
- Ngoài làm thơ, Xuân Diệu còn là một nhà văn, nhà báo, nhà bình luận văn học.
2. Nguyễn Du (1765- 1820), Tiên Điền - Nghi Xuân - Hà Tĩnh
- Thơ chữ Hán Nguyễn Du cho thấy phần sâu kín trong tâm trạng ông. Nó như một
thứ nhật ký, giãi bày mọi nỗi niềm, mọi ý nghĩ trong cảnh sống thường nhật của
chính ông.
Cả ba cuốn Thanh Hiên thi tập (viết trong khoảng 1785-1802, khi Nguyễn Du lánh
ẩn ở quê vợ, Thái Bình, rồi trở về Hồng Lĩnh và ra lại Bắc Hà làm quan triều Gia
Long), Nam trung tạp ngâm (1805-1812, khi Nguyễn Du làm quan ở Huế rồi cai bạ
Quảng Bình) và Bắc hành tạp lục (1813-1814, thơ viết trên đường đi sứ Trung Hoa)
đều có một giọng u trầm thấm thía, đầy cảm xúc nội tâm.
- Thơ chữ Hán Nguyễn Du như một tiếng thở dài luận bàn nhân tâm thế sự và xót
thương thân phận. Một hình ảnh trở đi trở lại là mái tóc bạc, Nguyễn Du có mái tóc
bạc sớm, mái tóc như biểu tượng của lo nghĩ, của những nghiền ngẫm buồn thương
viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới.
- Làm thơ từ 1934, đăng thơ từ năm 1936. Là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất
của phong trào Thơ Mới, thơ ông có một bản sắc và giọng điệu riêng, có chiều sâu xã
hội cũng như triết lý. Thơ Huy Cận mang một nỗi buồn sâu lắng, miên man, ảo não
và thảm đạm; nỗi buồn của "đêm mưa", của "người lữ thứ", nỗi buồn của "quán chật
đèo cao", của "trời rộng sông dài".
Hoạt động 2:
II. Đọc các bài thơ, bài văn
Mục tiêu: HS nắm được một số tác phẩm
1. Học sinh đọc
và đôi nét về nội dung , nghệ thuật
Phương pháp: Đọc sáng tạo, thảo luận
GV g ọi h/s đọc bài thơ, bài văn đã sưu tầm 2. Nội dung, nghệ thuật
GV chia nhóm thảo luận các tác phẩm đã
sưu tầm
Gửi hương cho gió
Xuân Diệu
Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm
Đem gửi hương cho gió phụ phàng!
Bài ca ngất ngưỡng
Nguyễn Công Trứ
Mất một đời thơm trong kẽ núi
Không người du tử đến nhằm hang!
Hoa ngỡ đem hương gửi gió Kiều,
Là truyền tin thắm gọi tình yêu.
Song le hoa đợi càng thêm tủi
Gió mặc hồn hương nhạt với chiều.
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Vũ trụ nội mạc phi phận sự,
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc
Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiện
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngượng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bị
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người tái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn,
Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Trong triều ai ngất ngưởng như ông !
Đồng chí của Chính Hữu là một bài thơ
hay trong kháng chiến chống Pháp, ra
Họat Động 4 : Củng cố – Dặn dò
? Những nét chính về tác giả
- Học thuộc các bài thơ trên.
- Sọan : Dấu ngoặc kép.