DẠY LỚP 3
THEO CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
(Tái bản lần thứ nhất)
Chịu trách nhiệm xuất bản :
Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc NGÔ TRẦN ÁI
Phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập NGUYỄN QUÝ THAO
Tổ chức bản thảo và chịu trách nhiệm nội dung :
Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc NXBGD tại TP. Hà Nội NGUYỄN XUÂN
HÒA
Biên soạn :
TRẦN MẠNH HƯỞNG - TRẦN THỊ MINH PHƯƠNG
NGUYỄN ĐẮC DIỆU LAM (Tiếng Việt)
ĐỖ ĐÌNH HOAN - NGUYỄN ĐÌNH KHUÊ - NGUYỄN THANH SƠN
PHẠM THANH TÂM - NGUYỄN ÁNG (Toán)
LƯU THU THUỶ - NGÔ QUANG QUẾ (Đạo đức)
ĐÀO THỊ HỒNG - LÊ THU DINH
NGUYỄN TUYẾT NGA - BÙI PHƯƠNG NGA (Tự nhiên và Xã hội)
HOÀNG LONG - LÊ MINH CHÂU - LÊ ĐỨC SANG (Âm nhạc)
NGUYỄN HỮU HẠNH - BÙI ĐỖ THUẬT - NGUYỄN QUỐC TOẢN (Mĩ thuật)
LƯƠNG NGỌC CẨN - TRẦN THỊ THU- HÀ VĂN KHẢI (Thủ công)
TRẦN ĐÌNH THUẬN - VŨ THỊ THƯ - ĐẶNG ĐỨC THAO (Thể dục)
Biên tập lần đầu và tái bản :
ĐÀO TIẾN THI - NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
NGUYỄN MY LÊ - VŨ MAI HƯƠNG
NGÔ THANH HƯƠNG - BÙI ANH TÚ
NGUYỄN THỊ HIỀN - PHẠM VĨNH THÔNG
Sửa bản in :
HÀ QUỲNH ANH
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
VBT
Vở bài tập
LỜI NÓI ĐẦU
Để góp phần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, Dự án Phát
triển Giáo viên Tiểu học đã tổ chức biên soạn các mô đun đào tạo theo chương trình
Cao đẳng Sư phạm và chương trình liên thông từ Trung học Sư phạm lên Cao đẳng
Sư phạm ; biên soạn các mô đun bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, PPDH và kiểm tra
đánh giá kết quả giáo dục tiểu học theo chương trình, sách giáo khoa tiểu học mới.
Điểm mới của các tài liệu viết theo mô đun là thiết kế các hoạt động, nhằm tích cực
hoá hoạt động học tập của người học, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết
vấn đề, tự giám sát và đánh giá kết quả học tập của người học ;
chú trọng sử dụng kết hợp nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau (tài liệu in, băng
GV có được những kĩ năng cơ bản về thực hành đổi mới phương pháp dạy học để có
thể tiến hành tổ chức và hướng dẫn các hoạt động dạy học môn Tiếng Việt lớp 3.
1.3. Thái độ
Có ý thức tìm tòi, sáng tạo trong việc thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học, thực hiện tốt những nội dung, yêu cầu cơ bản của chương trình, SGK Tiếng Việt
3.
2. Nguồn
Kèm theo Tài liệu bồi dưỡng này, GV cần có :
1) Tiếng Việt 3 (SGK, hai tập), NXB Giáo dục, 2004.
2) Tiếng Việt 3 (SGV, hai tập), NXB Giáo dục, 2004.
3) Tập viết 3 (hai tập), NXB Giáo dục, 2004.
4) Vở bài tập Tiếng Việt 3 (hai tập), NXB Giáo dục, 2004.
5) Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 3, Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), NXB Giáo
dục, 2004.
6) Bộ mẫu chữ viết trong trường Tiểu học, Trung tâm Bản đồ và Tranh ảnh Giáo
dục, NXB Giáo dục, 2004.
7) Bộ chữ dạy tập viết, Trung tâm Bản đồ và Tranh ảnh Giáo dục, NXB Giáo dục,
2004.
8) Băng hình dạy và học môn Tiếng Việt lớp 3 (dạy Tập đọc, Tập làm văn), Ban chỉ
đạo đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông, Vụ Giáo dục Tiểu học, 2004.
9) Văn bản hướng dẫn về kiểm tra, đánh giá HS lớp 2, lớp 3, Vụ Giáo dục Tiểu học,
2004.
10) Hướng dẫn ra đề kiểm tra định kì môn Tiếng Việt lớp 3, Vụ Giáo dục Tiểu học.
3. Cấu trúc của Tiểu mô đun
3.1. Giới thiệu các chủ đề của tiểu mô đun
Mô đun 3 về bồi dưỡng GV dạy Tiếng Việt lớp 3 gồm có các chủ đề cơ bản như
sau :
+ Mục tiêu của hoạt động
+ Chỉ dẫn hoạt động
+ Dự kiến sản phẩm.
