ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Trần Minh Tiến
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
MƯA AXÍT ĐẾN HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Trần Minh Tiến
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA MƯA AXÍT ĐẾN HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ THU HÀ
Hà Nội - 2017
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.............................................3
1.1. Tổng quan về mưa axít .........................................................................................3
1.1.1. Một số khái niệm về mưa axít: ..........................................................................3
1.1.2. Nguyên nhân của hiện tượng mưa axít .............................................................4
1.1.3. Cơ chế hình thành mưa axít ..............................................................................5
1.1.4. Những ảnh hưởng của mưa axít ........................................................................6
1.2. Tổng quan về hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) ..............................................7
1.2.1. Khái niệm về hệ sinh thái nông nghiệp .............................................................7
1.2.2. Đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp ............................................................8
1.2.3. Tổ chức của hệ sinh thái nông nghiệp...............................................................8
1.3. Các nghiên cứu về hiện trạng và ảnh hưởng của mưa axít tới hệ sinh thái nông
nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam .............................................................................9
1.3.1. Trên thế giới ......................................................................................................9
1.3.2. Tại Việt Nam ...................................................................................................12
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu ..........................................................................14
1.4.1. Tỉnh Hòa Bình ................................................................................................14
1.4.2. Thành phố Hòa Bình .......................................................................................19
1.4.3. Huyện Yên Thủy .............................................................................................19
1.4.4. Huyện Lạc Sơn ................................................................................................20
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................22
2.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................22
2.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................22
2.3. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................22
2.3.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp ...........22
2.3.2. Phương pháp điều tra thực địa ........................................................................22
2.3.3. Phương pháp tính toán các đặc trưng mưa axít ..............................................23
2.3.4. Phương pháp tiếp cận bằng mô hình DPSIR ..................................................25
2.3.5. Phương pháp Delphi........................................................................................26
HSTNN: Hệ sinh thái nông nghiệp
QT: Quần thể
UBND: Ủy ban nhân dân
i
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Các nguyên nhân gây nên hiện tượng mưa axít……………………….….4
Hình 1. 2. Cơ chế hình thành mưa axít .......................................................................5
Hình 1. 3. Sơ đồ vị trí tỉnh Hòa Bình .......................................................................15
Hình 3. 1. Tỷ lệ mưa axít (%) tại trạm Hòa Bình .....................................................29
Hình 3. 2. Biến động pH qua các tháng tại trạm Hòa Bình ......................................30
Hình 3. 3. Nồng độ trung bình của các ion chính trong nước mưa tại trạm Hòa Bình
giai đoạn 2000-2014 ..................................................................................................32
Hình 3. 4. Giá trị nồng độ trung bình các ion chính trong mùa mưa và mùa khô tại
trạm Hòa Bình giai đoạn năm 2000-2014………………………………………….33
Hình 3. 5. Sự biến thiên của giá trị pH và pAi tại trạm Hoà Bình ...........................37
Hình 3. 6. Tổng lắng năm các ion NO3-, SO42-, NH4+, Ca2+ (g/m2) ở Hòa Bình giai
đoạn 2000 – 2014 ......................................................................................................38
Hình 3. 7. Sơ đồ tính toán lắng đọng ướt ..................................................................39
Hình 3. 8. Tổng lượng lắng ướt của ion SO42- và NOx qui đổi ra S và N ở Hòa Bình
...................................................................................................................................40
Hình 3. 9. Tải lượng lắng khô SO2 và NOx qui đổi ra S và N tại Hòa Bình .............43
Hình 3. 10. Sơ đồ tải lượng lắng đọng axít tại Hòa Bình.........................................45
ii
DANH MỤC BẢNG
hoà tan với hơi nước trong không khí tạo thành các hạt axít sunfuaric (H2SO4), axít
nitơric (HNO3). Khi trời mưa, các hạt axít này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của
nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axít. Do có độ
chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim loại có
trong không khí như ôxit chì,... làm cho nước mưa trở nên độc hơn đối với cây cối,
vật nuôi và con người.
