ngành điều, các cơ hội và thách thức của ngành điều khi gia nhập khối AEC - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ
******

BÀI BÁO CÁO
MÔN: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
GVHD: Trần Minh Trí
Thực hiện: Nhóm 22-Thứ 5, tiết 789, TV101

Thủ Đức, tháng 06 năm 2016



CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
2.1 Đặt vấn đề
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập vào ngày 8/8/1967 gồm 10
quốc gia, trong đó có VN với mục tiêu nhằm thiết lập một liên minh chính trị, kinh tế,
văn hóa và xã hội của các nước trong khu vực. Sau 47 năm tồn tại và phát triển, trải
qua nhiều bối cảnh thăng trầm của thế giới và khu vực, ASEAN đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể, trở thành một tổ chức hợp tác khu vực trên tất cả các lĩnh vực;
trong đó lĩnh vực kinh tế luôn được chú trọng và đặt lên hàng đầu. Hiện nay, ASEAN
đang chuyển sang giai đoạn thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế
“ASEAN tầm nhìn 2020” và AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng
ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra, ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát
triển với mục tiêu bao trùm là hình thành cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt
động dựa trên cơ sở pháp lý và hiến chương ASEAN.
Trong bối cảnh quốc tế mới và tác động của AEC đối với VN thì việc nhận diện
những “cơ hội” và “thách thức” đối với các doanh nghiệp VN là cần thiết, góp phần
định hướng những lợi ích và những khó khăn mà AEC sẽ mang lại cho nền kinh tế VN
cũng như các doanh nghiệp nói riêng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào một thị
trường chung và thống nhất.

Singapore, Thái Lan, Việt Nam.
AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện
các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020. Hai trụ cột còn lại là: Cộng đồng An
ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN. (Theo báo cáo của Ngân hàng
Phát triển Châu Á tổng GDP của khu vực ASEAN đạt 2.310 tỷ USD năm 2012 và dự
báo tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2014 đạt 5,3%).
Lợi ích mà các thành viên có được khi AEC được hình thành đó là tăng trưởng
kinh tế nhanh hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh
mẽ hơn, phân bổ nguồn lực tố hơn, tăng cường năng lực sản xuất và tính cạnh tranh,
chú trọng thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước.
Mục tiêu của chiến lược là hình thành 1 thị trường chung của các nước thành
viên trong đó có 5 cấu phần quan trọng: tự do di chuyển hàng hóa, tự do cung cấp dịch
vụ, tự do đầu tư, tự do di chuyển vốn, tự do di chuyển lao động có kĩ năng.
2.2 Thực trạng kinh tế nội khối ASEAN.

Thương mại nội khối tăng đồng nghĩa với việc xuất khẩu và nhập khẩu tăng, các
dịch vụ tăng sẽ ngày càng tạo ra nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên, mức độ tăng giữa các
nước không đồng đều và không ổn định giữa các năm. Mặc dù thương mại nội khối
ASEAN đã duy trì ở mức 24,3% tổng khối lượng thương mại toàn khu vực nhưng nếu
so với trao đổi thương mại của khu vực EU là 70% thì mức độ hội nhập và liên kết nội
khối ASEAN vẫn còn thấp. Nhìn chung các nước thuộc khu vực ASEAN mặc dù đã
tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước những nông nghiệp vẫn chiếm tỷ
trọng cao, chưa có chính sách kinh tế phù hợp, lao động có trình độ thấp, phụ thuộc
quá nhiều vào nguồn tài chính nước ngoài dẫn đến nền kinh tế các nước chưa phát
triển đồng đều và vững chắc.
Quy mô GDP của Việt Nam đã có bước tăng trưởng khá đều kể từ năm 2008 với
tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2008-2013 là 5.7% và giá trị bình quân đạt 131
triệu USD/năm. Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực xét theo tốc độ tăng trưởng,
nhưng về mặt quy mô GDP, Việt Nam chỉ đứng thứ 6/10 nước Asean. GDP hiện hành
của Việt Nam tương đối thấp so với các nước Asean nhưng chênh lệch này ngày càng