3.3. Phương pháp học tập tiểu mô đun
Chú trọng phương pháp học tập tích cực :
- Làm việc cá nhân
- Thảo luận nhóm
- Nêu ý kiến thắc mắc
- Nêu sáng kiến và trao đổi kinh nghiệm
- Thực hành giảng mẫu, dạy minh hoạ
- Xem băng hình, thảo luận về bài giảng qua băng hình.
B - TRIỂN KHAI TIỂU MÔ ĐUN (HỌC TRONG 22 TIẾT)
Chủ đề 1
Những điểm mới trong chương trình,
sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt lớp 3
Thông tin cơ bản
1. Mục tiêu môn học
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là :
- Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết)
để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
- Thông qua việc dạy - học môn Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
- Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản
về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài.
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
2. Quan điểm biên soạn sách
xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc ; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn
luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước.
Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với
những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là
đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc). Cụ thể là : kiến thức và kĩ năng của lớp trên,
bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao
hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới.
Dĩ nhiên, trong tích hợp vẫn có điểm nhấn. Không nắm được điểm nhấn này, GV dễ
hiểu lệch yêu cầu tích hợp, dẫn tới chỗ sa đà, ví dụ biến giờ Tập đọc thành giờ dạy
Đạo đức, thậm chí giờ dạy Toán hay Thủ công (gấp hình, xé giấy),... Để nắm vững
trọng tâm của mỗi tiết học, bài học, GV nên đọc kĩ phần mục đích, yêu cầu của mỗi
tiết, mỗi bài nêu trong SGV.
c) Quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của HS
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK lần này là
đổi mới phương pháp dạy và học : chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương
pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó GV đóng vai trò người tổ chức
hoạt động của HS ; mỗi HS đều được hoạt động, mỗi HS đều được bộc lộ mình và
được phát triển.
Theo phương pháp tích cực hoá hoạt động học tập của HS, SGK Tiếng Việt 3 không
trình bày kiến thức như là những kết quả có sẵn mà xây dựng hệ thống câu hỏi, bài
tập hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển
kĩ năng sử dụng tiếng Việt ; SGV Tiếng Việt 3 hướng dẫn GV cách thức cụ thể tổ
chức các hoạt động này.
3. Nội dung SGK Tiếng Việt 3
a) Các đơn vị học
SGK Tiếng Việt 3 gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm, học trong 2
tuần (trừ chủ điểm Ngôi nhà chung học trong 3 tuần), cụ thể như sau :
Tập 1 gồm 8 chủ điểm :
- Tuần 1, 2 : Măng non (Thiếu nhi)
- Tuần 3, 4 : Mái ấm (Gia đình)
dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung cấp cho HS những hiểu biết về thiên nhiên,
xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn
học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật,...) và góp phần rèn luyện nhân cách cho HS.
- Phân môn Kể chuyện rèn các kĩ năng nói, nghe và đọc. Trong giờ kể chuyện, HS
kể lại những câu chuyện phù hợp với chủ điểm mà các em đã đọc (trong SGK hoặc
trong các sách khác), nghe thầy cô hoặc bạn kể rồi kể lại câu chuyện bằng lời của
mình hoặc trả lời câu hỏi về câu chuyện đó.
- Phân môn Chính tả rèn các kĩ năng viết, nghe và đọc. Trong giờ chính tả, nhiệm
vụ của HS là viết một đoạn văn (nhìn - viết, nghe - viết, nhớ - viết) và làm bài tập
chính tả, qua đó rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Các bài chính tả nhiều khi
cũng cung cấp cho HS vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống.
- Phân môn Tập viết chủ yếu rèn kĩ năng viết chữ. Trọng tâm ở lớp 3 là luyện viết
chữ hoa. Qua các từ ngữ và câu ứng dụng, HS có thêm hiểu biết về các nhân vật lịch
sử, các địa danh, tích luỹ thêm được vốn ca dao, tục ngữ và vốn sống.
- Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng
con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho
HS.
- Phân môn Tập làm văn rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, viết và đọc. Trong giờ tập làm
văn ở lớp 3, HS được dạy các kĩ năng giao tiếp như viết thư, làm đơn, khai giấy tờ,
hội họp (họp nhóm, họp tổ, báo cáo hoạt động của tổ, lớp...). Ngoài ra, HS còn được
rèn luyện các kĩ năng nghe và nói thông qua hình thức nghe - kể.
c) Cấu trúc của một đơn vị học
* Tuần thứ nhất
* Tuần thứ hai
- Tập đọc - Kể chuyện (2 tiết): Một - Tập đọc - Kể chuyện (2 tiết): Một
truyện kể
triển bằng con đường truyền giảng thụ động. Muốn phát triển những kĩ năng này,
HS phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của GV. Các
kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hoá, tự nhiên và xã hội có thể được tiếp thu qua
lời giảng, nhưng HS chỉ làm chủ được những kiến thức này khi các em chiếm lĩnh
chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình. Cũng như vậy, những tư tưởng,