Tại tỉnh Hoà Bình, dựa theo số liệu quan trắc của Mạng lưới giám sát Lắng
đọng axít Đông Á ( EANET), tính toán cho thấy tần suất xuất hiện mưa axít tương
đối lớn (34,9%) và từ năm 2000 đến 2013 tỉnh Hòa Bình liên tục xuất hiện mưa axít
với lưu lượng từ 1303 mm/năm đến 2008 mm/năm. Một trong những tác hại
nghiêm trọng của mưa axít là các tác hại đối với thực vật và đất. Khi có mưa axít,
các dưỡng chất trong đất sẽ bị rửa trôi. Các hợp chất chứa nhôm trong đất sẽ phóng
thích các ion nhôm và các ion này có thể hấp thụ bởi rễ cây và gây độc cho cây.
Không phải toàn bộ SO2 trong khí quyển được chuyển hóa thành acid sulfuric mà
một phần của nó có thể lắng đọng trở lại mặt đất dưới dạng khí SO2. Khi khí này
tiếp xúc với lá cây, nó sẽ làm tắt các thể soma của lá cây gây cản trở quá trình
quang hợp. Như vậy, mưa axít có thể đã ảnh hưởng đến hệ sinh thái nông nghiệp
tỉnh Hòa Bình. Từ đó chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiện
trạng và ảnh hưởng của mưa axít đến hệ sinh thái nông nghiệp ở tỉnh Hòa
Bình”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá hiện trạng mưa axít tại tỉnh Hòa Bình.
1
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mưa axít đến hệ sinh thái nông nghiệp tại tỉnh
Hòa Bình.
- Đề xuất được một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng của mưa axít tới hệ
sinh thái nông nghiệp ở tỉnh Hòa Bình
SOx và Cl2. Vì vậy, thuật ngữ mưa axít không chỉ là mưa axít, mà gọi chung là sự
lắng đọng axít.[1]
Theo định nghĩa của Ủy ban kinh tế Châu Âu (ECE) thì mưa có chứa các axít
H2SO4 và HNO3 với pH 5,5 là mưa axít. Tuy nhiên quy định về giới hạn giá trị
pH ứng với mưa axít ở mỗi nước lại có sự khác nhau, ví dụ ở Mỹ quy định mưa axít
là những trận mưa có pH 5,0, còn ở Ấn Độ, Inđônêxia, Hàn Quốc, Thái Lan thì
chỉ tiêu tương ứng với pH 5,6. Hiện nay người ta đều thống nhất lấy giá trị pH =
5,6 (là giá trị của dung dịch H2CO3 bão hòa trong nước cất) làm giới hạn quy định
mưa axít. Theo đó thì tất cả những cơn mưa có độ pH đo được của nước mưa < 5,6
đều được xem là mưa axít.[15]
Lắng đọng axít (acid deposition) là một quá trình mà các chất nhiễm bẩn có
tính axít trong khí quyển rơi xuống bề mặt trái đất. Các chất nhiễm bẩn đó gây tác
hại đối với cây trồng vật nuôi, ăn mòn nước sẽ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường
sống của các sinh vật trong nước. Lắng đọng axít bao gồm cả hai hình thức:
- Lắng đọng khô gồm các khí, hạt bụi và sol khí có tính axít.
- Lắng đọng ướt được thể hiện dưới nhiều dạng như mưa, tuyết, sương mù,
hơi nước có tính axít.
Mưa axít là một dạng của lắng đọng ướt. Lắng đọng axít được tạo thành
trong điều kiện khí quyển bị ô nhiễm do sự phát thải quá mức các khí SO2, NOx từ
các nguồn thải công nghiệp và có khả năng lan xa tới hàng trăm, hàng ngàn kilomet.