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu
hàng hóa quý 1 năm 2016 của Việt Nam với khu vực ASEAN đạt 9,4 tỷ USD, giảm
9,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các
nước ASEAN đạt 4,01 tỷ USD, giảm 13,4% so với cùng kỳ, và chiếm 10,3% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam có xuất xứ từ
các nước ASEAN đạt 5,39 tỷ USD giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước, và chiếm
14,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Với kết quả trên thì cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với các nước
ASEAN trong quý 1 năm 2016 thâm hụt 1,38 tỷ USD, trong đó các nước có mức thâm
hụt lớn nhất là với Thái Lan thâm hụt 982 triệu USD, với Singapore thâm hụt 806 triệu
USD, với Malaixia thâm hụt 318 triệu USD ... Các nước có mức thặng dư thương mại
lớn nhất là Philippin thặng dư 331 triệu USD, Camphuchia tặng dư 225 triệu USD, ...
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước
ASEAN trong Quý I/2015 và Quý I/2016
Xuất khẩu

STT

Tên nước

Nhập khẩu

Tăng/giảm
so với cùng
kỳ năm
trước (%)

Tỷ
trọng
trong


-

2

3

58,6

.

03
tháng
2015
(Triệu
USD)

03
tháng
2016
(Triệu
USD)

5

1

Brunây

2


571

618

8,2

1,7

4

Lào

149

111

-25,5

0,3

171

117

-31,4

0,3

5


17

15

-13,2

0

7

Philippin

466

534

14,6

1,4

203

216

6,6

0,6

8


1.680

1819

8,3

4,9

6


Khu vực
ASEAN

4.633

4.011

-13,4

10,3

5.731

5.391

-5,9

14,4


18.575

1,8

30.685

-3,9

ASEAN

4.011

-13,0

5.391

-5,9

Trung Quốc

4.197

19,2

10.663

-5,9

Hàn Quốc


2.241

-14,2

716

-9,6

671

13,3

Châu Mỹ

10.320

16,0

3.027

-4,3

Hoa Kỳ

8.338

17,3

1.740


ASEAN là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam nhiều năm qua. Đặc
biệt, khi thời điểm thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đang đến gần, hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN ngày một khởi sắc.
Số liệu thống kê của TCHQ, 10 tháng đầu năm 2015, Việt Nam đã xuất khẩu
sang ASEAN 15,3 tỷ USD, trong đó, Malaysia là thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch
cao nhất, chiếm 19,9% tổng kim ngạch đạt trên 3 tỷ USD, đứng thứ hai là thị trường
Singapore chiếm 18,3% đạt kim ngạch 2,8 tỷ USD và Thái Lan đạt 2,7 tỷ USD, chiếm
17,6% tổng kim ngạch.
Bảng 2.3: Tình hình xuất khẩu sang ASEAN tháng 10, 10 tháng 2015
ĐVT: USD
Thị trường

XK T10/2015

XK 10T/2015

Malaysia

305.435.463

3.069.103.078

Singapore

255.348.063

2.826.393.167

Thái Lan


28.251.163

309.618.462

Brunei

3.173.866

23.355.855

1.572.664.575

15.378.836.863

Tổng cộng:

Nguồn số liệu: Thống kê Hải Quan
Trước đó, 9 tháng đầu năm 2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của
Việt Nam với thị trường ASEAN đạt 31,3 tỷ USD. Trong đó, doanh nghiệp Việt Nam
xuất khẩu 13,7 tỷ USD (chiếm 11,4% kim ngạch xuất khẩu cả nước). Ở chiều ngược
lại, doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu xấp xỉ 17,6 tỷ USD hàng hóa xuất xứ từ
ASEAN
Kim ngạch thương mại giữa VN với các đối tác trong khu vực ASEAN giai đoạn
2004 - 2015 tăng trưởng đều qua các năm, Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam
và ASEAN tăng nhanh. Cụ thể trong năm 2005, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập
khẩu giữa Việt Nam-ASEAN chỉ đạt 14,91 tỷ USD trong khi đó con số này của năm
2008 là 29,77 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm 2005. Đến năm 2009, do chịu ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tổng trị giá giao thương giữa Việt Nam
với tất cả các quốc gia thành viên tổ chức liên kết khu vực này có sự giảm sút đáng kể,

mại luôn có một khoảng cách xa.