Bởi vậy, có thể nguồn phát thải sinh ra từ quốc gia này nhưng lại có ảnh hưởng tới
nhiều quốc gia lân cận khác do sự chuyển động quy mô lớn trong khí quyển.[28]
3
1.1.2. Nguyên nhân của hiện tượng mưa axít
Nguyên nhân của mưa axít là do trong nước mưa có hoà tan những khí SO2,
SO3, NO, NO2, N2O. Các khí này hoà tan trong nước mưa tạo ra các axít tương ứng
của chúng, làm cho độ pH thấp gây nên hiện tượng mưa axít [15].
2SO2 + O2 (kk) SO3
(2)
SO3 + H2O (kk) H2SO4
(3)
4NO2 + O2(kk) 2N2O5
(4)
N2O5 + H2O(kk) 2HNO3
(5)
Phản ứng (2) và(3) được xúc tác bởi các chất như ion amoni (NH4+),
ôzon,…Phản ứng (4) và (5) được xúc tác bởi ion Mg2+, NH4+, Fe2+, Fe3+,…có mặt
trong không khí, đặc biệt là không khí bị ô nhiễm nặng.
5
1.1.4. Những ảnh hưởng của mưa axít
1.1.4.1. Ảnh hưởng của mưa axít lên thực vật và đất
Một trong nhữ n g tác hại nghiêm trọng của mưa axít là các tác hại đối với
thực vật và đất. Khi có mưa axít, các dưỡng chất trong đất sẽ bị rữa trôi. Các hợp
chất chứ a nhôm trong đất sẽ phóng thích các ion nhôm và các ion này có thể hấp
thụ bởi rễ cây và gây độc cho cây. Như chúng ta đã nói ở trên, không phải toàn bộ
Ví dụ như tòa nhà Capitol ở Ottawa đã bị tan rã bởi hàm lượng SO 2 trong không khí
quá cao. Vào năm 1967, cây cầu bắc ngang sông Ohio đã sập làm chết 46 người
nguyên nhân cũng là do mưa axít [15].
Theo dự báo, đến giữa thế kỉ 21, hàm lượng khí SO2 trong khí quyển sẽ tăng
gấp đôi so với hiện nay.
1.1.4.5. Ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người
Khí SO2 là chất chủ yếu gây ra mưa axít, rất nguy hiểm cho sức khỏe con
người. Với hàm lượng SO2 trong không khí lên tới 8mg/l, con người sẽ cảm thấy
khó chịu, nếu hàm lượng SO2 lên tới 400mg/l thì sẽ gây tử vong.
Sự phát thải SO2 và NOx gây ra những nguy cơ tới vấn đề về hô hấp như khô
họng, bệnh hen, đau đầu, mắt, mũi và rát họng. Nước mưa bị ô nhiễm đặc biệt có
hại cho những người bị bệnh hen suyễn hay những người khó thở. Nhưng ngay cả
những người khoẻ cũng bị tổn hại về phổi bởi những chất ô nhiễm không khí có
tính axít. Mưa axít có thể làm giảm khả năng thở và có thể làm tăng những loại
bệnh nguy hiểm.
NOx bản thân nó là một khí nguy hiểm. Loại khí này tấn công lớp màng của
cơ quan hô hấp và làm tăng các bệnh về đường hô hấp. Khí này cũng góp phần phá
hủy ozon và hình thành sương mù [15].
1.2. Tổng quan về hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN)
1.2.1. Khái niệm về hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì trên
cơ sở các quy luật khách quan của tự nhiên vì mục đích thỏa mãn nhu cầu nhiều mặt
và ngày càng tăng của mình. Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo điển
hình, chịu sự điều khiển trực tiếp của con người [19].
Ví dụ : Nông trường, hợp tác xã, nông trại hoặc làng, xóm ... .
7
1.2.2. Đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp
- Khu vực dân cư.
Trong các HST phụ, HST đồng ruộng cây hàng năm chiếm diện tích rất lớn .
HST cây lâu năm về thực chất không khác mấy so với HST rừng. HST đồng cỏ về
tính chất gần giống các HST tự nhiên. HST ao hồ là nội dung nghiên cứu chủ yếu
của nghề nuôi cá, dính đến HST nước ngọt.
1.3. Các nghiên cứu về hiện trạng và ảnh hưởng của mưa axít tới hệ sinh
thái nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Trên thế giới
Theo các nhà khoa học thì sau trận mưa axít đầu tiên đã xuất hiện từ rất lâu
trên trái đất, khoảng 65 triệu năm trước, từ đó cho đến nay hiện tượng mưa axít đã
gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng trên hành tinh của chúng ta.
Năm 1852, nhà hóa học người Anh - Robert Argust Smith đã đưa ra báo cáo
chi tiết về hóa học nước mưa từ đó kêu gọi sự chú ý của mọi người đến sự thay đổi
hóa học giáng thủy. Năm 1872, trong cuốn sách “Không khí và mưa: Những khởi
đầu của ngành hóa học khí hậu”, lần đầu tiên ông sử dụng thuật ngữ mưa axít.
Đầu thế kỷ XX, một nhà khoa học thổ nhưỡng của Thụy Điển tên là Hans
Egner đã thiết lập một hệ thống trạm để thu gom, lấy mẫu và phân tích thành phần
hóa học nước mưa. Giữa năm 1940, việc lấy mẫu bằng thùng và theo tháng được
triển khai trên toàn điền trang của Thụy Điển. Độ axít của nước mưa được đo đạc.
Sau đó, các nhà khoa học đã mở rộng mạng lưới ra Na Uy, Đan Mạch và hầu hết
các nước Tây, Trung Âu - gọi là Mạng lưới hóa học không khí Châu Âu (European
Air Chemistry Network – EACN). Đến năm 1957, mạng lưới này tiếp tục mở rộng
về phía Đông bao gồm Ba Lan và một phần lớn Liên Xô (cũ). [16]
Đầu thập niên 1970, tại hội nghị “Hội nghị của Liên hợp quốc về vấn đề con
người - Môi trường” ở Stockholm, chính quyền Thụy Điển đã công bố những kết
quả nghiên cứu được tóm tắt với nhan đề: “Ô nhiễm không khí xuyên qua biên giới
các quốc gia; tác hại trên môi trường của Sulfur trong không khí và mưa, mù axít”.
Nghiên cứu này đã chỉ ra sự ảnh hưởng xuyên biên giới của mưa axít do có sự di
Đặc biệt, đã có một số các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa axít
đến hệ sinh thái nông nghiệp như sau:
Năm 1972, ba tổ chức Na Uy tiến hành thiết lập một dự án mang tên:
Chương trình nghiên cứu liên ngành Na Uy: “Giáng thủy axít – Hậu quả đến lâm
nghiệp và thủy sản”. Ở nghiên cứu này, các tác giả đã xác định được ảnh hưởng của
10
mưa axít đến lâm nghiệp và thủy sản ở Na Uy. Theo đó, hiện tượng giáng thủy axít
không giết chết cây cối ngay lập tức hay một cách trực tiếp. Thay vào đó, chúng
làm cho cây yếu đi bằng cách phá hủy lá cây, do đó làm hạn chế lượng chất dinh
dưỡng cho cây sử dụng. Hay cách khác, mưa axít thấm vào đất, gây độc cho cây với
những chất độc thông qua bộ rễ cây.
Nghiên cứu của Dubay D.T và Heagle A.S trong năm 1987 về “Ảnh hưởng
của mưa axít nhân tạo với việc có sự tác động và không tác động của mưa tự nhiên
lên sự sinh trưởng và sản lượng của cây đậu tương.” cho thấy mưa axít nhân tạo
gồm các nồng độ SO42-, NO3-, H+ gây ra những tổn thương về lá, làm gia tăng hàm
lượng S trong lá, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, làm giảm sản lượng của cây trồng,
và thay đổi tính chất hóa học trong đất [39].
Trong nghiên cứu “Mưa axít và sự nảy mầm của hạt giống hoa ngô” –Frank S.