9


2.4 Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp VN khi gia nhập AEC
 Cơ hội:
− Một khu vực thị trường chung rộng lớn: với gần 100% hàng hóa được tự do lưu

chuyển trong nội khối
− Thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: môi trường kinh doanh được mở rộng
theo hướng minh bạch và bình đẳng hơn sẽ là điều kiện để thu hút đầu tư nước
ngoài, không những từ các nước ASEAN mà cả từ các nước ngoài khối, đặc biệt
là các nước đối tác thương mại của ASEAN vào Việt Nam để tham gia vào
chuỗi giá trị khu vực.
− Tạo ra sức ép, nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam: buộc các
DN Việt Nam phải tự cải tổ, thay đổi, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể
tồn tại và phát triển.
− Tạo ra khí thế và động lực cho DN:các DN Việt Nam dường như đã được thức
tỉnh để chuẩn bị tư thế và hành trang cho tiến trình hội nhập mạnh mẽ sắp tới.
 Thách thức:
− Thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh từ hàng hóa các nước ASEAN: với cơ
cấu sản phẩm tương đối giống nhau ở cả 10 nước ASEAN, việc mở cửa thị
trường sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các DN Việt Nam, đặc biệt là
các DN có sức cạnh tranh yếu và ở các ngành vốn được bảo hộ cao từ trước tới
nay.
− Trong tương lai, khi các mục tiêu AEC được hoàn tất, những sức ép từ các khía
cạnh khác sẽ xuất hiện, thách thức vì vậy sẽ mở rộng ra các vấn đề khác như:
+ Thách thức về dịch vụ: Nếu mục tiêu tự do lưu chuyển dịch vụ trong
AEC được hiện thực hóa, các DN Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ chắc

lượng điều thô và nhân điều chế biến. Được trồng chủ yếu ở 3 vùng trên thế giới là
Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Ấn Độ và Brazil là nước sản xuất điều quan trọng
chiếm thị phần xuất khẩu 60 % và 31 % lượng xuất khẩu trên thế giới.
Được biết tổng sản lượng điều thô toàn thế giới tại thời điểm từ 1,575 - 1,600
ngàn tấn, bao gồm Ấn Độ 400 - 500 ngàn tấn, chiếm 25 đến 30% tổng sản lượng. Tiếp
theo là Brazin, Việt Nam, các nước châu Phi như Bờ Biển Ngà, Tanzania, Guinea
Bissau, Benin, Nigeria, Mozambique, Senegal và Kenya – những quốc gia sản xuất
điều nổi tiếng; mỗi năm các nước Châu Phi cũng đóng góp khoảng 500 ngàn tấn điều
thô vào tổng sản lượng điều thế giới.
Sản xuất điều ở Việt Nam phát triển nhanh hơn thập niên qua, chiếm khoảng 6%
sản lượng của khu vực Châu Á, và trở thành nước đứng hàng thứ 3 trong sản xuất điều
ở Châu Á sau Ấn Độ và Indonesia. Trước kia Việt Nam xuất khẩu hạt điều thô cho Ấn
Độ để chế biến, nhưng sau đó ngành chế biến hạt phát triển với nhu cầu cho hạt thô
hiện nay khoảng 1,3 triệu tấn hạt/năm. Do đó hàng năm để phục vụ cho các nhà máy
chế biến, Việt Nam trở thành nước nhập khẩu hạt điều thô từ các nước Châu Phi và
Đông NamÁ.

Tình hình chế biến điều trên thế giới
Chế biến là một trong những khâu quan trọng của chuỗi giá trị hạt điều. Mỗi
quốc gia đều có những cách chế biến và công đoạn chế biến điều riêng. Trong khi ở
Braxin cơ giới hóa chế biến điều thì Ấn Độ vẫn phụ thuộc nhiều vào lao động thủ
công, thậm chí ở Ấn Độ, mỗi vùng khác nhau có phương pháp chế biến khác nhau. Ví
dụ: ở khu vực Mangalore của bang Karnataka sử dụng phương pháp hấp và những khu
vực Orissa và Andhra Pradesh thì sử dụng phương pháp chiên.
Sau khi chế biến, nhân điều được tách khỏi vỏ và được phân loại theo kích cỡ,
hình dáng, màu sắc. Nhân điều được phân thành 23 đến 26 loại (grades). Nhân nguyên
được bán như thực phẩm ăn nhanh (snack) trong khi nhân vỡ dọc thường được dùng
làm nguyên liệu chế biến các thực phẩm khác.
 Những nước chế biến điều lớn nhất thế giới:
Trong số những nước sản xuất điều, Ấn Độ, Braxin và Việt Nam tiếp tục là

Những nước nhập khẩu nhân điều lớn trên thế giới là Hoa Kỳ, Liên Minh châu
Âu (EU), Trung Quốc, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), Nhật Bản và Ả
Rập Xê út.
 Mùa vụ điều:





Ấn Độ và Việt Nam, mùa thu hoạch điều kéo dài từ tháng 3 đến tháng 6. Ở
Braxin, mùa vụ kéo dài từ tháng 11 năm nay đến tháng 2 năm sau.
Giá điều thô ở Ấn Độ từ 35 - 45 Rs/ kg. Điều thô từ các nước Châu Phi giá
khoảng 0,35 - 0,5 USD/ kg.
Giá nhân điều nhìn chung dao động khoảng 1,3 - 3 USD/ Lb.
Giá điều thô chịu ảnh hưởng bởi tình hình mùa vụ ở những khu vực cung cấp
lớn của thế giới bao gồm các nước châu Phi và các yếu tố khác như tỷ giá
ngoại tệ, thuế xuất khẩu cho điều nguyên liệu… Giá nhân chịu ảnh hưởng
lớn bởi giá điều nguyên liệu và nhu cầu tiêu dùng.

2.5.2

Tình hình ngành điều ở Việt Nam

12


Điều là cây công nghiệp quan trọng ở Việt Nam, năm 2012 diện tích điều cả nước
khoảng 362,6 ngàn ha, diện tích thu hoạch là 330,3 ha với tổng sản lượng 289,9 ngàn
tấn hạt điều nguyên liệu (Niên giám thống kê, 2013). Kim ngạch xuất khẩu nhân điều
năm 2012 của Việt Nam đạt trên 1,75 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay. (Vinacas,

khuyến khích trồng điều lấy hạt xuất khẩu. Năm 1975 Việt Nam mới có 500 ha điều
(nghiên cứu ứng dụng cho ngành lâm nghiệp), năm 1995 có 190.300 ha. Hiện nay, cả
nước có trên 465 cơ sở chế biến điều, trong đó 30 doanh nghiệp chế biến đạt tiêu
chuẩn HACCP, ISO 9001, ISO14000, ISO 22000, BRC. Năm 2013, các doanh nghiệp
thu mua hạt điều sản xuất trong nước 285.000 tấn, giá bình quân từ 20.000 đến 23.000
đồng/kg, đáp ứng 30% nhu cầu chế biến của các nhà máy, số còn lại nhập khẩu; nhìn

13


chung, chất lượng hạt điều nhập khẩu không đồng đều, nhiều lô hàng có chất lượng
kém so với điều trong nước (về tỷ lệ nhân thu hồi, cỡ hạt, độ ẩm, tạp chất).
3.2 Hiện trạng phát triển ngành điều nước ta

Trong khi nhiều mặt hàng nông sản còn đang “tìm đường”, thì ngay từ năm 2006
ngành điều VN đã thành “cường quốc” khi XK nhân điều lớn nhất thế giới, hội nhập
quốc tế sâu rộng với thị trường gồm trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Sau 26 năm tham gia XK (1988 - 2014), ngành điều Việt Nam khẳng định được
vị thế, chiếm lĩnh thị trường toàn cầu. Trong những năm qua, điều là một trong số ít
những ngành hàng nông sản chủ lực vẫn giữ được sự tăng trưởng tốt về XK. Năm
2015, trong bối cảnh nhiều mặt hàng gặp khó, thì ngành điều được dự báo sẽ đạt kim
ngạch XK kỷ lục 2,5 tỷ USD.
Vì thế sự rủi ro về mặt thị trường đối với hạt khô nói chung, hạt điều nói riêng là
không nhiều, Thị trường của hạt điều Việt Nam cũng đảm bảo khá tốt cho việc giảm
thiểu tính rủi ro.
Thị trường Mỹ hiện là lớn nhất của hạt điều Việt Nam nhưng cũng chỉ chiếm
31,5% về lượng và xấp xỉ 32% về giá trị XK điều của nước ta năm 2014. Ngoài Mỹ,
EU và Trung Quốc là 3 thị trường lớn nhất hiện nay, hạt điều Việt Nam đã được XK
tới trên 50 thị trường tại khắp các châu lục.
3.3 Tình hình sản xuất điều ở nước ta:

Châu Âu và Trung Đông.
 Trước khi gia nhập AEC:

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhân điều năm 2010 của Việt Nam ước đạt
trên 1 tỷ USD, ngành điều Việt Nam đã vượt cả 3 chỉ tiêu về sản lượng chế biến, sản
lượng nhân điều xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu (vượt từ 27% đến hơn 52%). Tuy
nhiên, các chỉ tiêu về diện tích cây điều, năng suất và sản lượng điều nguyên liệu cho
chế biến còn thấp (đạt từ 60% đến hơn 87% chỉ tiêu). Năm 2011 ngành điều sẽ chế
biến xuất khẩu khoảng 200 nghìn tấn điều nhân, thu về khoảng 1,5 tỷ USD, tăng
khoảng 32% về giá trị so với năm 2010.
Theo Hội đồng điều thế giới, sản lượng điều thô toàn cầu niên vụ 2014 – 2015
chỉ đạt khoảng 2,6 triệu tấn tương đương 619.000 tấn điều nhân (giảm 130.000 tấn so
với niên vụ 2013); trong khi đó, dự báo tiêu thụ nhân điều toàn cầu lên tới 650.000 tấn
(tăng 53.000 tấn).
Đồng thời, giá XK nhân điều theo chiều hướng đi lên, mạnh nhất là vào thời
điểm tháng 9 và 10/2014.
Theo báo cáo của Hiệp hội Điều Việt Nam, trong năm 2014, cả nước xuất khẩu
đạt khoảng 306.000 tấn nhân điều, tăng khoảng 17,4% so với năm 2013 và đạt kim
ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD, tăng 21,9% so với năm trước đó; cộng thêm các sản
phẩm phụ như dầu vỏ hạt điều và các sản phẩm giá trị gia tăng thì tổng kim ngạch xuất
khẩu đạt 2,2 tỷ USD.
 Khi gia nhập khối AEC:

Trong những năm gần đây, cây điều với sự bứt phá mạnh mẽ trên thị trường tiêu
thụ thế giới, mang về nguồn thu đáng kể cho cả người trồng và cơ sở chế biến.
Cây điều Việt Nam đã trở thành thương hiệu ở vị trí số 1 về kim ngạch xuất khẩu
trên thị trường thế giới.
Diện tích trồng điều cả nước đạt 450 nghìn ha với sản lượng thu hoạch 500 nghìn
tấn. Cùng với lượng điều thô nhập khẩu, Năm 2015, ngành điều vẫn có sự tăng trưởng
đầy ấn tượng, ngành điều Việt Nam phấn đấu xuất khẩu 350.000 tấn điều nhân với kim

2.272.000
472.000
1.483.000
426.000
7.430.000
2.942.000
460.000
11.288.000
59.720.000

Giá trị(USD)
154,268
14,580
9,436
52,148
2,297
15,486
3,661
10,129
3,211
47,033
20,171
2,867
74,752
410,037
Nguồn: Hiệp hội điều Việt Nam

Bảng 3.2 Số liệu XNK từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 5 năm 2014
Nước
Mỹ

16

Giá trị(USD)
168,548
19,923
5,997
58,450
2,297
19,155
3,161
11,835
68,807
3,781
25,869
13,816
88,722
490,361
Nguồn: Hiệp hội điều Việt Nam


Tuy nhiên, niềm vui lại không trọn vẹn, có thể thấy đà tăng xuất khẩu điều dựa
nhiều vào giá, vốn thường biến động. Doanh nghiệp còn bị động về nguồn nguyên
liệu. Hiện nay, năng lực chế biến của các nhà máy điều tại Việt Nam khoảng 1,3 triệu
tấn/năm, lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, nguyên liệu điều trong nước chỉ đạt khoảng
500.000 tấn/năm. Để phục vụ sản xuất xuất khẩu, các công ty đã phải nhập khẩu
nguyên liệu điều. Theo bà Nguyễn Thị Kim Nga – Chủ tịch Hội điều Bình Phước, hiện
sản lượng điều trong nước chỉ đủ cung ứng chưa đến 50% công suất chế biến của các
DN; phần lớn còn lại phải NK từ các nước Tây Phi, Đông Phi. Với tình hình mùa vụ
trên toàn cầu không thuận lợi, chắc chắn hạt điều VN vụ 2014 – 2015 sẽ là trọng điểm
để các nước hướng đến NK.

giá

Tổng

1

Hàng rau quả

-

332

-

-

-

102

2

Hạt điều

35

266

7.530


1.554

2

-2

-1

17


5

Hạt tiêu

20

178

8.879

-18

-7

-25

6

Gạo

Cao su

164

1.120

19

-44

-25

-

-

222

146

Tổng cộng

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Bảng 3.4: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam (theo một số mặt hàng
chính) sang Liên Bang Nga giai đoạn 2011-2015 (Nguồn: Tổng cục hải quan)