Wertheim và Lyle E.Craker vào năm 1987, các tác giả đánh giá sự đóng góp của ion
sunphat, ảnh hưởng của sự axít hóa, những ảnh hưởng của thời gian và việc điều chỉnh
các nồng độ axít khác nhau làm giảm khả năng nảy mầm của phấm hoa ở ngô [39].
Vào năm 2005, Munzuroglu và cộng sự tiến hành nghiên cứu về “Ảnh hưởng
của lắng đọng axít lên vitamin A, C, E ở cây dâu tây”. Nghiên cứu cho thấy ảnh
hưởng của mưa axít được tiến hành với pH từ 2 -5 đến các vitamin A, C, E của quá
trình dâu tây chin. Mưa axít được thực hiện trên các cây ăn quả theo 2 cách: phun
lên phần đất phía trên hoặc vào rễ. Các nồng độ vitamin của tất cả các cây dâu tây
được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).Nó xác định
có quy luật nên chỉ số sinh trưởng và phát triển của rau cải xánh không có quy luật,
ngoại trừ tỉ lệ nảy mầm giảm, chiều dài rễ và tỉ lệ rễ/thân đến khi hình thành lá gốc
tăng khi tần suất mưa axít tăng. Nghiên cứu này nhằm tìm ra sự liên quan của các
thông số về mưa axít như độ pH, lượng mưa, tần suất mưa lên chỉ số sinh trưởng và
phát triển của cây cải xanh. Kết quả thu được cùng với việc thống kê hiện trạng
mưa axít vùng trồng rau có thể đánh giá được tác hại của mưa axít lên năng suất rau
trồng trong điều kiện kỹ thuật trồng rau hiện tại [17].
PGS.TS. Nguyễn Hồng Khánh, Viện CNMT – Viện KH & CN Việt Nam, có
bài “Đánh giá diễn biến và phân tích nguồn gốc bản chất hóa nước mưa từ Ninh
Bình trở ra” [16], trong bài tác giả đã phân tích các thành phần của nước mưa theo
diễn biến không gian và thời gian và kết quả đều cho thấy mưa axít đã xuất hiện khá
cao ở Yên Bái, Bãi Cháy, Bắc Quang, tỷ lệ mưa axít xuất hiện vào mùa khô cao hơn
nhiều so với mùa mưa. Trong bài “Một so sánh giữa phát thải chất tiền axít và tổng
lượng lắng axít trong không khí vùng miền Bắc Việt Nam” tác giả đã tính toán tổng
lắng ướt lắng khô, tính toán phát thải và đã đưa ra kết quả tính toán quan hệ giữa
12
phát thải và lắng axít trong giai đoạn 2003 – 2005 như sau: Tổng lắng S/phát thải
năm 2004 là 2,7 lần; 2005 là 3,1 lần. Tổng lắng N/phát thải năm 2004 là 1,45 lần;
năm 2005 là 1,47 lần. Theo kết quả tính toán có thể kết luận rằng tổng lượng lắng
axít lớn hơn so với lượng phát thải, tuy nhiên kết quả tính toán này chỉ có tính
tương đối vì ở nước ta chưa có chính sách đăng ký thải và quan trắc chất thải tại
nguồn cũng như quan trắc không khí xung quanh nguồn phát thải nên phần các chất
thải từ vùng lãnh thổ này vận chuyển đi nơi khác hoặc từ nơi khác đến là chưa kiểm
soát được.
ThS. Phạm Thị Thu Hà, trường ĐHKHTN – ĐHQGHN, có bài “Bước đầu
đánh giá hiện trạng lắng đọng axít ở khu vực Hà Nội và Hòa Bình”. Trong bài
nghiên cứu này, tác giả cũng khẳng định mưa axít đã xuất hiện ở Hà Nội và Hòa
đầu tiên trong nước đánh giá ảnh hưởng của mưa axít đối với cây đậu Cô ve và góp
phần bổ sung cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa ảnh hưởng của mưa axít đến sự
sinh trưởng và phát triển của cây trồng nông nghiệp cũng như sự thay đổi một số
tính chất hóa học của đất trồng. Lần đầu tiên xây dựng được phần mềm quản lý cơ
sở dữ liệu và đánh giá hiện trạng lắng đọng axít cho khu vực nghiên cứu.
Như vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu của một số tác giả trong nước cho thấy
Hòa Bình là tỉnh có tần suất xuất hiện mưa axít tương đối lớn. Do vậy, những ảnh
hưởng của mưa axit đến hệ sinh thái là điều không tránh khỏi. Tại Hoà Bình, đã có
một số các công trình nghiên cứu về hiện trạng mưa axít, tuy nhiên chưa có nghiên
cứu hệ thống nào về hiện trạng mưa axít trong giai đoạn liên tục từ năm 2000-2014
cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa axít đến hệ sinh
thái nông nghiệp ở tỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống hiện trạng mưa
axit trong giai đoạn dài và đánh giá ảnh hưởng của mưa axit đến hệ sinh thái nông
nghiệp trong tỉnh Hoà Bình là rất cần thiết.
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1. Tỉnh Hòa Bình
1.4.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
Hoà Bình là một tỉnh miền núi, địa hình chuyển tiếp từ vùng đồng bằng Sông
Hồng lên vùng Tây Bắc. Là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, cách Hà nội khoảng 70 km.
14
Tỉnh có 11 huyện, thành phố: Đà Bắc, Mai Châu, Tân lạc, Lạc Sơn, Kim
Bôi, Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Kỳ Sơn, Cao Phong và Thành phố Hoà Bình
với 210 xã, phường, thị trấn.
Hoà Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè
nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 230C. Tháng 7 có nhiệt độ cao
nhất trong năm, trung bình 27 – 290C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình
15,5 – 16,50C.
- Bảo vệ rừng : 72.578ha/ kế hoạch 72.607 ha, đạt 99%; Trong đó: Rừng phòng
hộ đặc dụng: 66.734ha/ 66.734ha đạt 100% so với kế hoạch ; Rừng sản xuất: 5.844/ kế
hoạch 5.873ha đạt 99%. Trồng rừng mới và phân tán: 7.372,1ha/7.036ha đạt 104,8%
gồm : Rừng phòng hộ đặc dụng: 1.701 ha, Rừng sản xuất: 949,7ha/800 ha, dự án giảm
nghèo 133 ha, dự án 135: 295ha, Dân tự trồng và các dự án khác 4.293,4 ha. Chăm sóc
rừng trồng: 7061ha/7114 ha đạt: 99%. Khoanh nuôi tái sinh : 4.180 ha/4180 ha, đạt
100%.
16
Bảng 1. 1. Diện tích rừng trồng và chăm sóc rừng qua các năm - tỉnh Hoà Bình
Đơn vị tính :ha
Diện tích
Loại rừng
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Rừng sản xuất
5.850
6.300
7980
Tài nguyên khoáng sản có 12 loại. Khoáng sản là nguyên liệu vật liệu xây
dựng và nguyên liệu làm sứ: Ðất sét, đá vôi, đá granít, đá cócđoa...; khoáng sản kim
loại như: Quặng sắt mỏ nhỏ trữ lượng ít chưa xác định, sắt, quặng đa kim (đồng,
chì, kẽm, thuỷ ngân, antimoan), vàng sa khoáng, khoáng sản phi kim loại như pirít,
photphorít, cao lanh...; khoáng sản than đã được khai thác rải rác ở huyện Kim Bôi,
Lạc Thuỷ, Lạc Sơn, có nhiều vỉa lộ thiên để khai thác với trữ lượng 1 triệu tấn.
d. Tài nguyên nước
* Tài nguyên nước mặt:
Hoà Bình có nguồn tài nguyên nước mặt rất dồi dào, tổng lượng nước hàng
năm của các sông suối trong tỉnh đạt hơn 60 tỷ m3. Ngoài hồ chứa Hoà Bình, trong
tỉnh còn có 514 hồ chứa lớn nhỏ khác. Hệ thống sông suối trong tỉnh Hoà Bình
17