Mặt hàng

Năm

640,6

Hàng dệt, may

107,0

122,1

133,6

136,3

84,8

Hàng thủy sản

106,2

99,9

101,9

104,3

79,4

Giày dép các loại

62,0



10,4

7,1

6,9

Hạt điều

54,5

54,4

58,2

56,7

23,3

Cà phê

54,1

82,6

93,3

122,3

104,0


25,4

27,0

28,8

Gạo

21,5

7,5

41,7

10,5

19,2

Hàng hóa khác

159,5

223,8

310,2

321,9

205,8

Năm 2012

48.4

47.4

46.7

46.3

0.6

0.6

0.5

0.5

19

Năm 2013 Sơ bộ năm 2014


Xây dựng
Công nghiệp chế biến và
chế tạo
Giáo dục và đào tạo





















Các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh ngành nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh
mún, thiếu và chưa đồng bộ: Đất đai, lao động, vốn, khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ
tầng…
Sản xuất nông sản hàng hóa còn thiếu quy hoạch, thiếu chiến lược, mang tính
phong trào. Sản xuất còn mang tính thủ công, năng suất lao động thấp, hình
thức, mẫu mã sản phẩm chưa đẹp, chất lượng sản phẩm chưa cao, giá thành sản
xuất chưa cạnh tranh. Vấn đề “Được mùa, mất giá” vẫn lặp đi lặp lại.
Cơ cấu nông sản hàng hóa còn mất cân đối: Sản xuất nông sản ở Việt Nam còn
chú trọng khá nhiều vào cây lúa.
Hệ thống cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất và sau thu hoạch
còn lạc hậu
Sản xuất nông sản chưa quan tâm đến vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi
trường sinh thái và phát triển bền vững.



Quốc, Australia, New Zealand thông qua các hiệp định thương mại tự do riêng
giữa ASEAN và các nước.
− Cơ hội tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện
đại, tiên tiến vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản nhằm đảm bảo năng
suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, đẩy mạnh công nghệ sau thu hoạch, tập
trung phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ, nông nghiệp sinh
thái bền vững. Bên cạnh đó tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn
nhân lực cho ngành nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng
cao trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa.
3.6.2 Thách thức:
Chất lượng nông sản: Tình trạng nông dân lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
kháng sinh để bảo vệ cây trồng, vật nuôi trước những đợt bệnh, dịch hại,điểm
yếu về chất lượng sản phẩm sẽ là thách thức lớn cho thị trường nông sản Việt
Nam.
Sức ép hạ giá: Khi tham gia AEC cũng có nghĩa các thương lái nước ngoài có
quyền thu mua trực tiếp nông sản của Việt Nam ngay trên đồng ruộng. Khi đó,
doanh nghiệp các nước hầu như sẽ nắm được giá thành sản xuất, họ có thể điều
phối sản lượng nông sản, thậm chí diện tích gieo trồng của nông dân. Khi đó
nông dân dễ trở nên bị động trong bán hàng, bị thương lái nước ngoài ép giá, hạ
giá dẫn đến không có lợi nhuận.
Cạnh tranh gay gắt: Sau khi thành lập, AEC hình thành sẽ tạo ra thị trường
chung, không còn rào cản hàng hóa, dịch vụ, vốn... Hàng hoá ở các nước thành
viên ASEAN sẽ có mức thuế ưu đãi như nhau, khi đó sức cạnh tranh sẽ tập trung
vào chất lượng và giá bán của sản phẩm.
Hàng loạt các tiêu chuẩn đặt ra: Các tiêu chuẩn yêu cầu đối với nông sản về chất
lượng, thương hiệu, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểu dáng mẫu mã, nguồn gốc
xuất xứ, nhãn hiệu, bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, chống bán phá giá… hàng
loạt các vấn đề rất mới mà những nhà sản xuất nông sản của chúng ta (chủ yếu là
















đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của thị
trường trong nước và xuất khẩu.
Hoàn thiện cơ chế chính sách, cụ thể hóa và đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các
chính sách cho phát triển: chính sách đất đai, vốn, khoa học kỹ thuật, tiêu thụ nông
sản, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng; liên kết, hợp tác.
Xây dựng thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, phát minh, sáng chế; chính sách xuất
khẩu nông sản; hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong xuất - nhập khẩu.
Phát triển thị trường theo hướng: Đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong
nước, tìm kiếm thị trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực và thế giới. Cần
xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường cả xuất khẩu lẫn tiêu thụ nội địa. Cần
nắm bắt thông tin chính xác về nhu cầu của thị trường và khả năng cạnh tranh của
hàng hóa để làm cơ sở cho việc sản xuất.
Phát triển mô hình liên kết “4 nhà”.
Phát triển công nghiệp sản xuất các tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất (máy móc,
thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệt thực vật, thức ăn gia súc...); phát triển các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status